Xe tăng T-10

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe tăng hạng nặng T-10
T-10 tank.jpg
Xe tăng hạng nặng T-10 trưng bày tại Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc vĩ đạiKiev, Ukraina
Loại Xe tăng hạng nặng
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Zhozef Kotin
Năm thiết kế 1948–52
Nhà sản xuất Nhà máy 185, Nhà máy 174
Giai đoạn sản xuất 1953–66
Số lượng chế tạo 8,000
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 52 tấn
Chiều dài thân xe dài 7.41 m
chiều dài tổng cộng 9.87 m
Chiều rộng 3.56 m
Chiều cao 2.43 m
Kíp chiến đấu 4

Bọc giáp 250 ly
Vũ khí chính 122 ly D-25TA
Vũ khí phụ 2 đại liên đồng trục phòng không (?)12.7 ly DShKM
Động cơ động cơ diesel 39 l V-2-IS 12 xi lanh.
700 mã lực (522 kW)
Công suất/trọng lượng 13 mã lực/tấn
Hệ thống treo torsion-bar
Tầm hoạt động 250 cây số
Tốc độ 42 cây số/giờ

T-10 là loại xe tăng hạng nặng của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nó là bản nâng cấp của xe tăng IS-3, đồng thời là phiên bản cuối cùng của dòng tăng hạng nặng KV (Kliment Voroshilov) và IS (Iosif Stalin), cũng như dòng tăng hạng nặng Liên Xô. Bản thiết kế nguyên thủy của T-10 vốn dĩ có tên là IS-8[1], sau đó đổi thành IS-9[2], và nó được sản xuất năm 1952 với cái tên IS-10 (vì vốn dĩ nó là thành viên của dòng họ IS). Nhưng tháng 3 năm 1953, Iosif Stalin qua đời, và, khi Khruschev lên nắm quyền, thi hành chính sách bài bác Stalin, thì IS-10 được đổi tên lại thành T-10 (nguyên do chữ IS là viết tắt tên của Iosif Stalin).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tính năng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

T-10 và sự thoái trào của dòng tăng hạng nặng Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ Thế chiến thứ hai, trước các yêu cầu về tính cơ động trên chiến trường những mẫu tăng hạng nặng chậm chạp đã bộc lộ rất nhiều nhược điểm. Trong trận Berlin, khi các sư đoàn cơ giới đã chia nhỏ lực lượng của mình ra và phối hợp với bộ binh thì các xe tăng hạng nặng hoàn toàn tụt lại sau so với các xe T-34 cơ động. Sau Thế chiến thứ hai, mặc dù Liên Xô vẫn tiếp tục quá trình sản xuất các xe tăng hạng nặng để đối đầu với các xe tăng cùng loại của phương tây (ví dụ xe tăng hạng nặng M103 của Hoa Kỳ và xe tăng Conqueror của Anh) nhưng các xe tăng hạng trung cơ động như T-54 hay T-62 đã có hỏa lực và giáp trụ ngang ngửa với T-10.

Từ thập niên 1960 trở đi, Liên Xô bắt đầu phát triển xe tăng theo khái niệm Xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT), cụ thể là dần dần thay thế các xe tăng hạng nặng bằng các xe tăng hạng trung cơ động hơn. Và vào cuối thập niên 1960, các lực lượng tinh nhuệ từng được trang bị tăng hạng nặng nay chuyển qua sử dụng các xe tăng hạng trung với công nghệ tiên tiến nhất như T-64 và sau đó là "xe tăng bay" T-80, còn các đơn vị cơ giới thông thường sử dụng tăng T-55, T-62 và sau đó là T-72. Còn việc sản xuất T-10 ngừng lại vào năm 1966, các chương trình sản xuất tăng hạng nặng cũng bị đình chỉ hoàn toàn (ví dụ mẫu thử nghiệm Kế hoạch 770 dùng pháo 130 ly và hệ thống nạp đạn tự động).

Việc phát triển các Tên lửa điều khiển chống tăng (ATGM) đã thay thế hoàn toàn các loại pháo tầm xa trên các tăng hạng nặng. Liên Xô áp dụng chúng lần đầu tiên trên các mẫu xe chiến đấu bộ binh BMP-1, sau đó trên xe tăng T-64 và các mẫu tăng khác. Và vỏ giáp bằng chất liệu composite nhẹ nhưng tinh xảo đã khiến khả năng bảo vệ của các xe tăng trước đạn pháo tăng lên đáng kể nhưng không làm tăng khối lượng cũng như giảm tốc độ của chúng.

Theo Bryan Perret, "những trận đánh tại Cuộc chiến Sáu Ngày, đặc biệt ở Rafah, chỉ nhấn mạnh những gì mà phía Liên Xô đã biết: ngày tàn của xe tăng hạng nặng đã đến".

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • T-10(1952): bản nâng cấp của IS-3.
  • T-10A(1956): bản cải tiến của T-10, sử dụng thiết bị ổn định bắn 1 mặt phẳng.
  • T-10B(1957): thêm 2 thiết bị ổn định bắn.
  • T-10M(1957): bản cải tiến với pháo M-62-T2 L/43 dài hơn với thiết bị khóa nòng 5 vách ngăn; thiết bị ổn định bắn 2 mặt phẳng, súng máy 14,5 ly kiểu mới KVPT với đạn đạo chuẩn xác hơn, hệ thống bảo vệ NBC. Độ dài tổng cộng là 10,29 mét.
    • T-10M phiên bản 1963 với ống thở OVPT dành cho việc lội sâu.
    • T-10M phiên bản 1967 trang bị đạn APDSHEAT.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Perrett, Bryan (1987). Soviet Armour Since 1945. London: Blandford Press. ISBN 0-7137-1735-1. 
  • Sewell, Stephen ‘Cookie’ (1998). “Why Three Tanks?” in Armor, v 108, n 4 (July-August 2002), p 21. Fort Knox, KY: US Army Armor Center.
  • Sewell, Stephen ‘Cookie’ (2002). “Red Star – White Elephant?” trong Armor (tháng 7-8/2002), pp 26–32. Fort Knox, KY: US Army Armor Center.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]