WLW

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

WLWdấu hiệu gọi (callsign) của một đài radio nói chuyện dành riêng (clear channel) tại Cincinnati, Ohio (Hoa Kỳ), Clear Channel Communications làm chủ. Đài có tên hiệu NewsRadio 700 WLW. Nó phát thanh ở 38 tiểu bang[1] trên làn sóng AM 700 kHz, và những chương trình của nó được phát khắp nước trên đài 173 của dịch vụ radio vệ tinh XM Satellite Radio. WLW cũng phát thanh số theo dạng HD Radio. Các phòng thâu của WLW nằm trong tòa nhà Towers of Kenwood dọc đường 71 ở khu Kenwood, Thị trấn Sycamore, trong khi antenMason, gần Đài tiếp âm Bethany của VOA trước đây.

Ngày nay, WLW phát thanh với công suất 50 kW do chính phủ liên bang hạn chế. Tuy nhiên, đài này nổi tiếng vì trước đây là đài radio đầu tiên trên thế giới – và đài duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ – được phép phát thanh mạnh tới 500 kW. Với công suất lớn như thế, WLW từng là một trong những đài quan trọng nhất ở nước Mỹ.[2]

Các chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Gần hết mọi chương trình trên WLW là chương trình nói chuyện hoặc tin tức được sản xuất ở văn phòng của đài. WLW là đài nguồn gốc (flagship) của ba chương trình được phân phối khắp nước:

McConnell và Cunningham cũng dẫn một số chương trình ban ngày trên đài này. America's Trucking Network do Clear Channel Syndication phân phối, còn hai chương trình kia do Premiere Radio Networks phân phối.

WLW là đài nguồn gốc của các cuộc đấu bóng chày của Cincinnati Reds và một trong hai đài nguồn gốc của đội bóng bầu dục Mỹ Cincinnati Bengals. Đài này cũng phát các cuộc đấu bóng rổ của Cincinnati BearcatsXavier Musketeers, hai đội trường đại học. WLW có văn phòng tin tức địa phương 24-giờ và cũng liên kết với mạng tin tức ABC News Radio và đài truyền hình WLWT của Hearst-Argyle, ngày xưa cùng chủ với WLW.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Máy radio Crosley

WLW do Powel Crosley Jr. thành lập. Crosley đã làm chủ trong nhiều nghề, bao gồm hãng xe Crosley và hãng tủ lạnh. Có thời gian ông làm chủ câu lạc bộ bóng chày Cincinnati Reds và đội này chơi ở Sân Crosley. Powell có tính sáng kiến và sáng tạo một mình hoặc cho vốn phát triển nhiều tiến bộ kỹ thuật trong mọi nghề của ông. Sản phẩm mới nhất của ông là máy radio; để bán chạy các radio, ông có ý định xây dựng đài radio AM để bắt. Tháng 7 năm 1921, Crosley bắt đầu thử trò phát thanh với công suất 20 watt ở nhà ông ở khu College Hill. Ông phát bài nhạc "Song of India" suốt dùng dấu hiệu gọi "8CR".[2]

Ngày 22 tháng 3 năm 1922, Crosley và công ty Crosley Broadcasting Corporation của ông bắt đầu phát thanh với công suất 50 W dùng dấu hiệu "WLW". Ngày 4 tháng 10 năm đó, WLW trở thành đài đầu tiên phát thanh tại 50 kW thường xuyên, trên làn sóng 700 kHz.[2][3] WLW phát các chương trình dàn nhạc, kịch, và nhạc đồng quê tức thời. Ban đầu đài này không quảng cáo một tí nào, tại vì tiền lời đến từ số radio được bán.[4] Năm 1924, WLW gia nhập mạng Red Network (hai năm sau trở thành NBC).[5]

Đài của Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Mười năm sau, WLW thử phát thanh với công suất 500 kW dưới dấu hiệu gọi thí nghiệm "W8XO". RCA, General Electric, và Westinghouse xây các máy móc đặc biệt cho đài này. Không lâu, Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) cho phép tăng lên WLW vào ban đêm. Ngày 2 tháng 5, Tổng thống Franklin D. Roosevelt bấm nút tượng trưng trong Nhà Trắng để bật lên làn sóng 500 kW chính thức của WLW.[6] Theo WLW, đài có thể tới được "miền nam Canada và tất cả Hoa Kỳ Lục địa, cả miền Đông Bắc cả miền Nam, chỉ ngoại trừ miền Tây ở vùng chung quanh Billings, Mont., tới Jamestown, N. D."[7] Đôi khi có người nghe từ AlaskaMỹ Latinh.[4]

