Xe tăng T-62

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
T-62
T62.jpg
Xe tăng T-62 trưng bày tại Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại tại Kiev.
Loại Xe tăng chủ lực
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị tháng 7 năm 1961–nay
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Viện thiết kế OKB-520
Nhà sản xuất Uralvagonzavod
Giai đoạn sản xuất 1961–1975 (Liên Xô)
1975–1978 (Tiệp Khắc)
–thập niên 1980 (Bắc Triều Tiên)
Số lượng chế tạo hơn 22,700
Thông số kỹ chiến thuật (T-62)
Khối lượng 40 tấn
Chiều dài 9.34 m tính cả chiều dài súng
6,63 m riêng thân xe
Chiều rộng 3.30 m
Chiều cao 2.40 m
Kíp chiến đấu 4 (chỉ huy, lái xe, pháo thủ, nạp đạn)

Bọc giáp Cast turret
242 mm turret front
153 mm turret sides
97 mm turret rear
40 mm turret roof
102 mm at 60° hull front
79 mm hull upper sides
15 mm hull lower sides
46 mm at 0° hull rear
20 mm hull bottom
31 mm hull roof
Vũ khí chính 115 mm U-5TS (2A20) smoothbore gun (40 rounds)
Vũ khí phụ 7.62 mm PKT coaxial general purpose machine gun (2500 rounds)
12.7 mm DShK 1938/46 antiaircraft heavy machine gun (optional until T-62 Obr.1972)
Động cơ V-55 12-cylinder 4-stroke one-chamber 38.88 liter water-cooled diesel
581 hp (433 kW) at 2,000 rpm
Công suất/trọng lượng 14.5 hp/tonne (10.8 kW/tonne)
Hệ thống treo torsion bar
Khoảng sáng gầm 425 mm
Sức chứa nhiên liệu 960 l
1360 l with two 200-liter extra fuel tanks
Tầm hoạt động 450 km on road (650 km with two 200-liter extra fuel tanks)
320 km cross-country (450 km with two 200-liter extra fuel tanks)
Tốc độ 50 km/h (đường nhựa)
40 km/h (đường đất)

T-62 là thế hệ kế tiếp của xe tăng T-54/55 do Liên Xô nghiên cứu sản xuất, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và duy trì cho tới năm 1975. Nó nhanh chóng chiếm vị trí của cho T-54 và trở thành loại tăng chủ lực MBT tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới Liên Xô. Tuy nhiên, vào khoảng thập niên 80, T-62 trở nên lạc hậu và được thay thế bằng thế hệ tăng T-64, T-72, T-80 tiên tiến hơn.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên:T-62
  • Năm sản xuất:1961-1975 (Liên Xô); 1975-1978 (Tiệp Khắc); 1980 (CHDCND Triều Tiên)
  • Số lượng: >22700 chiếc
  • Tổ lái: 4 người (xa trưởng, lái xe, pháo thủ và người nạp đạn)
  • Nặng 41,5 tấn
  • Dài 6.63m
  • Cao 2.4m
  • Rộng 3.52m
  • Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
  • Tầm hoạt động:450/650 km với thùng dầu phụ
  • Tốc độ: 50 km/h trên đường nhựa và 40–45 km/h đường gồ ghề
  • Giáp:
230 mm trước tháp pháo
153 mm sườn tháp pháo
97 mm sau tháp pháo
40 mm đỉnh tháp pháo
102 mm trước thân
79 mm sườn xe
46 mm đuôi xe
20 mm gầm xe
31 mm nóc xe
  • Pháo chính:115mm nòng trơn modle 2A20
  • Tốc độ bắn:3-5 viên/ phút
  • Nạp đạn: thủ công
  • Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
  • 1 đại liên 7,62mm đồng trục
  • 1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo

Tính năng kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dáng sơ bộ[sửa | sửa mã nguồn]

T-62 với súng máy 12.7 mm phòng không

Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Giống T-54/55, tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, nhưng được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55, nên tháp pháo của T-62 có vẻ giống với T-64 và T-72 nhiều hơn. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái, đúc liền vào thân chứ không nối bằng đinh tán. Nắp của pháo thủ nằm bên phải.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

T-62 bị hư hỏng.
T-62 với thùng nhiên liện 200 lít.

