Willian Borges da Silva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Willian
Willian Anzhi.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Willian Borges da Silva
Ngày sinh 9 tháng 8, 1988 (26 tuổi)
Nơi sinh Ribeirão Pires, Brasil
Chiều cao 1,74 m (5 ft 8 12 in)
Vị trí Tiền vệ cánh, Tiền vệ tấn công
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Chelsea
Số áo 22
CLB trẻ
Corinthians
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2006–2007 Corinthians 41 (2)
2007–2013 Shakhtar Donetsk 140 (20)
2013 Anzhi Makhachkala 11 (1)
2013– Chelsea 25 (4)
Đội tuyển quốc gia
2007 U-20 Brasil 11 (0)
2011– Brasil 5 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 4 tháng 5, 2014.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 5 tháng 3, 2014

Willian Borges da Silva, (sinh ngày 9 tháng 8, 1988), thường gọi là Willian, là cầu thủ bóng đá người Brasil, thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh, tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ Chelsea.

Willian sinh ra tại Brasil và bắt đầu sự nghiệp tại Corinthians, trước khi đến Shakhtar vào tháng 8 năm 2007 với phí chuyển nhượng 19 triệu $. Tháng 1 năm 2013, anh đến Nga thi đấu cho Anzhi Makhachkala và sau chỉ 7 tháng tại đây, anh gia nhập Chelsea với phí chuyển nhượng cỡ 30 triệu £.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Corinthians[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, sau khi được đôn lên từ đội trẻ, Willian bắt đầu thi đấu cho đội hình một của Corinthians, khoác áo số 10. Anh có trận đấu đầu tiên tại giải vô địch Brasil ở tuổi 18 trong chiến thắng 1-0 trước Juventude ngày 3 tháng 5 năm 2007.[1] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Corinthians là cú đúp trong trận hòa 2-2 với Atlético-PR ngày 2 tháng 8 năm 2007.[2] Sau hai mùa bóng thi đấu cho Corinthians, anh ra sân 37 lần, trong đó có 16 trận tại giải vô địch quốc gia và ghi được 2 bàn.

Shakhtar Donetsk[sửa | sửa mã nguồn]

2007–08[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 8 năm 2007, Willian ký hợp đồng có thời hạn 5 năm với Shakhtar Donetsk, phí chuyển nhượng là 14 triệu .[3] Trận đầu tiên của anh cho câu lạc bộ Ukraina là chiến thắng 2-1 trước Chornomorets Odesa ngày 15 tháng 9.[1] Bàn thắng đầu tiên đến vào ngày 31 tháng 10 trong chiến thắng 4-1 trước Arsenal Kyiv tại cúp quốc gia Ukraina.[1] Tại đấu trường Châu Âu, trận ra mắt của anh không thành công khi vào sân ở phút 73 thay cho Răzvan Raț trong trận thua 0-3 trước A.C. Milan tại Champions League ngày 6 tháng 11.[4] Anh kết thúc mùa giải đầu tiên với 28 lần ra sân và 1 bàn thắng, cùng với Shakhtar giành chức vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia UkrainaCúp vô địch quốc gia Ukraina.[5]

2008–09[sửa | sửa mã nguồn]

Willian trong màu áo Shakhtar Donetsk năm 2009

Anh cùng Shakhtar giành danh hiệu Siêu cúp bóng đá Ukraina 2008 sau chiến thắng trên loạt sút luân lưu trước Dynamo Kyiv ngày 15 tháng 7.[6] Ngày 27 tháng 8, anh ghi bàn trong chiến thắng 3-1 trước Dinamo Zagreb tại Champions League.[7] Ngày 1 tháng 11, anh có bàn thắng đầu tiên tại giải bóng đá vô địch quốc gia và giúp Shakhtar đánh bại Zorya Luhansk 3-1.[8] Ngày 16 tháng 11, anh ghi bàn thắng duy nhất trong các trận đấu với Dynamo Kyiv.[9] và Chornomorets Odesa ngày 25 tháng 4.[10] Anh thi đấu trong hiệp phụ trận chung kết cúp UEFA 2009 với Werder Bremen và Shakhtar đã đăng quang với chiến thắng 2-1.[11] Tổng cộng anh có 52 lần ra sân và 8 bàn thắng trong mùa giải 2008–09.