Với công suất và khu vực phát thanh lớn như thế, WLW bắt đầu tự xưng "Đài của Quốc gia" (tiếng Anh: "The Nation's Station"). Đài này đòi được tiền quảng cáo bằng giá với những đài lớn và nổi tiếng nhất của NBC, như WEAF (nay là WFAN) và WABC (nay là WABC). Năm 1933, WLW bắt đầu sản xuất chương trình radio Ma Perkins (Bà Perkins). Ma Perkins sáng lập loại chương trình "soap opera" (kịch xà bông), được gọi vậy vì Proctor & Gamble quảng cáo nhãn hiệu xà bông giặt Oxydol trong chương trình này.[4] Vào năm 1934, WLW và ba "siêu đài" khác (WGN, WOR, và WXYZ) sáng lập mạng Mutual Broadcasting System để cạnh tranh với NBC.[5] Vào năm 1936, WLW phát các chương trình của ba mạng lớn: NBC Red, NBC Blue (về sau là ABC), và Mutual.[8]

Tháp phát thanh hình thoi của WLW ban đêm

Đài mạnh này cần tháp radio mới. Năm 1933, Công ty Blaw-Knox xây dựng tháp radio rất cao cho WLW ở Mason. Mới đầu nó cao 831 foot (253 m); tuy nhiên, WLW phải cắt bớt nó xuống 747 foot (228 m), vì sóng trờisóng đất của đài triệt tiêu nhau ở đường tròn chạy xuyên qua Columbus, Indianapolis, Indiana, Lexington, Kentucky, và Louisville, Kentucky.[6] Tháp hình thoi này có thiết kế đặc biệt: nó có gốc nhọn và tám dây chằng (guy wire) dẫn từ giữa tháp xuống đất. Tháp WLW là một trong vài tháp kiểu Blaw-Knox ở nước Mỹ còn đứng. Vào thời này, máy phát thanh sử dụng mạch khuếch đại thí nghiệm rất lớn, có cả hồ và vòi nước để khỏi bị nóng.[9]

Vì mạnh hơn tất cả mọi đài sóng dài trên thế giới, nhiều đài chung quanh nước Mỹ và Canada, nhất là CFRB (690 kHz) ở Toronto, kêu bị WLW áp đảo. Nhiều người ở gần tháp phát thanh kể chuyện điện dao động đồng thời với các đỉnh biến điệu của làn sóng. Nhiều khi có cung lửa điện ở vùng gần.[10] Nhiều người cho rằng đài này mạnh đến độ có người bắt được chương trình WLW dùng hàng rào dây thép gai hoặc nghe nó khi nằm trên giường nệm lò xo,[2][8] giống như đài KDKAPittsburgh, Pennsylvania. Vì các vấn đề này, FCC cuối cùng rút giấy phép thí nghiệm phát thanh tại 500 kW, và tín hiệu này ngừng vào năm 1939.[11] Trong Đệ nhị thế chiến, WLW tăng lên công suất tới 500 kW vài lần để phát những chương trình đặc biệt cho quân đội Mỹ ở châu Âu. Ngoài ra, chính phủ Kennedy sử dụng máy móc 500 kW để phát thanh tới Cuba.

Công ty Crosley cũng phát thanh trên làn sóng ngắn từ năm 1937 cho đến đầu Đệ nhị thế chiến, khi chính phủ liên bang tiếp quản các đài sóng ngắn để phát những chương trình tin tức về sau có tên VOA. Crosley hoạt động tất cả 5 đài sóng ngắn, bao gồm "WLWU", "WLWK", và "WLWO", với các công suất từ 75 tới 200 kW.[3]

Năm 1942, Crosley chuyển các phòng thâu từ trụ sở Crosley Radio Corporation ở khu Camp Washington đến tòa nhà Quảng trường Crosley xuống phố, về trước là nhà họp số 5 của đoàn Elks.[12] Đài truyền hình đầu tiên của Crosley, WLWT (hồi đó được gọi "WLW-T"), được thành lập ở cùng tòa nhà của WLW. Năm 1955, WLW và WLWT trở thành đài radio và đài truyền hình đầu tiên có máy ra đa để dự báo thời tiết.[13]

Thời thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, Avco Corporation mua Crosley Broadcasting Corporation. Vào thập niên 1960, Crosley Broadcasting Corporation lấy tên mới của công ty mẹ, Avco. Avco Broadcasting Corporation làm chủ WLW cho đến vào khoảng 1975. Từ lúc đó cho đến cuối thế kỷ, WLW đổi chủ nhiều lần. Queen City Communications và sau đó Mariner Communications mua đài này. Các phòng thâu WLW cũng chuyển qua tòa nhà Số 3, Phía tây Đường số 4, nay là Tháp Ngân hàng National City ở trung tâm Cincinnati.

