Yūbari (tàu tuần dương Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yubari n09957.jpg
Tàu tuần dương Yūbari vào năm 1924
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt hàng: tháng 10 năm 1921
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Sasebo
Đặt lườn: 5 tháng 6 năm 1922
Hạ thủy: 5 tháng 3 năm 1923
Hoạt động: 23 tháng 7 năm 1923
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ Bluegill đánh chìm ngày 28 tháng 4 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương hạng nhẹ riêng lẻ
Trọng tải choán nước: 2.890 tấn (tiêu chuẩn) (thiết kế);
3.141 tấn (đầy tải) (thiết kế)
4.075 tấn (đầy tải) (thực tế)
Độ dài: 138,9 m (455 ft 8 in)
Sườn ngang: 12,04 m (39 ft 6 in)
Mớn nước: 3,58 m (11 ft 9 in)
Động cơ đẩy: 3 × turbine hơi nước
8 × nồi hơi Kampon
3 × trục
công suất 57.750 mã lực (43,1 MW)
Tốc độ: 65,7 km/h (35,5 knot)
Tầm xa: 9.300 km ở tốc độ 26 km/h
(5.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Vũ trang: 6 × pháo 140 mm (5,5 inch) (2×2, 2×1),
1 × pháo phòng không 76,2 (3 inch),
2 × súng máy, 4 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 inch) (2×2),
34 × mìn sâu
Bọc giáp: đai giáp 38 mm (1,5 inch)
sàn tàu 25 mm (1 inch)
tháp pháo 25 mm (1 inch)

Yūbari (tiếng Nhật: 夕張) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Đế quốc Nhật Bản được chế tạo trong những năm 1922-1923. Là chiếc duy nhất trong lớp của nó, Yūbari đã được đưa ra hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngoài khơi Palau vào ngày 27 tháng 4 năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Yūbari được thiết kế như một tàu tuần dương tuần tiễu thử nghiệm, có những khả năng tác chiến như một tàu tuần dương hạng nhẹ Nhật với lượng rẽ nước tiêu chuẩn 5.000 tấn trên một lườn tàu nhẹ hơn nhiều. Con tàu được thiết kế bởi Đô đốc Yuzuru Hiraga. Các khẩu pháo chính được bố trí trên trục giữa tàu trên những tháp pháo, và lớp vỏ giáp được tích hợp vào cấu trúc lườn tàu. Tháp chỉ huy được thiết kế nhô ra đáng kể nhằm tăng khả năng đi biển. Hệ thống động lực của tàu khu trục được trang bị nhằm tiết kiệm trọng lượng, với tám nồi hơi Kampon đốt dầu gom vào một ống khói chung lớn.

Yūbari được hoàn tất với lượng rẽ nước vượt quá 419 tấn (13%) so với tải trọng thiết kế, đưa đến hậu quả tầm nước sâu hơn 0,3 m (1 ft) và tốc độ giảm bớt 2,8 km/h (1,5 knot) so với tốc độ thiết kế. Dù sao, con tàu vẫn được xem là thành công, khi nhiều đặc tính của nó được áp dụng trên các tàu chiến Nhật Bản sau này.

Yūbari được tái trang bị đánh kể vào đầu năm 1944 khi hai tháp pháo nòng đơn 140 mm (5,5 inch) được tháo bỏ, và một khẩu đội phòng không 120 mm (4,7 inch) được bổ sung tại vị trí "A" cùng sáu khẩu đội nòng đôi và một khẩu đội ba nòng phòng không 25 mm được tăng cường cùng với radarthủy lôi.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Yūbari phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai khi nó hoạt động như là soái hạm của lực lượng Nhật Bản tấn công đảo Wake. Nó đã dẫn đầu trong cả hai lần nỗ lực tấn công vào các ngày 1123 tháng 12 năm 1941, và đã bị hư hại do hỏa lực pháo phòng vệ duyên hải của lực lượng Thủy quân Lục chiến trong lần thứ nhất.

Yūbari bị đánh chìm vào ngày 27 tháng 4 năm 1944 ngoài khơi Palau bởi tàu ngầm Mỹ Bluegill.

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Frido G Kip - The Japanese Experimental Light Cruiser Yubari - in Warship 1999-2000, Conway's Maritime Press