Yên Từ, Yên Mô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Yên Từ là một thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Trụ sở xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 22 km. Xã này nằm trên quốc lộ 12B. Đây cũng là một xã nằm bên bờ sông Vạc.


Yên Từ, Yên Mô
Tỉnh/Thành phố Ninh Bình
Quận/Huyện/Thị xã Yên Mô
Diện tích 5,23 km²
Số dân 7.502 người (1999)[1]
Mật độ dân số 1.434 người/km²
Mã đơn vị hành chính 14728[2]
Mã bưu chính

Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Yên Từ được thành lập năm 1984 trên cơ sở chia xã Yên Phong (lúc đó thuộc huyện Tam Điệp) thành 2 xã lấy tên là xã Yên Phong và xã Yên Từ[3].

Xã Yên Từ có diện tích: 5,23 km²[1]. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, xã Yên Từ có dân số 7.502 người[1].

  • Mật độ dân số: 1434 người/km²

Địa giới của xã Yên Từ:

Chợ Nuốn (Nuốn là tên gọi nôm na làng Nộn Khê), Làng Nộn Khê, Xã Yên Từ, là 1 trong 7 chợ ở Yên Mô trong danh sách các chợ loại 1, 2, 3 ở Ninh Bình.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Yên Từ có các thôn, làng sau đây: làng Phúc Lại, thôn Sa Lung, thôn Phúc Khê, thôn Xuân Đồng, làng Quảng Từ, làng Nộn Khê và thôn Dân Chủ[3] (nằm ven sông Trinh - sông bắt nguồn từ sông Đáy). + Các xóm: - Xóm Thượng, Cầu, Chùa, Chung (thuộc làng Nộn Khê); - Xóm Đông, Tây (thuộc làng Quảng Từ); - Xóm Một, Hai (thuộc làng Phúc Lại).

Làng Nộn Khê[sửa | sửa mã nguồn]

Nộn Khê là tên một làng cổ thuộc xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam[5].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng Chi Lăng năm 1427, quân Minh bị thua và rút về nước. Chính quyền phong kiến bấy giờ có chính sách Dinh điền tức là nhà nước khuyến khích việc lập ấp, lập đồn điền và các công trình lấn biển khai hoang. Những người nông dân được trở về quê quán, cày xới ruộng đất bị bỏ hoang. Lúc đó một số người từ đất Lục Nộn, Nam Châu (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), di chuyển vào vùng đất bồi ven đê Hồng Đức, lập ấp, đặt tên làng là Nộn Khê (vào năm Canh Dần - 1470, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên, triều vua Lê Thánh Tông), để ghi nhớ quê cũ Lục Nộn và Côi Khê (là nơi gần chỗ ở mới đến). Nộn là non trẻ, Khê là khe suối. Nộn Khê nghĩa là dòng suối mới khai dòng còn non trẻ[5][6].

Ngày nay làng Nộn Khê, phía Bắc giáp làng Quảng Phúc (xã Yên Phong, Yên Mô), phía Đông giáp làng Quảng Từ (cùng xã Yên Từ, Yên Mô); phía Nam giáp thôn Dân Chủ và sông Đào, bên kia sông là làng Bình Hải (xã Yên Nhân, Yên Mô), phía Tây là sông Trinh và cánh đồng của làng, bên kia cánh đồng là làng Côi Trì (xã Yên Mĩ, Yên Mô).

Nộn Khê trước kia có nghề truyền thống là nghề làm ruộng và nghề thủ công dệt vải, ngày nay nghề thủ công đổi sang chế biến cói xuất khẩu (như dóc cói, khâu thảm (tapi), đan làn...). Ngoài ra, còn có nhiều người làm các nghề dịch vụ truyền thống khác, như gói bán giò trứng, mọc luộc (đặc sản Nộn Khê), v.v...

Niên Biểu[sửa | sửa mã nguồn]

LÀNG NỘN KHÊ - NIÊN BIỂU.

