Vua Malaysia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quốc vương Malaysia
Yang di-Pertuan Agong
Huy hiệu quốc vương Malaysia.JPG
Huy hiệu của Quốc vương Malaysia
Người đứng đầu nhà nước
Giai đoạn 31 tháng 08 năm 1957nay
Thông tin chung
Quốc gia Flag of Malaysia.svg Malaysia

Quốc vương Malaysia (tiếng Mã Lai: Yang di-Pertuan Agong, tiếng Anh: Malaysia King) là người đứng đầu nhà nước Liên bang Malaysia. Quy định quốc vương đứng đầu Liên bang được bắt đầu từ ngày 31 tháng 8 năm 1957, thời điểm Malaysia giành độc lập. Các quốc vương được suy tôn theo hình thức bầu chọn và việc bầu chọn ra quốc vương được diễn ra 5 năm một lần và đây cũng chính là nhiệm kì của một vị Yang di-Pertuan Agong. Các Yang di-Pertuan Agong được bầu chọn từ các Sultan của 9 bang hồi giáo trên Bán đảo Mã Lai gồm Johor, Kedah, Kelantan, Negeri Sembilan, Pahang, Perak, Perlis, SelangorTerengganu. Các bang có người đứng đầu là thống đốc không có quyền ứng cử.
Các Yang di-Pertuan Agong chủ yếu có vai trò về nghi lễ, quyền hạn thật sự nằm trong tay Hội đồng Bộ trưởng Liên Bang, đứng đầu là Thủ tướng.

Hiện tại, Yang di-Pertuan Agong là Sultan Abdul Halim của Kedah, ông là quốc vương Liên bang thứ 14, trị vì bắt đầu từ 13 tháng 12 năm 2011.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957, Malaysia giành được độc lập, Hội đồng lâm thời đã họp bàn và chọn ra người đứng đầu nhà nước. Các ứng cử viên gồm:

  • Sultan Abu Bakar Riayatuddin Al-Muadzam Shah ibni Almarhum Sultan Abdullah Al-Mutassim Billah Shah (Sultan của Pahang, 1932-1974);
  • Tuanku Abdul Rahman ibni Tuanku Muhammad Almarhum (Người thừa kế của Negeri Sembilan, 1933-1960);
  • Sultan Hisamuddin Alam Shah Al-Haj ibni Almarhum Sultan Alaeddin Sulaiman Shah (Sultan của Selangor, 1938-1942, 1945-1960);
  • Sultan Badlishah ibni Almarhum Sultan Abdul Halim Hamid Shah (Sultan của Kedah, 1943-1958);
  • Sultan Ibrahim Petra ibni Almarhum Sultan Muhammad IV (Sultan của Kelantan, 1944-1960);
  • Tuanku Syed Putra ibni Almarhum Syed Hassan Jamalullail (Người thừa kế của Perlis, 1945-2000);
  • Sultan Ismail Nasiruddin Shah ibni Almarhum Sultan Zainal Abidin III (Sultan của Terengganu, 1945-1979);
  • Sultan Yusuf Izzudin Shah ibni Almarhum Sultan Abdul Jalil Nasruddin (Sultan của Perak, 1948-1963)
  • Tuanku Ismail ibni Sultan Ibrahim (Thái tử thừa kế của Johor, sau làm Sultan giai đoạn 1959-1981).

Cuối cùng, Abdul Rahman ibni Tuanku Muhammad Almarhum - Người thừa kế của Negeri Sembilan đã trở thành Yang di-Pertuan Agong đầu tiên.[2]

