Yūdachi (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Yudachi (tàu khu trục Nhật))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yudachi II.jpg
Tàu khu trục Yudachi trên đường đi, 30 tháng 11 năm 1936
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Yudachi
Đặt hàng: Năm tài chính 1931
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Sasebo
Đặt lườn: 16 tháng 10 năm 1934
Hạ thủy: 11 tháng 6 năm 1936
Nhập biên chế: 7 tháng 1 năm 1937
Xóa đăng bạ: 15 tháng 12 năm 1942
Số phận: Bị đánh chìm trong trận Hải chiến Guadalcanal phía Tây Nam đảo Savo, 13 tháng 11 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu khu trục Shiratsuyu
Trọng tải choán nước: 1.685 tấn Anh (1.712 t) (tiêu chuẩn)
Độ dài: 103,5 m (340 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (mực nước)
107,5 m (352 ft 8 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (chung)
Sườn ngang: 9,9 m (32 ft 6 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Mớn nước: 3,5 m (11 ft 6 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Kampon
3 × nồi hơi
2 × trục
công suất 42.000 hp (31.000 kW)
Tốc độ: 34 hải lý một giờ (39 mph; 63 km/h) (ban đầu),
33,3 hải lý một giờ (38,3 mph; 61,7 km/h)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (sau cải biến)
Tầm xa: 4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 14 hải lý một giờ (26 km/h)
Tầm hoạt động: 460 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
226
Vũ trang: 5 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (2×2, 1×1)
2 × pháo phòng không 13 mm
8 × ống phóng ngư lôi 24 in (610 mm)
16 × mìn sâu

Yudachi (tiếng Nhật: 夕立) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp tàu khu trục Shiratsuyu bao gồm mười chiếc. Yudachi đã từng tham gia nhiều hoạt động trong giai đoạn đầu của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước khi bị đánh chìm trong trận Hải chiến Guadalcanal phía Tây Nam đảo Savo, vào ngày 13 tháng 11 năm 1942.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu khu trục Shiratsuyu là phiên bản cải tiến dựa trên lớp tàu khu trục Hatsuharu, được thiết kế để tháp tùng lực lượng tấn công chủ lực của Hải quân Nhật Bản, và để tiến hành những cuộc tấn công cả ngày và đêm bằng ngư lôi nhằm vào Hải quân Hoa Kỳ khi chúng vượt băng qua Thái Bình Dương, theo kế hoạch của học thuyết chiến lược hải quân Nhật Bản.[1] Mặc dù là một trong những lớp tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới khi hoàn tất, không có chiếc nào sống sót qua cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.[2]

Yudachi là chiếc thứ tư trong số sáu tàu khu trục được chế tạo trong Chương trình Bổ sung Vũ khí Hải quân Nhật Bản (1931) (Maru Ichi Keikaku);[3] nó được đặt lườn tại Xưởng hải quân Sasebo vào ngày 16 tháng 10 năm 1934, được hạ thủy vào ngày 11 tháng 6 năm 1936, và được đưa ra hoạt động vào ngày 7 tháng 1 năm 1937.[4]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc Tấn công Trân Châu Cảng, Yudachi được phân về Đội 2 của Hải đội Khu trục 4 trực thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản cùng với các tàu chị em Murasame, HarusameSamidare; và đã khởi hành từ Quân khu Bảo vệ Mako tham gia cuộc chiếm đóng Philippines ("Chiến dịch M").

Từ tháng 1 năm 1942, Yudachi tham gia các hoạt động tại Đông Ấn thuộc Hà Lan, bao gồm việc chiếm đóng đảo Tarakan, Balikpapan và phía Đông Java. Trong Trận chiến biển Java, Yudachi đối đầu cùng một nhóm tàu tuần dương và tàu khu trục Đồng Minh. Quay trở lại vịnh Subic ở Philippines vào ngày 16 tháng 3, nó đã hỗ trợ cho cuộc phong tỏa vịnh Manila và chiếm đóng Cebu, rồi quay trở về Xưởng hải quân Yokosuka để sửa chữa vào đầu tháng 5. Trong trận Midway vào các ngày 46 tháng 6, nó nằm trong thành phần lực lượng đổ bộ lên Midway dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Nobutake Kondō.

Từ giữa tháng 6, Yudachi được điều sang Mergui ngang qua Singapore để gia nhập lực lượng dự định tấn công Ấn Độ Dương, nhưng chiến dịch này bị hủy bỏ do cuộc đổ bộ tại Guadalcanal. Yudachi đi đến quần đảo Shortland Island vào ngày 30 tháng 8, và lập tức được giao nhiệm vụ vận chuyển tốc độ cao "Tốc hành Tokyo" đến Guadalcanal. Trong một chuyến đi như vậy vào ngày 4-5 tháng 9, Yudachi đã giúp vào việc đánh chìm các tàu khu trục USS GregoryUSS Little. Yudachi tiếp tục các hoạt động tại Guadalcanal cho đến tháng 11, tham chiến một lúc ngắn trong trận chiến quần đảo Santa Cruz vào ngày 26 tháng 12 dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Takeo Kurita.

Trong đêm 1213 tháng 11 năm 1942, trong khuôn khổ trận Hải chiến Guadalcanal thứ nhất, Yudachi đã hộ tống Lực lượng Bắn phá của Chuẩn Đô đốc Abe Hiroaki. Là chiếc dẫn đầu của đội hình vào lúc bắt đầu trận đánh, Yudachi phải đổi chệch hướng để tránh các tàu chiến Mỹ, rồi nó phóng ngư lôi vào tàu tuần dương USS Portland. Sau khi Yudachi bị loại khỏi vòng chiến đấu bởi hỏa lực pháo của nhóm tàu chiến Mỹ, 207 người còn sống sót được triệt thoái bởi tàu chị em Samidare, nhưng đã không thể đánh đắm bằng ngư lôi. Xác tàu bị bỏ lại sau đó bị hải pháo của Portland đánh chìm về phía Đông Nam đảo Savo ở tọa độ 09°14′N 159°52′Đ / 9,233°N 159,867°Đ / -9.233; 159.867.

Yudachi được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 15 tháng 12 năm 1942.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peattie & Evans, Kaigun.
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Shiratsuyu class destroyers
  3. ^ Lengerer, trang 92-93
  4. ^ Nishidah, Hiroshi (2002). “Shiratsuyu class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lengerer, Hans (2007). The Japanese Destroyers of the Hatsuharu Class. Warship 2007. London: Conway. tr. 91–110. ISBN 1-84486-041-8. OCLC 77257764
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]