- 1470 (Canh Dần, Hồng Đức nguyên niên): - * Lập Làng Nộn Khê *. - 1810 (Canh Ngọ, Gia Long): - Làm cầu ván ghép mái rạ. - 1836 (Bính Thân, Minh Mệnh): - Xây dựng lại Đình Làng, gồm Đình ngoài (5 gian + 2 dĩ) và Đình trong (3 gian 2 dĩ). - 1878 (Mậu Dần, Tự Đức): - Làm Cầu Ngói (7 gian, có lan can và ghế ngồi dọc hai bên thành cầu. - 1920: - Mở Trường Kiêm bị Nộn Khê (École plein exercice de Non Khe). Có bốn lớp học trong 6 năm. Học trò học tại đây đến từ các nơi trong vùng, gồm Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, Nga sơn (Thanh Hóa) và Nghĩa Hưng (Nam Định). - 1922: - Làng mở Hội rất linh đình. - 9-1927: - Thành lập Chi bộ VNTNCMĐCH (tiền thân của ĐCSĐD) đầu tiên ở Yên Mô, tại Chòi vó, xóm Trại Quảng Từ (nay là thôn Dân Chủ), gồm 6 đ/c (Nộn Khê 2, Quảng Từ 2, Trại QT 1, Côi Trì 1). - 1930: - Làng ta trồng Nhãn dọc hai bên Đường Cao, tổng cộng 66 cây, từ ngã ba xóm Cầu đến gốc Gạo cạnh Cổng làng (cũ và hiện nay). - 1941: - Khánh thành Sân vận động Nộn Khê (Stade du commandant Ducoroy); gồm khán đài, sân bóng đá, sân bóng rổ, đường chạy và đu dây. - 1941-1943: - Nhật cho nạo vét đoạn sông từ bến đò Đức Hậu vào Thanh Hóa (qua Cầu Đá) để vận chuyển quân sự. Chi bộ VNTNCMĐCH (tiền thân của Đảng CSĐD) lãnh đạo nhân dân chống Nhật và cắm cờ, rải truyền đơn tại đây. - 1942: - Lát gạch đường Làng, kinh phí thu từ lệ phí vé sợi của dân làng đóng góp (không phải là từ tiền nộp cheo). - 1945: - Nạn đói khủng khiếp tháng Ba năm Ất Dậu, dân làng có nhiều người chết đói. - 8-1945: - Cách mạng Tháng Tám. Dân làng tham gia cướp chính quyền ở địa phương. - 2-9-1945: - Nước VNDCCH ra đời, chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm và chế độ nô lệ hàng trăm năm. - 4-9-1945: - Hưởng ứng Tuần lễ Vàng (tổ chức quyên góp vàng, bạc, tiền... tại Đình Làng). - 8-9-1945: - Hưởng ứng và tham gia phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ. - 9-1945: - Trường Kiêm bị Nộn Khê đổi tên thành Trường Cơ bản Nộn Khê. Bốn lớp, học 4 năm. - 1945 - 1949: - Nhiều cuộc mitting của Huyện và Tỉnh ủng hộ Cách mạng và Kháng chiến được tổ chức tại Sân vận động Làng. - 6-1-1946: - Bầu cử Quốc hội V.N. khóa đầu tiên. - 1946, đầu năm:n - Thành lập xã Quang Phục, gồm Nộn Khê, Quảng Từ, Xuân Đồng, Phúc Khê, Quảng Phúc, Khang Dụ và Thọ Bình. - 1946, cuối năm: - Xã Quang Phục chia thành hai xã Song Khê và Yên Phong; xã Song Khê gồm Nộn Khê, Quảng Từ, Xuân Đồng và Phúc Khê. - 16-9-1947: - Thành lập Chi bộ Đảng xã Song Khê (chi bộ đầu tiên), tại Nộn Khê (theo LS Đảng). * (Chính xác là 3-4-1947 - theo BĐM). - 1947: - Hội nghị Quân sự cấp cao họp tại Đình Làng. - 20-12-1947 ?: - Tòa án Quân sự đặc biệt xét xử vụ Côn đồ Phát Diệm - Bùi Chu tại Đình Làng. - 1947 - 1948: - Bộ đội Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng đóng quân tại Làng, dân làng kết nghĩa với bộ đội. - 1948: - Xây thêm một loạt giếng đá ở bốn xóm để tăng thêm nguồn nước sạch. - 6-1949: - Sáp nhập ba xã Song Khê, Hà Trung và Liên Phương thành xã Yên Nhân. - 16-10-1949, (25-8 Kỉ Sửu): - Pháp nhảy dù chiếm đóng Phát Diệm. - Dân làng tản cư vào vùng tự do Thanh Hóa, tiếp tục nghề dệt vải