2009–10[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng đầu tiên của Willian cho Shakhtar Donetsk trong mùa giải 2009-10 vào ngày 15 tháng 8 với chiến thắng 6-1 trước Dniester Ovidiopol tại cúp quốc gia Ukraina.[12] Ngày 17 tháng 9, anh ghi bàn thắng thứ hai cho Shakhtar trong chiến thắng 4-1 trước câu lạc bộ của Bỉ Club Brugge ở vòng bảng Europa League.[13] Trong mùa giải này, anh có 39 lần ra sân và 7 bàn thắng, cùng Shakhtar vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia với 77 điểm, hơn 6 điểm so với đội về nhì là Dynamo Kyiv.[14]

2010–11[sửa | sửa mã nguồn]

Willian bắt đầu mùa giải 2010–11 bằng bàn thắng trong chiến thắng áp đảo 7–1 trước Tavriya Simferopol tại Siêu cúp Ukraina ngày 4 tháng 7.[15] Một tuần sau, anh tiếp tục ghi bàn trong trận mở màn giải vô địch quốc gia với Kryvbas.[16] Ngày 15 tháng 8, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Karpaty Lviv ở những phút bù giờ hiệp một[17] và sau đó ngày 29 tháng 8 trong trận đấu với Illichivets Mariupol.[18]

Ngày 8 tháng 3, Willian lập công trong chiến thắng 3-0 trước đội bóng Ý AS Roma tại vòng 16 đội Champions League, giúp đội bóng của anh vào tứ kết với tổng tỉ số sau hai lượt là 6-2.[19] Ngày 25 tháng 5, anh góp mặt trong chiến thắng 2-0 trước Dynamo Kyiv tại trận chung kết cúp quốc gia Ukraina, nhưng bị thay ra ở phút 77 bởi Alex Teixeira.[20] Shakhtar kết thúc mùa giải cực kỳ thành công với cú ăn ba ở các giải đấu trong nước, riêng Willian có 8 bàn sau 43 trận.[21]

2011–12[sửa | sửa mã nguồn]

Willian thi đấu tại Champions League trong màu áo Shakhtar

Shakhtar Donetsk khởi đầu mùa giải 2011-12 không tốt khi để thua Dynamo Kyiv 3-1 trong trận siêu cúp ngày 5 tháng 7, trận đấu mà Willian chơi đủ 90 phút.[22] Ngày 19 tháng 10, anh ghi bàn mở tỉ số trong trận hòa 2-2 với đội bóng Nga Zenit Saint Petersburg vòng bảng Champions League 2011-12.[23] Ngày 10 tháng 3, anh ghi bàn thắng thứ hai cho Shakhtar, giúp đội bóng này đánh bại Illichivets Mariupol 2-1.[24] Ngày 6 tháng 5, anh cùng Shakhtar bảo vệ thành công ngôi vô địch cúp quốc gia với chiến thắng 2-1 trước Metalurh Donetsk.[25] Shakhtar sau đó cũng giành danh hiệu vô địch giải vô địch quốc gia ba năm liên tiếp. Trong mùa giải này, Willian có 37 lần ra sân và 6 bàn thắng.[26]

2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Willian đã không có mặt trong trận siêu cúp Ukraina 2012, nơi mà Shakhtar đã đánh bại Metalurh Donetsk 2-0.[27] Phải đến trận đấu thứ tư tại giải vô địch quốc gia gặp Volyn Lutsk ngày 6 tháng 8, anh mới được ra sân.[28] Ngày 19 tháng 8, anh ghi một bàn và kiến thiết hai đường chuyền thành bàn trong chiến thắng 5-1 trước Chornomorets Odesa.[29] Willian có một màn trình diễn đáng nhớ tại Champions League 2012-13 với cú đúp vào lưới Chelsea ngày 7 tháng 11, nhưng chung cuộc Shakhtar lại thua 3-2 do những sai lầm của thủ môn Andriy Pyatov.[30]

Anzhi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1 năm 2013, Willian hoàn tất vụ chuyển nhượng đến câu lạc bộ Anzhi của Nga với phí chuyển nhượng vào khoảng 35 triệu €.[31][32] Ban đầu anh chọn khoác áo số 10 nhưng do luật của UEFA không cho phép cầu thủ thay đổi số áo đấu đã sử dụng tại UEFA Champions League trước đó nên anh đành quay lại với số áo 88 mà anh mặc ở Shaktar Donetsk.[33] Ngay trong trận đấu đầu tiên cho Anzi gặp Newcastle United tại Europa League, Willian đã bị chấn thương.[34]

Vào tháng 8 năm 2013, do những khó khăn về tài chính buộc phải cắt giảm ngân sách hoạt động, Anzhi đã phải đưa vào danh sách chuyển nhượng toàn bộ đội hình của mình, trong đó có cả Willian dù anh chỉ mới đến câu lạc bộ có bảy tháng.[35]

