Xe tăng Crusader

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tăng hành trình Mk VI Crusader
IWM-E-17616-Crusader-19421002.jpg
Xe tăng Crusader trong chiến dịch Bắc Phi, 2/10/1942. Image: Imperial War Museum, London.
Loại Xe tăng hành trình
Nguồn gốc  Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Lược sử hoạt động
Trang bị 1941–1945
Sử dụng trong Thế chiến thứ hai
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Nuffield
Năm thiết kế 1939/1940
Nhà sản xuất Nuffield Mechanization & Aero Limited
Giai đoạn sản xuất 1940–1943
Số lượng chế tạo 5,300
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 18,8 đến 19,7 tấn Anh (19,1 đến 20,0 t)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Chiều dài 20 ft 8.5 in (5.97 m)
Chiều rộng 9 ft 1 in (2.77 m)
Chiều cao 7 ft 4 in (2.24 m)
Kíp chiến đấu Mk III: 3 (Chỉ huy, pháo thủ, lái xe)
Mk I, II: 4 or 5 (+ Loader, hull gunner)

Bọc giáp Mk I: 40 mm
Mk II: 49, III: 51
Vũ khí chính Mk I, II: QF 2 pdr (40 mm) 110 viên
Mk III: QF 6 pdr (57 mm) 65 viên
Vũ khí phụ 1 or 2 × súng máy Besa
4,950 viên
Động cơ Nuffield Nuffield Liberty Mark II, III, or IV
27-litre V-12 petrol engine
340 bhp (254 kW) at 1,500 rpm
Công suất/trọng lượng 17.2–18 hp/tonne
Hệ truyền động Nuffield constant mesh
4-speed-and-reverse
Hệ thống treo Christie helical spring
Khoảng sáng gầm 1 ft 4 in (0.41 m)
Sức chứa nhiên liệu 110 Imperial gallons in 3 fuel tanks (+30 auxiliary)
Tầm hoạt động 200 mi (322 km) on roads
146 mi (235 km) cross country[1]
Tốc độ 26 mph (42 km/h) (road)
15 mph (24 km/h) (off-road)
Hệ thống lái Wilson epicyclic steering

Xe tăng hành trình Mk VI, hoặc A15 Crusader, là một trong loại xe tăng hành trình của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong giai đoạn đầu Thế chiến thứ hai và có lẽ là quan trọng nhất của Anh trong Chiến dịch Bắc Phi. Sự cơ động của Crusader đã làm cho nó được yêu thích trong lực lượng tăng thiết giáp Anh và pháo chính 57 mm đã làm cho nó có nhiều ưu thế hơn Panzer III và xe tăng Panzer IV mà nó phải đối mặt trong chiến đấu. Cuối năm 1942, do thiếu nâng cấp, trang bị vũ khí nên việc chiến đấu đã được thay thế bằng xe tăng Cromwell.

Mk VI “Crusader” tại chiến trận Bắc Phi, 26/11/1941.
Các lính tăng đang làm sạch nòng pháo 57 mm ở Tunisia

Thiết kế và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng Crusader của Anh vượt qua 1 chiếc Pzkw Mk IV của Đức đang cháy vào ngày 27 tháng 11, 1941.

Năm 1938, Nuffield Mechanization & Aero Limited thiết kế A16, một chiếc xe tăng hành trình dựa trên hệ thống treo Christie. Nhằm tạo một chiếc xe tăng nhẹ hơn và rẻ hơn, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu lựa chọn thay thế. A13 Mk III được thiết kế. Vào năm 1939, Nuffield có cơ hội để tham gia vào việc sản xuất. Tuy nhiên các phiên bản A13 Mk không thành công.

Crusader ở Yorkshire, 1942.

Cả A13 Mk III và A15 thiết kế sử dụng cùng một tháp pháo chính. Tháp pháo là đa giác với các bên dốc để cung cấp tối đa không gian cho tháp pháo. Mùa hè năm 1939, hãng “Naffild” giới thiệu mẫu xe tăng hạng trung A15 với động cơ Nuffield Liberty. Xe tăng này là sự phát triển tiếp sau của A13 Mk III. A 15 có thân dài và thêm một bánh đỡ thứ 5 và được gọi là Crusader Mk I.

Crusader Mk III.
Crusader I. chiếc xe này có tháp pháo phụ.

Thân “Crusader” có khung với các miếng thép liên kết với nhau bằng bu long. Tháp pháo dạng thấu kính nhiều góc và cạnh. Vũ khí chính gồm pháo 40mm, kíp xe 3 người. Vũ khí phụ là súng máy Besa 7,92mm.

Phiên bản Crusader Mk II không có tháp súng máy, còn giáp đầu xe được gia cố. Crusader Mk III pháo chính được nâng cấp lên pháo 57mm (Ordnance QF 6 pounder). Tháp pháo hai chỗ ngồi nên trưởng xe phải làm thêm nhiệm vụ nạp đạn. Độ dày giáp Crusader Mk III tăng lên 51mm.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tại mặt trận Bắc Phi, Mk VI Crusader được sử dụng chiến đấu vào tháng 6 năm 1941. Sau khi Erwin Rommel bao vây Tobruk, quân Anh đã đưa Mk VI Crusader vào giải cứu. Nhưng trong các trận chiến, nhiều Mk VI Crusader đã bị bắn hạ bởi các pháo chống tăng 8.8 cm Flak 18/36/37/41 của Đức, nhưng Mk VI Crusader vược trội hơn Panzer III. Sau một thời gian tác chiến nhiều điểm yếu đã xuất hiện làm cho loại xe tăng này sớm ngưng hoạt động.

Vì thế vào năm 1942, dây chuyền sản xuất loại xe này được dừng hoạt động. Còn các xe đang hoạt động thì được chuyển về và chuyển đổi thành các vũ khí phòng không tự hành, với việc được gắn pháo phòng không Bofors 40 mm. Ngoài ra còn nhiều phiên bản các phương tiện khác như xe kéo pháo vv... sử dụng thân Crusader cũng đã được sản xuất.

thân tăng Crusader với pháo Bofors 40mm .

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bingham, James, AFV Profile No. 8 Crusader-Cruiser Mark VI, Windsor: Profile Publishing, OCLC 54349416 
  • Boyd, David (2008). “Crusader tank”. WWII Equipment. wwiiequipment.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009. 
  • Fletcher, David, and Peter Sarson. Crusader and Covenanter Cruiser Tank 1939–1945 (New Vanguard 14). Botley, Oxford: Osprey Publishing, 2000. ISBN 1-85532-512-8.
  • Fletcher, David (1989). The Great Tank Scandal: British Armour in the Second World War Part. HMSO. ISBN 978-0-11-290460-1. 
  • Fletcher, David (1989). Universal Tank: British Armour in the Second World War - Part 2. HMSO. ISBN 0-11-290534-X. 
  • Fogliani, Sigal; Jorge, Ricardo, Blindados Argentinos, de Uruguay y Paraguay (bằng tiếng Tây Ban Nha), Buenos Aires: Ayer y Hoy Ediciones, ISBN 978-987-95832-7-2 
  • Milsom, John; Sanders, John; Scarborough, Gerald (1976), Classic AFVs No. 1: Crusader, Patrick Stephens Ltd, ISBN 978-0-85059-194-1 
  • Neillands, Robin (1991). The Desert Rats : 7th Armoured Division, 1940-1945. London: Weidenfeld and Nicolson. ISBN 978-0-297-81191-6. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]