truyền thống và tham gia Kháng chiến chống Pháp. - 23-10-1949: Giặc Pháp tiến đánh Yên Từ, Yên Mô. - 1949 - 1954: - Dân làng tham gia Kháng chiến tại các nơi cư trú. - 1950: - Pháp ném bom chợ Kiểu (Thanh Hóa), nơi dân làng ta tản cư. - 1951: - Dân quân du kích đốt Cầu Ngói để đề phòng giặc đi qua càn quét các nơi. - 1951 (14-8 Tân Mão): - Pháp ném bom Trinh Hà (Thanh Hóa), nơi dân làng ta tản cư, nhiều gia đình có người chết trong trận bom này (46 người). - 1951: - Diệt phá tề, trừ gian. - 28-5 > 20-6-1951: - Chiến dịch Hà Nam Ninh (còn gọi là chiến dịch Quang Trung). - 22-4-1953 (10-3-Quý Tị): - Giặc Pháp hun hang Trinh Nữ, nhiều cán bộ người làng hi sinh và bị giặc bắt. - 8-1953: - Pháp ném bom chợ Đừng, Phúc Khê (Thanh Hóa), nơi dân làng ta tản cư, có nhiều người chết. - 1953 - 1954: - Chiến dịch Hải Âu (Mouette),Tây Nam Ninh Bình, của Pháp thất bại. - 1954: - Pháp ném bom Làng Nộn Khê trước khi rút khỏi Việt Nam, có nhiều người chết. Ngôi Đình trong bị phá hủy trong trận bom này. - 7-5-1954: - Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. - 20-7-1954: - Hiệp định Genève (Thụy Sĩ) lập lại hòa bình ở Đông Dương. - Dân làng từ các nơi hồi cư về Làng, xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình. Một số gia đình ở lại Thanh Hóa; một số xuống thị xã Phát Diệm làm nghề thủ công, hiện có hơn 100 gia đình người Làng Nộn Khê đang sinh sống ở đây; một số gia đình khác định cư tại các thành phố Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên v.v…, mỗi nơi cũng tới 50 - 70 hộ (con số chính xác xin nhờ các hội đồng hương thống kê). - 11-1957: -Tách xã Yên Nhân thành hai xã Yên Nhân và Yên Từ. Xã Yên Từ gồm có Nộn Khê, Quảng Từ, Dân Chủ, Xuân Đồng, Phương Nại, Trung Đồng. - 1955: - Trường PT cấp II Nguyễn Quốc Ân về đóng tại Xóm Muồng (Vân Mộng), Yên Phong. HS làng học ở đây. - 1955: - Thành lập Trường PT cấp I xã nhà (Yên Nhân cũ). - 1956: - Phát động quần chúng Giảm tô và Cải cách ruộng đất. - 1958: - Thành lập tổ đổi công. - 1959-1960: - Mở rộng sông Trinh (nằm trong hệ thống sông Bến Đang). Phủ Nuốn nằm trong lòng sông nên phải dỡ đi, sau này Phủ được xây dựng lại cạnh chùa như hiện nay. - 1960: - Thành lập các hợp tác xã theo qui mô xóm (sân kho là sân Điếm các xóm). Hợp tác xã Xóm Cầu đã chặt cây Đa Chợ Hôm (cây Đa 500 năm tuổi, cao to nhất huyện Yên Mô) để lấy đất làm sân kho của HTX. Một trong những niềm tự hào của Làng Nộn Khê đã đi vào dĩ vãng! - 1960 - 1961: - Thành lập Trường PT cấp II Yên Từ. - 6-1961: Thành lập HTX Nông nghiệp Phương Đông, gồm các hộ SX nông nghiệp của làng Nộn Khê và HTX Thủ công Thống Nhất, gồm các hộ dêt vải của Làng Nộn Khê. Hợp tác xã Thống Nhất sau đó chuyển từ nghề dệt vải sang nghề thảm cói, văn hóa truyền thống cũng thay đổi theo. - 1961: - Thành lập Trường PT cấp III Kim Sơn, nơi học sinh làng Nộn Khê học rất đông. - 1964: - Thành lập Trường PT cấp III Tạ Uyên, Yên Mô (tồn tại đến năm 1971 thì chia thành Yên Mô A và Yên Mô B). - 5-8-1964: - Sự kiện "Vịnh Bắc Bộ". - Cuộc Kháng chiến chống Mĩ cứu nước. - 10-1966: -Sáp nhập hai HTX Phương Đông (của Nộn Khê) và Bình Minh (của Quảng Từ) thành HTX Bình