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 8 năm 2013, Chelsea thông báo đã đạt được thỏa thuận mua Willian từ Anzhi và đội bóng nước Anh chỉ còn chờ xin giấy phép lao động cho cầu thủ người Brasil.[36] Trước đó câu lạc bộ khác của Anh là Tottenham Hotspur đã gần như có được Willian khi đã đạt được thỏa thuận cá nhân và anh đã kiểm tra y tế tại White Hart Lane nhưng Chelsea với sức mạnh tài chính tốt hơn đã có được tiền vệ người Brasil này.[36][37]

Ngày 28 tháng 8 năm 2013, Willian chính thức ra mắt Chelsea với bản hợp đồng 5 năm sau khi được cấp giấy phép lao động. Tại Stamford Bridge, anh sẽ khoác số áo 22.[38] Anh có trận đầu chính thức đầu tiên cho Chelsea tại trận đấu UEFA Champions League với Basel nhưng có màn ra mắt không thành công và Chelsea đã để thua bất ngờ 1-2 vào ngày 18 tháng 9.[39] Phải đến ngày 6 tháng 10 anh mới có trận đấu đầu tiên tại Premier League khi vào sân thay cho Juan Mata ở phút 80 trận đấu với Norwich City. Tuy nhiên chỉ vài phút sau đó, anh đã có bàn thắng đầu tiên trong màu áo Chelsea với pha cứa lòng hoàn hảo bằng chân trái, ấn định chiến thắng 3-1 trước Norwich.[40]

Trong trận đấu đầu tiên của năm 2014 vào ngày 1 tháng 1, Willian khi được đưa vào sân từ băng ghế dự bị đã ghi bàn nâng tỉ số lên 2-0, giúp Chelsea giành thắng lợi chung cuộc 3-0 trước Southampton.[41] Willian bị đuổi khỏi sân sau khi nhận hai thẻ vàng trong trận thua bất ngờ 1-0 trước Aston Villa trong đó tình huống nhận thẻ thứ hai gây tranh cãi và huấn luyện viên José Mourinho đã đề xuất không để trọng tài chính trận này, Chris Foy, bắt chính những trận đấu còn lại của Chelsea.[42] Ngày 27 tháng 4, anh có bàn thắng cuối cùng trong mùa giải khi ấn định chiến thắng 2-0 trước Liverpool[43]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Willian ra mắt trong màu áo đội tuyển U-20 Brasil năm 2007 tại giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ và có trận ra mắt gặp Chile. Brasil đã vô địch giải đấu đó.[44] Cùng năm đó, anh tiếp tục được dự Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới tại Canada nhưng Brasil bị loại ở tứ kết bởi U-20 Tây Ban Nha. Anh chính thức được gọi vào đội tuyển Brasil năm 2011 trong trận giao hữu gặp Gabon.[45] Ngày 16 tháng 11 năm 2013, anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 5-0 trước Honduras tại Miami, Florida.[46]

Willian có tên trong danh sách chính thức 23 cầu thủ Brasil tham dự World Cup 2014 ngay tại quê hương.[47]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Willian không phải mẫu tiền vệ có khả năng ghi bàn đều đặn nhưng phong cách thi đấu của anh thiên về sáng tạo và kiến thiết.[48] Tại Shakhtar Donetsk, anh tỏa sáng trong đội hình đậm chất tấn công của huấn luyện viên Mircea Lucescu, thường chơi lệch trái trong sơ đồ 4-2-3-1.[49] Tốc độ và sức mạnh cũng là những ưu điểm của Willian.[48]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Corinthians
Shakhtar Donetsk
U-20 Brasil

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật 15 tháng 2, 2013[50]
Thành tích câu lạc bộ Giải quốc gia Cúp quốc gia Cúp châu lục Tổng cộng
Mùa bóng Câu lạc bộ Giải đấu Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
2006 Corinthians Série A 5 0 0 0 0 0 81 0
2007 11 2 4 0 0 0 292 2
Brasil 16 2 4 0 0 0 37 2
2007–08 Shakhtar Donetsk Giải bóng đá ngoại hạng Ukraina 20 0 6 1 2 0 28 1
2008–09 29 5 63 1 17 2 52 8
2009–10 22 5 4 1 13 1 39 7
2010–11 28 3 54 34 10 2 43 8
2011–12 27 5 45 0 7 3 38 8
2012–13 14 2 2 1 6 4 22 7
Ukraina 140 20 27 7 55 10 222 37
2012–13 Anzhi Makhachkala Giải bóng đá ngoại hạng Nga 7 1 2 0 3 0 12 1
2013–14 3 0 0 0 0 0 3 0
Nga 10 1 1 0 3 0 15 1
2013–14 Chelsea Premier League 25 4 6 0 11 0 42 4
Anh 25 4 6 0 11 0 42 4
Tổng cộng sự nghiệp 192 27 38 7 69 10 317 44


