What a Girl Wants

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"What a Girl Wants"
Đĩa đơn của Christina Aguilera
từ album Christina Aguilera
Phát hành 28 tháng 11, 1999
Định dạng đĩa CD
Thu âm 1998 - 1999
Thể loại Dance-pop
Thời lượng 3:33
Hãng đĩa RCA
Sáng tác Shelly Peiken
Guy Roche
Sản xuất Guy Roche
Thứ tự đĩa đơn của Christina Aguilera
"Genie in a Bottle"
(1999)
"What a Girls Wants"
(1999)
"The Christmas Song"
(2000)

"What a Girls Wants" (tạm dịch: "Những gì cô gái muốn") là đĩa đơn thứ hai trích từ album đầu tay Christina Aguilera của Christina Aguilera. Bài hát tiếp nối thành công của "Genie in a Bottle" khi đạt vị trí #1 ở Mỹ và lọt vào Top 5 tại Anh, ÚcCanada. Bài hát được biết nhiều đến với vai trò xác lập chỗ đứng của Aguilera trong nền công nghiệp âm nhạc. Nhiều nhà phê bình âm nhạc đã từng cho rằng Aguilera chỉ là một ca sĩ dạng one-hit wonder, nổi tiếng nhờ một bài rồi tắt ngóm, nhưng "What a Girls Wants" đã chứng minh được điều họ từng nhận xét là hoàn toàn sai lầm bởi Aguilera hoàn toàn không phải như họ nghĩ. Không những thế, bài hát còn đem về cho Aguilera một đề cử Grammy 2001 ở hạng mục Nữ ca sĩ trình diễn Pop xuất sắc nhất.

Nhạc lý[sửa | sửa mã nguồn]

"What a Girl Wants" bao gồm hai phiên bản khác nhau đều được viết bởi Shelly Peiken và Guy Roche. Cũng như "Genie in a Bottle", bản gốc "What a Girl Wants" chỉ là một bản teen pop thường thấy có giai điệu catchy và được xem là bài hát được viết ở nốt thấp nhất so với những bài hát Aguilera thể hiện sau này. Nhưng ở bản mới, bài hát đã được phối khí lại với tiết tấu nhanh hơn, lời bài hát và cách điều tiết giọng hát cũng khác hơn so với bản gốc. Tuy nhiên, ở cả hai bản đều không bộc lộ hết khả năng giọng hát của Aguilera cho nên cô thường thay đổi tempo và trình diễn A cappella, reggae hoặc hát gió bài hát này trong các tour diễn để có cơ hội khẳng định giọng hát của mình.

Nội dung bài hát nhận được phản hồi tốt từ phía các nhà phê bình âm nhạc lẫn khán giả bởi trong ca từ có phần lãng mạn, bay bổng và hồn nhiên hơn so với các mối quan hệ giới tính đế cập trong "Genie in a Bottle". Bài hát như một lời cảm ơn đến người bạn trai luôn đứng bên cạnh và không từ bỏ Aguilera khi cô cảm thấy mệt mỏi và cần thời gian để thở. Chính lúc ấy, người bạn trai luôn biết chính xác Aguilera muốn gì và cần gì để làm hài lòng cô. Như một cảm xúc chân thành ập đến, Aguilera bộc lộ lòng biết ơn của mình với chàng trai bằng những câu hát dễ thương: "What a girl wants? What a girl needs? Whatever makes me happy and sets you free. And I'm thanking you for knowing exactly...".

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Thật sự hãng RCA Records không muốn trích "What a Girl Wants" làm đĩa đơn thứ hai, cái họ muốn trích là "So Emotional". Nhưng theo Aguilera thì đó là một sự lựa chọn sai lầm bởi cô sẽ có nguy cơ trở thành một one-hit wonder nếu chọn "So Emotional". Aguilera đã đấu tranh rất dữ dội với RCA mới có thể bảo vệ được chính kiến của mình. Thế nhưng sau khi được hãng đĩa chấp thuận, Aguilera vẫn có cảm giác không an toàn nên đã quyết định thu âm lại "What a Girl Wants". Aguilera cũng quyết định đưa bản thu âm mới này vào album thay vì bản cũ và cho phát sóng thường xuyên trên radio cũng như trên kênh MTV.

Và đã đúng như mong đợi, "What a Girl Wants" cũng thành công vang dội không thua kém "Genie in a Bottle" khi nhanh chóng vọt lên vị trí #1 trên Billboard Hot 100 2 tuần liên tiếp và đều đứng đầu các bảng xếp hạng thuộc hệ thống Billboard. Tuy nhiên, bài hát lại ít thành công hơn ở các quốc gia khác khi chỉ lọt vào Top 5 tại Úc, Anh, Canada và Top 20 tại châu Âu.

Video clip[sửa | sửa mã nguồn]

Aguilera trong video "What a Girl Wants"

Video clip của "What a Girls Wants" được đạo diễn bởi Diane Martel, người từng thực hiện video đậm chất tuổi teen "Genie in a Bottle" cho Aguilera. Video rất thành công khi đem về cho Aguilera đến năm đề cử tại lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2000 ở các hạng mục Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất, Video xuất sắc nhất của ca sĩ nữ, Video pop xuất sắc nhất, Video có vũ đạo đẹp nhấtVideo được khán giả bình chọn nhiều nhất.