Minh. Khi đó toàn xã có ba HTX là Thống Nhất, Bình Minh và Liên Phương. - 1966: - HTX nông nghiệp cho phá Văn Chỉ để mở rộng sân đình làm sân kho của đội xóm Cầu, bao gồm các hộ xóm Cầu cũ và 1/2 xóm Chung (tính từ ngõ vào nhà Duệ trở lại). - 7-1966 (10-6-ÂL): - Đế quốc Mĩ ném bom Cầu Nuốn, Nộn Khê, có nhiều người chết. - 1967: - Cũng HTX đã chặt hạ cây Nhãn đình 500 năm tuổi, vì trong trận bão có một cành to cỡ người ôm bị gãy, làm sập nhà kho HTX Nông nghiệp. Từ đây, một trong những niềm tự hào của Làng, nhất là của các thế hệ tuổi thơ, không còn nữa! - 01-1967: - Thành lập Thị trấn Nông trường Đồng Giao, thuộc huyện Yên Mô. Tại đây, có nhiều gia đình người Nộn Khê cư trú. - 1971: - Trường PT cấp III B Yên Mô thành lập. Có nhiều GV và HS Nộn Khê dạy và học ở đây. - 1972: - Đế quốc Mĩ ném bom Cầu Bà Mụ, Phát Diệm, nhiều gia đình có nhiều người chết. - 12 - 1972: - Trận Điện Biên Phủ trên không. - 27-1-1973: - Hiệp định Paris về Việt Nam. - 02-1974: - Giải thể Thị trấn Nông trường Đồng Giao, thành lập thị trấn Tam Điệp trực thuộc Tỉnh. - 30-4-1975: - Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Con em Làng Nộn Khê tiếp tục đi khắp mọi miền đất nước để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một số người đã định cư tại nơi ở mới. Hằng năm, vào dịp Báo bản, bà con đồng hương ở các nơi lại về thăm quê và dự Lễ hội. - 1976: - Quy tập mộ về Nghĩa trang Làng bên bờ sông Trinh. - 1976: - Thực hiện chủ trương quy hoạch lại đồng ruộng, các mồ mả nằm rải rác được quy tập về Nghĩa trang cuối Làng, bên bờ sông Trinh như hiện nay. Cùng với việc trên, con đường Ngự Đạo (đường rước kiệu, uốn lượn như hình con Rồng) và con mương tiêu từ đường Hồng tới cầu Nuốn được nắn thẳng, tuy tiện lợi cho sản xuất, nhưng cũng mất vẻ đẹp của văn hóa tâm linh truyền thống. - 3-2-1976 - 1977: - Dỡ Miếu, xây dựng Hội trường và Cầu CLB Thống Nhất (tức là Nhà Văn hóa Làng hiện nay). - 23-5-1977: - Xã Yên Từ sáp nhập với xã Yên Phong, lấy tên là Yên Phong (trừ Phương Nại và Trung Đồng cắt về xã Yên Nhân). Các cơ quan, trường học thuộc xã Yên Từ cũ được gọi là... Yên Phong B. - 22-7-1977: - Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 125/CP thành lập huyện Tam Điệp, bao gồm huyện Yên Mô, 9 xã phía bắc huyện Yên Khánh và thị trấn Tam Điệp. Đồng thời, theo chủ trương của trên, một số hộ thủ công dời lên Yên Bình, thành lập HTX sản xuất Gốm; một số gia đình khác lên thị trấn Tam điệp thành lập HTX sản xuất Mành trúc; một số người tham giây dựng Xí nghiệp Mộc ở chợ Bến; một số gia đình khác chuyển vào khu kinh tế mới ở Gia Lai - Kon Tum (do Ban kinh tế mới của Huyện đưa đi). - 12-1978 > 1-1979: - Chiến tranh biên giới Tây Nam, giải phóng Căm-pu-chia. - 17-2 >18-3-1979: - Chiến tranh biên giới phía Bắc, chống bọn bành trướng Trung Quốc. - 1980-1981: - Sáp nhập Trường cấp I Yên Từ với trường cấp II Yên Từ thành trường PTCS Yên Từ (khi đó còn đang gọi là trường PTCS Yên Phong B). - 12-1981: - Thành lập Thị xã Tam Điệp, bao gồm Thị trấn Tam điệp, xã Yên Sơn, HTX Mùa Thu của xã Yên Đồng, và xã Yên Bình (phần nằm phía tây sông Ghềnh). Làng Nộn Khê có hơn 100 hộ đang sinh sống