William Westmoreland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
William Childs Westmoreland
Gen William C Westmoreland.jpg
Tiểu sử
Biệt danh Westy
Sinh


Saxon, Nam Carolina
Mất


Charleston, Nam Carolina
Binh nghiệp
Phục vụ Cờ của Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Thuộc Quân đội Hoa Kỳ
Năm tại ngũ 1936 - 1972
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Chỉ huy

Quân đoàn XVIII Nhảy dù Hoa Kỳ
Bộ chỉ huy Cố Vấn Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam

Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Tham chiến Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng Distinguished Service Medal (3)
Legion of Merit (3)
Bronze Star (2)
Air Medal (10)

William Childs Westmoreland (26 tháng 3, 1914 – 18 tháng 7, 2005) là một tướng 4 sao của Hoa Kỳ. Ông từng giữ chức Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (Military Assistance Command Vietnam, MACV), từ năm 1964 đến năm 1968, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 đến 1972.

Con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

William C. Westmoreland sinh ngày 26 tháng 3 năm 1914 tại Saxon, Spartanburg, Nam Carolina. Ông tham gia và tốt nghiệp Học viện quân sự West Point năm 1936, sau đó phục vụ trong binh chủng pháo binh. Trong Thế chiến thứ hai, ông phục vụ trong Sư đoàn 9 Bộ binh Hoa Kỳ, tham chiến trên các chiến trường từ Bắc Phi, Tunisia đến Sicilia và châu Âu. Tháng 7 năm 1944, ông được thăng quân hàm Đại tá nhiệm chức.

Sau Thế chiến, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng khác nhau, trong đó có tham gia giảng dạy tại trường đào tạo sĩ quan chỉ huy và tham mưu Fort Leavenworth (1950-1951). Năm 1952-1953, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Lữ đoàn 187 Dù, tham gia chiến tranh Triều Tiên. Tháng 11 năm 1952, ông được thăng hàm Chuẩn tướng nhiệm chức.

Chiến tranh kết thúc, ông trở về làm Tổng Thư ký Bộ Tổng Tham mưu, dưới quyền tướng Maxwell D. Taylor (1955-1958). Tháng 12 năm 1956, ông được thăng Thiếu tướng nhiệm chức. Từ năm 1958-1960, ông là Tư lệnh Sư đoàn 101 Dù. Từ năm 1960-1963, ông làm Giám Đốc Học viện quân sự West Point.

Tháng 7 năm 1963, ông được thăng hàm Trung tướng nhiệm chức và cử giữ chức Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV), dưới quyền tướng 4 sao Paul Harkins. Đến tháng 8 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh MACV thay tướng Paul Harkins, hàm Đại tướng nhiệm chức.

Giai đoạn Westmoreland nắm quyền tư lệnh MACV là giai đoạn quân Mỹ tham chiến tại Việt Nam cao nhất, cao điểm lên đến hơn 50 vạn người. Ông cũng là tác giả của chiến thật “Tìm và Diệt” (Search and Destroy), vốn bị chỉ trích nặng nề vì không thể ngăn cản được sự phát triển quân sự của Quân Giải phóng. Ngoài ra, ông cũng không tiên liệu được Biến cố Tết Mậu Thân. Chính vì vậy, tháng 7 năm 1968, Tổng thống Johnson đã cử tướng Creighton Abrahams thay thế ông.

Ông trở về Mỹ và làm Tham mưu trưởng Lục quân. Ngày 30 tháng 6 năm 1972 ông hồi hưu và tham gia chính trường. Năm 1974, ông được đảng Cộng Hòa đưa ra ứng cử Thống đốc bang Nam Carolina, nhưng thất bại. Sau đó, ông cho xuất bản cuốn hồi ký có tên là “A Soldier Reports” (Tường trình của một quân nhân) nói về cuộc đời binh nghiệp của ông. Cuốn hồi ký này đã gây ra nhiều cuộc tranh luận.

Ông mất một cách bình lặng tại nhà riêng năm 2005.

Năm 1947, ông lập gia đình với Katherine S. Van Deusen, một người Mỹ gốc Hà Lan.

Chiến thuật “Tìm và Diệt”[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian giữ chức Giám đốc Học viện West Point, Westmoreland đã thực hiện việc thay đổi giáo trình huấn luyện cho phù hợp với tình hình chiến tranh thời bấy giờ. Đó cũng là lý do ông được cử sang Việt Nam và nắm giữ quyền chỉ huy các lực lượng đồng minh tại Nam Việt Nam. Ông cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh không có chiến tuyến, vùng kiểm soát của 2 bên thường thay đổi và trộn lẫn vào nhau theo hình thái "da báo". Ông đã đưa ra chiến lược: Bảo vệ vùng duyên hải và ngăn chận đường xâm nhập của đối phương, sau đó sử dụng chiến thuật “Tìm và Diệt” (Search and Destroy) để làm tiêu hao lực lượng của đối phương trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Chiến thuật “Tìm và Diệt” thực hiện trên cơ sở ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và khả năng cơ động của quân Mỹ, có thể nhanh chóng phát hiện và cơ động đến để tiêu diệt vị trí của đối phương. Bên cạnh đó, chủ trương thường xuyên mở các cuộc hành quân thẳng vào các căn cứ địa của đối phương không nhằm mục tiêu xâm chiếm và kiểm soát lãnh thổ, mà để tiêu diệt các bộ phận sinh lực đối phương. Quân Mỹ sẽ thực hiện phương án tác chiến “Tìm thấy, Tấn công và Thanh toán” (Find, Fix, and Finish), sau đó trở về căn cứ của mình và chuẩn bị cuộc hành quân khác.

Thực hiện chiến thuật này, hàng loạt các cuộc hành quân lớn của quân Mỹ ở Việt Nam như Attelboro, Cedar Falls, Gadsden, Tucson và Junction City được thực hiện. Tuy nhiên, hoạt động của quân Mỹ được đánh giá là không hiệu quả do chủ yếu được huấn luyện và trang bị để chiến đấu ở chiến trường châu Âu, nên gặp rất nhiều khó khăn khi phải chiến đấu trong rừng rậm ở Việt Nam. Bên cạnh đó, viên tướng chỉ huy Quân Giải phóngNguyễn Chí Thanh cũng đưa ra những biện pháp đối phó hữu hiệu làm hạn chế sức mạnh của quân Mỹ như chiến thuật gài bẫy nhằm vô hiệu hóa sự cơ động, và đặc biệt là chiến thuật áp sát khi giao chiến (còn gọi là "Bám thắt lưng địch mà đánh") làm hạn chế rất nhiều thế mạnh về hỏa lực của quân Mỹ.

Chiến thuật “Tìm và Diệt” gặp rất nhiều sự chỉ trích của các tướng lĩnh khác vì cho rằng vai trò của quân Mỹ tại Nam Việt Nam là thiết lập một số đầu cầu và bảo vệ những đầu cầu đó, để Quân lực Việt Nam Cộng hòa mở các cuộc hành quân tấn công đối phương; hoặc là để giúp bình định và chống chiến tranh nổi dậy chứ không phải để mở những cuộc hành quân. Một số kết quả chiến trường cũng đã chứng minh được Westmoreland đã thất bại. Vì thế, ông thường yêu cầu tăng thêm quân nhưng vẫn không thể ngăn chặn được sự phát triển của đối phương.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • William C. Westmoreland, A Soldier Reports, Garden City, N.Y.: Doubleday, 1976.