Danh sách các Yang di-Pertuan Agong[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên Bang Nhiêm kì Sinh Chết
1 Tuanku Abdul Rahman Cờ của Negeri Sembilan Negeri Sembilan 31 August 1957 – 1 April 1960 24 August 1895 1 April 1960
2 Sultan Hisamuddin Alam Shah Cờ của Selangor Selangor 14 April 1960 – 1 September 1960 13 May 1898 1 September 1960
3 Tuanku Syed Putra Cờ của Perlis Perlis 21 September 1960 – 20 September 1965 25 November 1920 16 April 2000
4 Sultan Ismail Nasiruddin Shah Cờ của Terengganu Terengganu 21 September 1965 – 20 September 1970 24 January 1907 20 September 1979
5 Tuanku Abdul Halim Cờ của Kedah Kedah 21 September 1970  – 20 September 1975 28 November 1927
6 Sultan Yahya Petra Cờ của Kelantan Kelantan 21 September 1975 – 29 March 1979 10 December 1917 29 March 1979
7 Sultan Ahmad Shah Al-Mustain Billah Cờ của Pahang Pahang 29 March 1979 – 25 April 1984 24 October 1930
8 ISultan Iskandar Cờ của Johor Johor 26 April 1984 – 25 April 1989 8 April 1932 22 January 2010
9 Sultan Azlan Muhibbuddin Shah Cờ của Perak Perak 26 April 1989 – 25 April 1994 19 April 1928
10 Tuanku Jaafar Cờ của Negeri Sembilan Negeri Sembilan 26 April 1994 – 25 April 1999 19 July 1922 27 December 2008
11 Sultan Salahuddin Abdul Aziz Cờ của Selangor Selangor 26 April 1999 – 21 November 2001 8 March 1926 21 November 2001
12 Tuanku Syed Sirajuddin Cờ của Perlis Perlis 13 December 2001 – 12 December 2006 17 May 1943
13 Tuanku Mizan Zainal Abidin Cờ của Terengganu Terengganu 13 December 2006 – 12 December 2011 22 January 1962
14 Tuanku Abdul Halim Cờ của Kedah Kedah *13 December 2011 28 November 1927

Ứng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Istana Negara ở Jalan Istana - nơi bầu cử từ 1957 đến 2011

Yang di-Pertuan Agong được bầu với thời gian năm năm một lần với các ứng viên là chín người cai trị của các bang của Malaysia (chín trong số mười ba tiểu bang của Malaysia có người cai trị là các quốc vương Hồi giáo). Hội nghị bầu cử gọi là Majlis Raja -raja[3]
Các ứng cử viên tham gia gồm:

Bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp quy định:

  • Chỉ có một người cai trị của hoàng gia mới có thể được bầu.
  • Chỉ có những người cai trị của hoàng gia mới có thể bỏ phiếu.

Người ứng cử đủ điều kiện trên nhưng không được ứng cử trở thành Yang di-Pertuan Agong nếu:

  • Là người ở tuổi vị thành niên.
  • Không muốn được bầu thành Yang di-Pertuan Agong.
Mũ miện của Quốc vương nhà nước Liên bang

Cuộc bầu cử được thực hiện bởi một cuộc bỏ phiếu kín. Các lá phiếu được sử dụng không được đánh số, nhưng đánh dấu bằng bút và mực in tương tự, và được đưa vào một thùng phiếu. Chỉ các thành viên Hội đồng nhà nước mới được tham gia bầu cử. Quá trình bầu cử được hoàn thành chỉ sau khi Hội đồng chấp nhận ứng viên thành một Yang di-Pertuan Agong mới. Sau đó Hội nghị tuyên bố Yang di-Pertuan Agong nắm giữ chức vụ một nhiệm kỳ năm năm. Các lá phiếu bị hủy trong sự hiện diện của các Sultan ngay sau khi kết quả của cuộc bầu cử được công bố.[4] Yang di-Pertuan Agong sẽ chỉ định thủ tướng như một quan nhiếp chính trong suốt thời gian nhiệm kỳ năm năm của mình cho nhà nước. Thông thường, thủ tướng là một người thân cận của quốc vương mới. Thủ tướng đóng vai trò là người đứng đầu nhà nước ở tất cả các lĩnh vực ngoại trừ vai trò của người đứng đầu Hồi giáo của Yang di-Pertuan Agong.[5]

Chú thích - tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]