tại đây. - 1982 ?: - Khôi phục Lễ Báo Bản truyền thống đã có từ xưa. - 1982: - Đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch Nước CHXHCN VN - tặng HTX thủ công Thống Nhất. - 1983: - Thành lập CLB Văn hóa Nộn Khê, trong đó có CLB Thơ. - 11-3-1984: - Tái lập xã Yên Từ, do chia tách từ xã Yên Phong, gồm Nộn Khê, Quảng Từ, Xuân Đồng, Dân Chủ, Phúc Lại, Sa Lung và Phúc Khê (theo Quyết định sô 02-QĐ/HĐBT). Trường PTCS Yên Phong B cũng được đổi tên thành Trường PTCS Yên Từ. (Theo NXH: 10-01-1984)? - 1987 (Đinh Mão): - Tổ chức quy mô Lễ hội Báo bản. - 1990 -1991: - Tách trường PTCS Yên Từ thành hai trường: Tiểu học Yên Từ và THCS Yên Từ. - 1992 - 1993: - Làm Cầu bê-tông tại vị trí Cầu Ngói xưa kia. - 1993: - Dân làng đi kêu xin thêm ruộng đất không thành. - 1993: - Giải thể HTX Thủ công. - 1993: - Sửa Đình Làng lần thứ nhất. - 1998: - Thành lập thị trấn Yên Thịnh, Yên Mô. Tại đây có nhiều gia đình và con em người Nộn Khê sinh sống và công tác. - 2-9-1998: - Tôn tạo lại toàn bộ hệ thống đường làng (sửa nền gạch, đổ béton...) - 26-2-1999: - Được công nhận Làng Văn hóa cấp Tỉnh (QĐ.04.CN.VH. của UBND NB). - 12-2000: - Trường Tiểu học Yên Từ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là Trường chuẩn Quốc gia. - 6-2-2002: - Đoàn công tác Chính phủ do Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh dẫn đầu, về thăm và làm việc tại Làng. - 16-5-2002 (5-4-Nhâm Ngọ): - Khánh thành Nhà Văn hóa Xóm Cầu. - 19-11-2002: - Bằng khen của Bộ Văn hóa - Thông tin cho Nhà Văn hóa Nộn Khê (QĐ.3920.VHTT). - 20-11-2002: - Thành lập Tổ Nhà giáo hưu trí Nộn Khê (có 54 người). - 13-2-2003: - Thành lập Hội Khuyến học Nộn Khê và Quỹ khen thưởng HS đỗ ĐH-CĐ hoặc đạt danh hiệu HS Giỏi. - 3-3-2003: - Đoàn công tác tỉnh Yên Bái về thăm và làm việc tại Làng. - 20-1-2004: - Công nhận Đình Làng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh (QĐ.157.UB, 16-1-2004). - 1-4-2004: - Khánh thành Nhà Văn hóa Xóm Chùa. - 1-2005 (12-Giáp Thân): - Khánh thành đại tu Chùa Nghiêm Khánh (Nộn Khê). - 2005: - Phục hồi chợ đêm Cổng Đình trong Lễ hội Báo Bản. - 2005: - Bằng khen của Bộ Văn hóa - thông tin về xây dựng đời sống văn hóa (QĐ.8563.VHTT). - 3-2-2007: - Khánh thành Cổng Làng mới. Kinh phí xây dựng do thế hệ U50+5 đóng góp. - 15-7-2007: - Bằng khen về xây dựng làng Khuyến học (KHNB). - 2007: - Bức trướng của Huyện tặng Phong trào khuyến học Làng Nộn Khê (2006-2007). - 30-4-2009: - Khánh thành Nhà văn hóa Xóm Chung. - 2010 (Canh Dần): - * Kỉ niệm 540 năm Làng Nộn Khê. - Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội *. - 23-8-2010: - Lập trang Web NonKhe.net, quảng bá hình ảnh Làng Nộn Khê ra khu vực và thế giới. - 24-9-2010: - Hội Khuyến học Tỉnh công nhận Làng Khuyến học (QĐ.10.KHNB). - 2010: - Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết về thăm một gia đình trong Làng. - 16-9-2010: - Được công nhận và được cấp Bằng Làng nghề tiểu thủ công (QĐ.861.UBND.NB). - 24-9-2010: - Đón nhận Bằng khen, cờ và danh hiệu Công đồng hiếu học cấp Tỉnh, Huyện. - 2010-2011: - Trường THCS Yên Từ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là Trường chuẩn Quốc gia.

