Yamashiro (thiết giáp hạm Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese battleships Yamashiro, Fuso and Haruna.jpg
Thiết giáp hạm Yamashiro cùng với FusōHaruna (phía xa hơn) trong vịnh Tokyo, những năm 1930.
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt tên theo: tỉnh Yamashiro
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Yokosuka
Đặt lườn: 20 tháng 11 năm 1913
Hạ thủy: 3 tháng 11 năm 1915
Hoạt động: 31 tháng 3 năm 1917
Số phận: Bị đánh chìm trong trận chiến eo biển Surigao ngày 25 tháng 10 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Fusō
Trọng tải choán nước: 39.154 tấn
Độ dài: 213 m (698 ft 10 in)
Sườn ngang: 30,6 m (100 ft 5 in)
Mớn nước: 9,68 m (31 ft 9 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Brown-Curtis
24 × nồi hơi đốt than
(sau cải biến thành 6 × nồi hơi đốt dầu)
4 × trục
công suất 40.000 mã lực (29,8 MW)
(sau cải biến: 75.000 mã lực - 55,9 MW)
Tốc độ: 46,3 km/h (25 knot)
Tầm xa: 14.800 km ở tốc độ 26 km/h
(8.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.400
Vũ trang: 12 × pháo Vickers 356 mm (14 inch)
16 × pháo 152 mm (6 inch),
8 × pháo 127 mm (5 inch) đa dụng,
cho đến 92 × pháo phòng không 25 mm
cho đến 16 × súng phòng không 13 mm

Yamashiro (tiếng Nhật: 山城, Sơn Thành) là chiếc thiết giáp hạm thứ hai thuộc lớp Fusō của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và đã bị đánh chìm năm 1944 trong Thế Chiến II.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là chiếc thiết giáp hạm thứ hai thuộc lớp Fusō, Yamashiro được đặt lườn tại Xưởng hải quân Yokosuka vào ngày 20 tháng 11 năm 1913, được hạ thủy vào ngày 3 tháng 11 năm 1915, và được đưa vào hoạt động ngày 31 tháng 3 năm 1917. Nó là chiếc tàu chiến Nhật đầu tiên được trang bị một máy phóng để phóng máy bay. Con tàu được đặt tên theo tỉnh nơi có thành phố Kyoto.

Chiếc Yamashiro được cải tạo lại từ tháng 12 năm 1930 đến tháng 3 năm 1935. 24 lò đốt Mijabara dùng than ban đầu với tổng công suất 24.000 mã lực được thay thế bằng sáu lò đốt dầu Kanpon tổng công suất 75.000 mã lực. Nó được trang bị thêm đai giáp chống ngư lôi, làm gia tăng chiều ngang mạn tàu từ 28,7 m (94 ft) lên 30,6 m (100 ft 5 in). Đuôi tàu được kéo dài thêm 7,3 m (24 ft) để cải thiện tỉ lệ tương xứng và phục hồi tốc độ bị mất. Vỏ giáp sàn tàu được làm dày thêm đến tổng cộng 180 mm (7 inch) trên cả ba sàn tàu. Góc nâng của các khẩu pháo chính được gia tăng từ 30 độ lên 43 độ. Ống khói phía trước được tháo bỏ, nhưng được phục hồi lại và cải tiến sau đó. Chiếc Yamashiro có điểm hơi khác biệt so với chiếc tàu chị em Fusō trong cách sắp xếp các tháp pháo; bằng cách thay đổi "góc chết" của tháp pháo "C" từ phía trước ra phía sau, dành chỗ trên sàn tàu cho cấu trúc thượng tầng lớn hơn. Nó còn được bổ sung tám khẩu pháo phòng không hạng nặng 127 mm/40 (5-inch), bố trí thành cặp mỗi bên cầu tàu phía trước và phía trên sau tháp chỉ huy.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Bản vẽ chiếc Yamashiro như nó hiện hữu vào năm 1944.

Trong trận chiến eo biển Surigao ngày 25 tháng 10 năm 1944, sau khi các tàu chiến khác bị hư hại, Yamashiro quyết định xung trận và tiến thẳng vào đội hình các thiết giáp hạm Mỹ, lúc này đã xoay ngang chặn theo kiểu "hình chữ T" cổ điển rồi dội xuống Yamashiro nhiều quả đạn pháo 14" và 16", hủy hoại nó trong vòng ít hơn 30 phút. Yamashiro' cuối cùng bị đánh chìm bởi ngư lôi phóng từ một tàu khu trục Mỹ khi nó tìm cách rút lui khỏi chiến trường, với rất ít người còn sống sót. Các cuộc điều tra sau đó kết luận rằng đó là chiến công của tàu khu trục USS Melvin.

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]