1Bao gồm 3 trận tại Giải vô địch bang São Paulo 2006
2Bao gồm 14 trận tại Giải vô địch bang São Paulo 2006
3Bao gồm 1 trận tại siêu cúp Ukraina
4Bao gồm 1 trận và 1 bàn tại siêu cúp Ukraina
5Bao gồm 1 trận tại siêu cúp Ukraina

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 16 tháng 11, 2013 Sân vận động Sun Life, Miami, Hoa Kỳ  Honduras 4–0 5–0 Giao hữu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Willian special matches”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ [1]
  3. ^ “FC Shakhtar signed Willian”. Shakhtar Donetsk. 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  4. ^ “Shakhtar vs AC Milan 0–3”. 21 tháng 9 năm 2012. 
  5. ^ “Ukraine 2007/08”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–1”. 21 tháng 9 năm 2012. 
  7. ^ “Dinamo Zagreb vs Shakhtar 1–3”. 21 tháng 9 năm 2012. 
  8. ^ “Shakhtar vs Zorya 3–1”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–0”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Shakhtar vs Chornomorets”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  11. ^ “Shakhtar vs Werder Bremen 2–1”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  12. ^ “Odesa vs Shakhtar 1–6”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  13. ^ “Club Brugge vs Shakhtar 1–4”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  14. ^ “Ukraine 2009/10”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  15. ^ “Shakhtar vs Tavriya 7–1”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  16. ^ “Shakhtar vs Kryvbas”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  17. ^ “Shakhtar vs Karpaty 1–0”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  18. ^ “Shakhtar vs Illichivets 1–0”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  19. ^ “Shakhtar vs Roma: match report”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  20. ^ “Dynamo vs Shakhtar 0–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  21. ^ “Ukraine 2010/11”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  22. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–3”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  23. ^ “Shakhtar vs Zenit 2–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  24. ^ “Illichivets vs Shakhtar”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ “Metalurh Donetsk vs Shakhtar 1–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  26. ^ “Ukraine 2011/12”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  27. ^ “Metalurh Donetsk vs Shakhtar 0–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  28. ^ “Volyn vs Shakhtar 0–4”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  29. ^ “Chornomorets vs Shakhtar 1–5”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  30. ^ Hà Uyên (8 tháng 11 năm 2012). “Chelsea thoát hiểm phút chót”. Vnexpress. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ “Chelsea miss out on Willian as Anzhi close in on deal”. Metro. 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  32. ^ “Anzhi signs Willian from Shakhtar”. Fox Sports. 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  33. ^ “Виллиан выбрал номера 10 и 88” (bằng Tiếng Nga). fcanji.ru. 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013. 
  34. ^ “Willian delighted to sign for Anzhi Makhachkala”. Goal.com. 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013. 
  35. ^ “Tottenham and Chelsea transfer target Willian poised for bargain move as Anzhi slash budget”. Daily Mirror. 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  36. ^ a ă Hữu Hải (25 tháng 8 năm 2013). “Chelsea xác nhận đã có Willian”. Bóng đá số. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  37. ^ Nguyễn Huy (24 tháng 8 năm 2013). “Vào cuộc muộn, Chelsea vẫn "cuỗm" được Willian từ tay Tottenham”. Dân Trí. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  38. ^ Anh Tuấn (28 tháng 8 năm 2013). “Có giấy phép lao động, Willian đã là người của Chelsea”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ “Thua Basel, Mourinho chỉ trích học trò”. Goal.com. 19 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2013. 
  40. ^ “Willian "mở tài khoản" tại Chelsea bằng siêu phẩm”. Bóng Đá +. 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013. 
  41. ^ “Southampton 0-3 Chelsea: Đẳng cấp của Mourinho”. Bóng Đá +. 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  42. ^ “Mourinho questions whether Foy should ever officiate Chelsea again after Willian and Ramires red cards during Villa defeat”. Mail Online. 16 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  43. ^ “Liverpool 0-2 Chelsea”. BBC Sports. 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  44. ^ “Willian - UEFA.com”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  45. ^ “Gabon 0 Brazil 2”. Goal.com. 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  46. ^ “Five-star Brazil hammer Honduras”. Eurosport Australia. 17 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  47. ^ “World Cup 2014: Which players are going to Brazil?”. BBC Sports. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  48. ^ a ă “Những điều cần biết về Willian, người sắp cập bến Tottenham”. Bóng Đá +. 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  49. ^ Trần Trọng (22 tháng 8 năm 2013). “Willian: Không cần phải là Gareth Bale”. Thể thao và Văn hóa. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  50. ^ “Willian”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]