- 23-2-2011: - Được Chủ tịch Nước CHXHCNVN tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (QĐ.220, Sổ vàng số 21). - 2012: - Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. - 23-11-2012 (13-10-Nhâm Thìn): - Bắt đầu trùng tu Đình Làng (QĐ số 2883/UB.YM, ngày 26-10-2012). - 23-02-2013 (14-01 Quý Tị): - Khánh thành trùng tu Đình Làng trong dịp Lễ hội Báo bản. - 24-6-2013: Ban Chấp hành TƯ Hội Khuyến học VN tặng Bằng khen Hội Khuyến học Làng Nộn Khê. (Quyết định số 121/QĐ. KHVN).

Các xóm[sửa | sửa mã nguồn]

+ Nộn Khê có các xóm: - Xóm Thượng, xóm Cầu, xóm Chùa, xóm Chung.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Nộn Khê hằng năm có lễ hội truyền thống "Báo bản", hướng về cội nguồn, báo đền công đức Tổ tiên, đền ơn đáp nghĩa những con em trong làng đã hi sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng đân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Lễ hội có sức thu hút đông đảo người tham gia từ các vùng miền xung quanh[5]. Lễ hội gồm hai phần: Phần Lễ có tế cổ điển (nam quan, nữ quan) tại Đình Làng, Rước kiệu quanh Làng, Dâng hương các vị tiên hiền, các liệt sĩ tại Đình Làng, Lễ mừng thọ người cao tuổi tại Nhà Văn hóa 4 xóm... Phần Hội có Dạ hội văn nghệ "Tiếng hát quê hương", Sinh hoạt Câu lạc bộ Thơ, Sinh vật cảnh (cây cảnh, chim cảnh), Chợ đêm Cổng Đình (2 tối), Thi đấu thể thao (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông...), Các trò chơi dân gian (thi tay nghề, cờ tướng, tổ tôm điếm, chọi gà, đu quay, ném vòng...)

Tưởng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Nộn Khê đã được Nhà nước: 1. Công nhận Làng Văn hóa cấp Tỉnh. 2. Công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh ngôi Đình của Làng. 3. Tặng Bằng khen của Bộ Văn hóa - Thông tin. 4. Công nhận và cấp "Bằng Làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công", theo Quyết định số 861/20 /QĐ-UBND, ngày 16-9-2010 của UBND tỉnh Ninh Bình. 5. Tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, do Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam kí, theo Quyết định số 220, ngày 23-2-2011, vào Sổ vàng số 21. 6. Được Hội Khuyến học tỉnh Ninh Bình công nhận là "Làng Khuyến học" cùng nhiều bằng khen về phong trào khuyến học. 7. Xem thêm tại mục "NIÊN BIỂU" ở trên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ. 
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam. 
  3. ^ a ă â b c Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 2-HĐBT ngày 10-1-1984 về việc phân vạch địa giới một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. 
  4. ^ Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để mở rộng thị trấn Yên Ninh thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. 
  5. ^ a ă â .Lễ hội báo bản Nộn Khê
  6. ^ Lịch sử Việt Nam - Tập I. NXB.KHXH - Hà Nội, 1971, tr. 263

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]