William II của Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
William II
King William II vẽ bởi Jan Baptist van der Hulst.
King William II vẽ bởi Jan Baptist van der Hulst.
Vua của Hà Lan
Đại công tước Luxembourg
Công tước Limburg
Tại vị  1840 - 1849
Tiền nhiệm William I
Kế nhiệm William III
Phối ngẫu Anna Pavlovna của Nga
Hậu duệ
William III của Hà Lan
Prince Alexander
Prince Henry
Prince Ernst Casimir
Sophie, Grand Duchess of Saxe-Weimar-Eisenach
Hoàng tộc Nhà Orange-Nassau
Thân phụ William I của Hà Lan
Thân mẫu Wilhelmine of Prussia
Tôn giáo Dutch Reformed

William II (Willem Frederik George Lodewijk van Oranje-Nassau) (06 tháng 12 năm 1792 - 17 tháng 3 năm 1849) là vua của Hà Lan, Đại công tước của Luxembourg, và Công tước của Limburg từ ngày 07 tháng 10 năm 1840 cho đến khi ông qua đời vào năm 1849, kế vị bởi William III.

Tuổi trẻ và giáo dục[sửa]

Willem Frederik George Lodewijk sinh ngày ngày 06 tháng 12 năm 1792 tại Den Haag. Ông là con trai cả của vua William I của Hà Lan và Wilhelmine của nước Phổ. Ông bà ngoại của ông là vua Frederick William II của Phổ và người vợ thứ hai Frederika Louisa của Hesse-Darmstadt.

Khi William lên ba tuổi, ông và gia đình ông chạy sang Anh sau khi quân đồng minh Cộng hòa Hanover-Anh đồng minh rời nước cộng hòa và đội quân Pháp tiến vào gia nhập những người yêu nước chống dòng họ Orange. William đã trải qua tuổi trẻ của mình ở Berlin tại triều đình Phổ. Ở đó, ông đã đi theo một nền giáo dục quân sự và phục vụ trong quân đội Phổ. Sau đó ông học tại Đại học Oxford.

Quân ngũ[sửa]

William II
vẽ bởi Nicaise de Keyser

Ông vào quân đội Anh, và vào năm 1811, làm aide-de-camp cho Arthur Wellesley, Công tước xứ Wellington 1, đã tham gia vào nhiều chiến dịch của Chiến tranh bán đảo. Ông là trung tá trong quân đội Anh vào ngày 11 tháng sáu năm 1811[1]đại tá vào ngày 21 tháng 10 năm đó[2]. Ngày 08 Tháng 9 năm 1812 ông đã được thực hiện một Aide-de-Camp cho Hoàng thân nhiếp chính[3] and on 14 December 1813 promoted Major-General.[4] và 14 tháng 12 năm 1813 thăng lên thiếu tướng[4]. Ông trở lại Hà Lan vào năm 1813 khi cha của ông đã trở thành vua. Hoàng thân nhiếp chính[3] Năm 1815, William trở thành thái tử và ông đã phục vụ trong quân đội khi Napoléon I của Pháp thoát khỏi Elba. Ông đã chiến đấu như là chỉ huy của Quân Đoàn I Đồng minh trong trận Quatre Bras (16 tháng sáu năm 1815) và Trận Waterloo (18 tháng 6 năm 1815), nơi ông đã bị thương[5].

Chú thích[sửa]

  1. ^ London Gazette: số 16494, tr. 1068, 11 June 1811.
  2. ^ London Gazette: số 16533, tr. 2033, 22 October 1811.
  3. ^ a b London Gazette: số 16642, tr. 1812, 8 September 1812.
  4. ^ a b London Gazette: số 16824, tr. 2528, 14 December 1813.
  5. ^ Hofschröer, Peter, 1815, The Waterloo Campaign, The German Victory p137, p200.