Khung cảnh trong video diễn ra chủ yếu tại một phòng sinh hoạt câu lạc bộ vào giờ nghỉ giải lao. Aguilera xuất hiện trong video vẫn chủ yếu trong trang phục quần rộng và áo ôm - loại trang phục phổ biến của các ca sĩ teen pop thời bấy giờ. Video bắt đầu với một căn phòng sinh hoạt đầy nam sinh rồi Aguilera xuất hiện và cùng với các nữ sinh khác bước vào phòng. Aguilera tiến đến bên bạn trai của mình bảo anh ta nhắm mắt lại để tạo sự bất ngờ cho màn trình diễn của cô và các bạn. Sau khi chuẩn bị xong, Aguilera bắt đầu hát và nhảy cùng các bạn. Trong video còn có cảnh Aguilera ngồi trên thùng bass hát và cảnh hóa thân thành một nàng công chúa với mái tóc xoăn dài ở đoạn bridge rất dễ thương. Video kết thúc với cảnh Aguilera và bạn trai ôm nhau hạnh phúc sau màn trình diễn tuyệt vời.

Xếp hạng và chứng nhận doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2000) Vị trí
cao nhất
Flag of Australia.svg Australian Singles Chart[1] 5
Flag of Austria.svg Austrian Singles Chart[2] 22
Flag of Belgium (civil).svg Belgian Ultratop 50 (Flanders)[3] 8
Flag of Belgium (civil).svg Belgian Ultratop 40 (Wallonia)[4] 16
Flag of Canada.svg Canadian Hot 100[5] 5
Flag of the Netherlands.svg Dutch Top 40[6] 14
Flag of Finland (bordered).svg Finnish Singles Chart[7] 12
Flag of France.svg French Singles Chart[8] 11
Flag of New Zealand.svg New Zealand Singles Chart[9] 1
Flag of Spain.svg Spanish Singles Chart[10] 1
Flag of Sweden.svg Swedish Singles Chart[11] 24
Flag of Switzerland.svg Swiss Singles Chart[12] 17
Flag of the United Kingdom.svg UK Singles Chart[13] 3
Flag of the United States.svg Billboard Hot 100[14] 1
Flag of the United States.svg Pop Songs[15] 1
Flag of the United States.svg Hot Dance Club Songs[16] 18
Flag of the United States.svg Adult Pop Songs[17] 31

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2000) Vị trí
Flag of Australia.svg Australian Singles Chart[18] 74
Flag of the Netherlands.svg Dutch Singles Chart[19] 98
Flag of Switzerland.svg Swiss Singles Chart[20] 84
Flag of the United States.svg Billboard Hot 100[21] 19

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận
Flag of Australia.svg Úc[22] Vàng Vàng Vàng
Flag of Belgium (civil).svg Bỉ[23] Vàng Vàng Vàng
Flag of Sweden.svg Thụy Điển[24] Vàng Vàng Vàng
Flag of the United States.svg Mỹ[25] Vàng Vàng Vàng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants” (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  3. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  4. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  5. ^ “Christina Aguilera Album & Song Chart History (Canadian Hot 100)”. Prometheus Global Media. Canadian Hot 100. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Dutch Top 40 (bằng tiếng Hà Lan). Radio 538. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  7. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. YLE. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  8. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  9. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  10. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Productores de Música de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Hung Medien. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  11. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Sverigetopplistan. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  12. ^ “Christina Aguilera – What a Girls Wants”. Swiss Charts (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  13. ^ “Chart Stats – Christina Aguilera 'What a Girl Wants'”. The Official UK Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011. 
  14. ^ “Christina Aguilera Album & Song Chart History”. Prometheus Global Media. Billboard Hot 100. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  15. ^ “Christina Aguilera Album & Song Chart History (Pop Songs)”. Prometheus Global Media. US Pop Songs. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  16. ^ “Christina Aguilera Album & Song Chart History (Hot Dance Club Songs)”. Prometheus Global Media. US Hot Dance Club Songs. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  17. ^ “Christina Aguilera Album & Song Chart History (Adult Pop Songs)”. Prometheus Global Media. US Adult Pop Songs. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  18. ^ “ARIA Chart – End of Year”. ARIA. 2000. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2008. 
  19. ^ “Dutch Chart Portal”. Dutch Top 40 (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  20. ^ “Schweizer Jahreshitparade 2000”. Swiss Charts (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  21. ^ http://longboredsurfer.com/charts/2000.php
  22. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2000 Singles”. ARIA. 2000. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2012. 
  23. ^ “Ultratop Awards 2000”. Ultratop. 2000. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên swecert
  25. ^ “RIAA – Recording Industy of America "What a Girl Wants"”. RIAA. 2000. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Smooth" của Santana
Đĩa đơn đứng nhất tại Mỹ
15 tháng 1 - 22 tháng 1 1999
Kế nhiệm:
"I Knew I Loved You" của Savage Garden
Tiền nhiệm:
"Born to Make You Happy" của Britney Spears
Đĩa đơn đứng nhất bảng xếp hạng thế giới
23 tháng 10 - 4 tháng 12 1999
Kế nhiệm:
"Show Me the Meaning of Being Lonely" của Backstreet Boys