Cho đến những năm 1980, WLW vẫn còn chơi nhiều giờ nhạc MOR (middle of the road) và từ từ thua các đài FM chơi những kiểu nhạc khác. Năm 1983, Randy Michaels đồng sáng lập Seven Hills Broadcasting và mua WLW.[14] Tại Seven Hills, ông cắt bớt nhạc và đổi WLW qua dạng nói chuyện. Ba năm sau, Seven Hills sáp nhập với Jacor Communications.[2]

Từ 1989 đến 2005, WLW ở Mount Adams, một khu trên một trong những đồi chung quanh phố. WLW chia sẻ văn phòng với hai đài cùng chủ, 102.7 WEBN và 550 WLWA (nay là WKRC). Năm 1995, Jacor chuyển văn phòng của các đài ra khỏi tòa nhà Mount Adams. Năm 1999, Jacor sáp nhập với Clear Channel Communications. Một năm sau, kỹ sư chính của WLW bật lên máy phát Western Electric thời 1927 của đài để mở đầu thế kỷ 21.[9]

Vào 2005, các đài nói chuyện của Clear Channel, thay thế các chương trình tin tức của ABC News Radio với Fox News Radio.[15] Tuy nhiên, ngày 26 tháng 6 năm 2006, ABC News Radio trở lại WLW, trong khi WKRC lấy Fox News Radio và WCKY lấy CBS Radio.[16] Mặc dù các thay đổi, nhà bình luận Paul Harvey của ABC Radio tiếp tục nói trên WLW,[15] cho đến tháng 4 năm 2008.[17]

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

WLW khởi đầu sự nghiệp của nhiều diễn viên, nhạc sĩ, ca sĩ, người bình luận thể thao, và nhà bình luận radio, nhất là từ thời radio tức thời. Đây là danh sách những người nổi tiếng ở WLW xưa và nay:[2]

Người bình luận thể thao
Người sản xuất

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kiesewetter, John (16 tháng 2 năm 2001). “WLW host used racial slur”. The Cincinnati Enquirer (bằng tiếng Anh) (Công ty Gannett). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  2. ^ a ă â b c d Kiesewetter, John (17 tháng 3 năm 2002). “WLW 700 turns 80”. The Cincinnati Enquirer (bằng tiếng Anh) (Công ty Gannett). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  3. ^ a ă “WLW's Big-Arse Transmitter”. 14 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ a ă â Schlipp, John (tháng 12 năm 2007). “Crosley and WLW: a broadcasting legacy in review”. Journal of Broadcasting & Electronic Media (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  5. ^ a ă McLeod, Elizabeth (28 tháng 5 năm 2002). “Re: WLW and NBC”. Danh sách thư (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  6. ^ a ă Fybush, Scott (9 tháng 1 năm 2002). “The Big One: Cincinnati's Legendary WLW”. Fybush.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  7. ^ “Stay Refused, WLW Returns to 50 kW”. Broadcasting (bằng tiếng Anh). 1 tháng 3 năm 1939. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. “... [James D. Shouse] said, '... our nighttime half millivolt line will include Southern Canada and all of the Continental United States, Northeast and South, and is affected in the West only by retraction about Billings, Mont., to Jamestown, N. D., WLW is thus established more than ever as the greatest buy in radio.'” 
  8. ^ a ă Price, John (1979). “The Nation's Station”. History of WLW, Cincinnati (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  9. ^ a ă Hawkins, Jim. “Jim Hawkins' WLW Transmitter Page” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  10. ^ Reiman, Dick (17 tháng 12 năm 1999). “History of Station WLW's 500kW Transmitter” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  11. ^ “Decision and Order in Re Application of the Crosley Radio Corporation (WLW) for Extension of Special Temporary Experimental Authorization” (PDF) (bằng tiếng Anh). Ủy ban Truyền thông Liên bang. 25 tháng 1 năm 1935. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009. 
  12. ^ Kiesewetter, John (6 tháng 6 năm 1999). “This is Crosley Square … Signing off”. The Cincinnati Enquirer (bằng tiếng Anh) (Công ty Gannett). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  13. ^ “WLW Radio & Television”. Cincinnativiews (bằng tiếng Anh). 3 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2009. 
  14. ^ “Randy Michaels”. Radio Years (bằng tiếng Anh). RadioYears.com. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
  15. ^ a ă Bird, Rick (5 tháng 8 năm 2005). “WLW Switches to Fox Radio News”. The Cincinnati Post (bằng tiếng Anh) (Công ty E. W. Scripps). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  16. ^ “WLW Comes Home To ABC News”. Radio Monitor (bằng tiếng Anh). 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
  17. ^ Kieswetter, John (7 tháng 4 năm 2008). “WLW-AM wakes up Earl Pitts”. The Cincinnati Enquirer (bằng tiếng Anh) (Công ty Gannett). tr. D7. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. “Gary Burbank's comic redneck commentaries return to WLW-AM (700) Monday at 6:25 a.m. weekdays, replacing Paul Harvey's 'The Rest Of The Story.' Pitts has not been heard since Burbank retired Dec. 31 after 27 years. (WLW-AM is dropping Harvey's three daily reports.)”  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 39°21′11″B 84°19′30″T / 39,35306°B 84,325°T / 39.35306; -84.32500