Yên Từ, Yên Mô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Yên Từ là một thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Trụ sở xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 22 km. Xã này nằm trên quốc lộ 12B. Đây cũng là một xã nằm bên bờ sông Vạc.


Yên Từ, Yên Mô
Tỉnh/Thành phố Ninh Bình
Quận/Huyện/Thị xã Yên Mô
Diện tích 5,23 km²
Số dân 7.502 người (1999)[1]
Mật độ dân số 1.434 người/km²
Mã đơn vị hành chính 14728[2]
Mã bưu chính

Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Yên Từ được thành lập năm 1984 trên cơ sở chia xã Yên Phong (lúc đó thuộc huyện Tam Điệp) thành 2 xã lấy tên là xã Yên Phong và xã Yên Từ[3].

Xã Yên Từ có diện tích: 5,23 km²[1]. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, xã Yên Từ có dân số 7.502 người[1].

  • Mật độ dân số: 1434 người/km²

Địa giới của xã Yên Từ:

Chợ Nuốn (Nuốn là tên gọi nôm na làng Nộn Khê), Làng Nộn Khê, Xã Yên Từ, là 1 trong 7 chợ ở Yên Mô trong danh sách các chợ loại 1, 2, 3 ở Ninh Bình.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Yên Từ có các thôn, làng sau đây: làng Phúc Lại, thôn Sa Lung, thôn Phúc Khê, thôn Xuân Đồng, làng Quảng Từ, làng Nộn Khê và thôn Dân Chủ[3] (nằm ven sông Trinh - sông bắt nguồn từ sông Đáy). + Các xóm: - Xóm Thượng, Cầu, Chùa, Chung (thuộc làng Nộn Khê); - Xóm Đông, Tây (thuộc làng Quảng Từ); - Xóm Một, Hai (thuộc làng Phúc Lại).

Làng Nộn Khê[sửa | sửa mã nguồn]

Nộn Khê là tên một làng cổ thuộc xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam[5].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng Chi Lăng năm 1427, quân Minh bị thua và rút về nước. Chính quyền phong kiến bấy giờ có chính sách Dinh điền tức là nhà nước khuyến khích việc lập ấp, lập đồn điền và các công trình lấn biển khai hoang. Những người nông dân được trở về quê quán, cày xới ruộng đất bị bỏ hoang. Lúc đó một số người từ đất Lục Nộn, Nam Châu (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), di chuyển vào vùng đất bồi ven đê Hồng Đức, lập ấp, đặt tên làng là Nộn Khê (vào năm Canh Dần - 1470, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên, triều vua Lê Thánh Tông), để ghi nhớ quê cũ Lục Nộn và Côi Khê (là nơi gần chỗ ở mới đến). Nộn là non trẻ, Khê là khe suối. Nộn Khê nghĩa là dòng suối mới khai dòng còn non trẻ[5][6].

Ngày nay làng Nộn Khê, phía Bắc giáp làng Quảng Phúc (xã Yên Phong, Yên Mô), phía Đông giáp làng Quảng Từ (cùng xã Yên Từ, Yên Mô); phía Nam giáp thôn Dân Chủ và sông Đào, bên kia sông là làng Bình Hải (xã Yên Nhân, Yên Mô), phía Tây là sông Trinh và cánh đồng của làng, bên kia cánh đồng là làng Côi Trì (xã Yên Mĩ, Yên Mô).

Nộn Khê trước kia có nghề truyền thống là nghề làm ruộng và nghề thủ công dệt vải, ngày nay nghề thủ công đổi sang chế biến cói xuất khẩu (như dóc cói, khâu thảm (tapi), đan làn...). Ngoài ra, còn có nhiều người làm các nghề dịch vụ truyền thống khác, như gói bán giò trứng, mọc luộc (đặc sản Nộn Khê), v.v...

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Nộn Khê hằng năm có lễ hội truyền thống "Báo bản", hướng về cội nguồn, báo đền công đức Tổ tiên, đền ơn đáp nghĩa những con em trong làng đã hi sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng đân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Lễ hội có sức thu hút đông đảo người tham gia từ các vùng miền xung quanh[5]. Lễ hội gồm hai phần: Phần Lễ có tế cổ điển (nam quan, nữ quan) tại Đình Làng, Rước kiệu quanh Làng, Dâng hương các vị tiên hiền, các liệt sĩ tại Đình Làng, Lễ mừng thọ người cao tuổi tại Nhà Văn hóa 4 xóm... Phần Hội có Dạ hội văn nghệ "Tiếng hát quê hương", Sinh hoạt Câu lạc bộ Thơ, Sinh vật cảnh (cây cảnh, chim cảnh), Chợ đêm Cổng Đình (2 tối), Thi đấu thể thao (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông...), Các trò chơi dân gian (thi tay nghề, cờ tướng, tổ tôm điếm, chọi gà, đu quay, ném vòng...)

Tưởng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Nộn Khê đã được Nhà nước: 1. Công nhận Làng Văn hóa cấp Tỉnh. 2. Công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh ngôi Đình của Làng. 3. Tặng Bằng khen của Bộ Văn hóa - Thông tin. 4. Công nhận và cấp "Bằng Làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công", theo Quyết định số 861/20 /QĐ-UBND, ngày 16-9-2010 của UBND tỉnh Ninh Bình. 5. Tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, do Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam kí, theo Quyết định số 220, ngày 23-2-2011, vào Sổ vàng số 21. 6. Được Hội Khuyến học tỉnh Ninh Bình công nhận là "Làng Khuyến học" cùng nhiều bằng khen về phong trào khuyến học. 7. Xem thêm tại mục "NIÊN BIỂU" ở trên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ. 
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam. 
  3. ^ a ă â b c Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 2-HĐBT ngày 10-1-1984 về việc phân vạch địa giới một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. 
  4. ^ Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để mở rộng thị trấn Yên Ninh thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. 
  5. ^ a ă â .Lễ hội báo bản Nộn Khê
  6. ^ Lịch sử Việt Nam - Tập I. NXB.KHXH - Hà Nội, 1971, tr. 263

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]