T-62 được trang bị súng nòng trơn 115mm mẫu 2A20, có khả năng bắn tên lửa chống tăng ATGM. Pháo của T-62 có nòng dài hơn và lớn hơn nòng pháo 100mm của T-54/55. Thiết bị bore evacuator (có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không bắn độc lập, thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.

Khẩu pháo 115mm nòng trơn là sự cải tiến có ý nghĩa nhất của T-62 so với tiền bối T-54/55. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khoảng 1,6 km. Cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE. T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo. Tốc độ bắn có thể đạt đến 3-5 viên/phút.

Tuy nhiên, T-62 mắc phải điểm yếu chung của dòng họ T: góc hạ nòng súng thấp, khoang điều khiển chật hẹp. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí carbonic và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC. Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng không thể quay khi đang thao tác nạp đạn. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta không thể bắn từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp bị hạn chế.

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

T-62 tạo khói.

Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa. Tốc độ đạt đến 40–50 km/h. Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km, trên đường bằng phẳng là 450 km với thùng nhiên liệu bên trong. Nếu được trang bị thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200 lít thì tầm hoạt động sẽ đạt 450 km (đường xấu) và 650 km (đường bằng phẳng).

Giáp trụ và hệ thống bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước của T-62M của quân đội Afghanistan ở Kabul năm 2004.
T-62 của quân đội Afghanistan ở Kabul, 27 4 2004

Trang bị giáp của T-62 như sau: 230 mm trước tháp pháo, 153 mm sườn tháp pháo, 97 mm sau tháp pháo, 40 mm đỉnh tháp pháo, 102 mm trước thân, 79 mm sườn xe, 46 mm đuôi xe, 20 mm gầm xe, 31 mm nóc xe. So với T-54/55, vỏ giáp đã dày lên nhiều, nhưng được đúc bằng thép thường nên vẫn dễ bị tổn thương trước các loại đạn chông tăng. Hơn nữa, khu vực chứa nhiên liệu, đạn dược dễ bị tổn thương.

Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng. Hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55. Một số T-62 còn có khả năng trang bị thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các mẫu T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe, chúng cho phép xe tăng phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng hai chức năng này không dùng song song được.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • T-62A: Phiên bản T-62A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Bên cạnh khẩu đồng trục 7,62mm PKT có tầm bắn khoảng 100m, mẫu này có thêm một khẩu 12,7mm DShK với tầm bắn khoảng 1500m. Mẫu này cũng có hệ thống tự ổn định nòng súng giúp tăng độ chính xác khi tác xạ trong hành tiến.
  • T-62K: xe chỉ huy với hệ thống định vị và quan sát cao cấp.
  • T-62M: có thêm giáp, FSC và khả năng băn ATGM.
  • T-62M1: có hệ thồng điều khiển bắn FCS nhưng không có khả năng bắn tên lửa chống tăng ATGM.
  • T-62MK: xe chỉ huy của T-62M.
  • T-62MV: trang bị gạch ERA Kontakt và Kontakt-5 thế hệ 2 ở giáp trước.
  • T-62D: có hệ thống chống ATGM Drozd APS và giáp ERA.
  • T-62 loại được trang bị động cơ V-46 kiểu T-72.
  • T-62 loại được trang bị súng phun lửa ở tháp pháo.
  • T-62 Ch’onma-Ho: mẫu cải tiến T-62 được sản xuất tại CHDCND Triều Tiên, xuất hiện lần đầu năm 1970.
  • Tiran: dòng xe tăng của Israel, chế tạo và cải biên dựa theo mẫu các xe tăng T-62 bắt được của Ai CậpSyria. Israel đã thay thế rất nhiều phụ tùng của Liên Xô bằng các linh kiện tân tiến hơn của phương Tây, như thiết bị nhìn laser và hồng ngoại, giáp cảm ứng Blazer, hệ thống nhiên liệu và động cơ của hãng General Motors.
  • T-62 của Mĩ sản xuất được dùng để huấn luyện. Có thay thế nhiều phụ tùng của Liên Xô bằng các loại của Mỹ, thí dụ động cơ.

Số lượng đang hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]