Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Truyền máu”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Tạo với bản dịch của trang “Blood transfusion”)
 
(fix ref)
Dòng 2: Dòng 2:


== Ứng dụng y học ==
== Ứng dụng y học ==
Về mặt lịch sử, truyền hồng cầu được xem xét khi mức  [[hemoglobin]] giảm xuống dưới 100&nbsp;g/L hoặc hematocrit giảm xuống dưới 30%.<ref>{{Chú thích tạp chí}}</ref><ref name="AABB2012">{{Chú thích tạp chí}}</ref> Bởi vì mỗi đơn vị máu mang theo rủi ro, mức độ kích hoạt thấp hơn 70-80 g/L hiện nay thường được sử dụng vì nó đã được chứng minh là bệnh nhân có kết quả tốt hơn.<ref name="AABBfive">{{Chú thích|title=Five Things Physicians and Patients Should Question}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí}}</ref> Việc sử dụng một đơn vị máu là tiêu chuẩn cho những người ở trong bệnh viện mà đang không bị chảy máu, sau đó điều trị tiếp theo với việc đánh giá lại và xem xét các triệu chứng và nồng độ hemoglobin. Bệnh nhân có độ bão hòa ôxy kém sẽ cần nhiều máu hơn. Lời khuyên về tư vấn là sử dụng truyền máu với tình trạng thiếu máu trầm trọng hơn là một phần do chứng cứ cho thấy kết quả sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu truyền máu dư thừa.<ref>{{Chú thích tạp chí}}</ref> Người ta có thể xem xét truyền máu cho những người có triệu chứng bệnh tim mạch như đau ngực hoặc hụt hơi. Trong trường hợp bệnh nhân có nồng độ hemoglobin thấp nhưng ổn định về tim mạch, lựa chọn bổ xung sắt là một lựa chọn ưu tiên dựa trên cả hiệu quả và tính an toàn.<ref>{{Chú thích tạp chí}}</ref> Các sản phẩm máu khác được truyền trong những điều kiện thích hợp, chẳng hạn như thiếu chất đông máu.
Về mặt lịch sử, truyền hồng cầu được xem xét khi mức  [[hemoglobin]] giảm xuống dưới 100&nbsp;g/L hoặc hematocrit giảm xuống dưới 30%.<ref>{{cite journal |vauthors=Adams RC, Lundy JS | year = 1942 | title = Anesthesia in cases of poor surgical risk. Some suggestions for decreasing risk | url = | journal = Surg Gynecol Obstet | volume = 74 | issue = | pages = 1011–1019 }}</ref><ref name=AABB2012>{{cite journal |vauthors=Carson JL, Grossman BJ, Kleinman S, Tinmouth AT, Marques MB, Fung MK, Holcomb JB, Illoh O, Kaplan LJ, Katz LM, Rao SV, Roback JD, Shander A, Tobian AA, Weinstein R, Swinton M, Djulbegovic B |others=Clinical Transfusion Medicine Committee of the, AABB|title=Red Blood Cell Transfusion: A Clinical Practice Guideline From the AABB|journal=Annals of Internal Medicine|date=Mar 26, 2012 |pmid=22751760 |doi=10.7326/0003-4819-157-1-201206190-00429 |volume=157 |pages=49–58}}</ref> Bởi vì mỗi đơn vị máu mang theo rủi ro, mức độ kích hoạt thấp hơn 70-80 g/L hiện nay thường được sử dụng vì nó đã được chứng minh là bệnh nhân có kết quả tốt hơn.<ref name="AABBfive">{{Citation |author1 = American Association of Blood Banks |author1-link = American Association of Blood Banks |date = 24 April 2014 |title = Five Things Physicians and Patients Should Question |publisher = American Association of Blood Banks |work = [[Choosing Wisely]]: an initiative of the [[ABIM Foundation]] |page = |url = http://www.choosingwisely.org/doctor-patient-lists/american-association-of-blood-banks/ |accessdate = 25 July 2014}}</ref><ref>{{Cite journal|last=Carson|first=Jeffrey L.|last2=Stanworth|first2=Simon J.|last3=Roubinian|first3=Nareg|last4=Fergusson|first4=Dean A.|last5=Triulzi|first5=Darrell|last6=Doree|first6=Carolyn|last7=Hebert|first7=Paul C.|date=2016-10-12|title=Transfusion thresholds and other strategies for guiding allogeneic red blood cell transfusion|journal=The Cochrane Database of Systematic Reviews|volume=10|pages=CD002042|doi=10.1002/14651858.CD002042.pub4|issn=1469-493X|pmid=27731885}}</ref> Việc sử dụng một đơn vị máu là tiêu chuẩn cho những người ở trong bệnh viện mà đang không bị chảy máu, sau đó điều trị tiếp theo với việc đánh giá lại và xem xét các triệu chứng và nồng độ hemoglobin<ref name="AABBfive" />. Bệnh nhân có độ bão hòa ôxy kém sẽ cần nhiều máu hơn. Lời khuyên về tư vấn là sử dụng truyền máu với tình trạng thiếu máu trầm trọng hơn là một phần do chứng cứ cho thấy kết quả sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu truyền máu dư thừa.<ref>{{cite journal|pmid=23281973|year=2013|last1=Villanueva|first1=C|last2=Colomo|first2=A|last3=Bosch|first3=A|last4=Concepción |first4=M|last5=Hernandez-Gea |first5=V |last6=Aracil |first6=C |last7=Graupera |first7=I |last8=Poca |first8=M |last9=Alvarez-Urturi |first9=C |last10=Gordillo |first10=J|last11=Guarner-Argente |first11=C |last12=Santaló |first12=M|last13=Muñiz|first13=E|last14=Guarner|first14=C|title=Transfusion strategies for acute upper gastrointestinal bleeding|volume=368|issue=1|pages=11–21|doi=10.1056/NEJMoa1211801|journal=The New England Journal of Medicine}}</ref> Người ta có thể xem xét truyền máu cho những người có triệu chứng bệnh tim mạch như đau ngực hoặc hụt hơi<ref name=AABB2012 />. Trong trường hợp bệnh nhân có nồng độ hemoglobin thấp nhưng ổn định về tim mạch, lựa chọn bổ xung sắt là một lựa chọn ưu tiên dựa trên cả hiệu quả và tính an toàn.<ref>{{Cite journal |url=http://www.gasche.at/pdf/IBD_Journal_2007.pdf |pmid=17985376 |year=2007 |last1=Gasche |first1=C |last2=Berstad|first2=A |last3=Befrits |first3=R |last4=Beglinger |first4=C |last5=Dignass |first5=A |last6=Erichsen |first6=K |last7=Gomollon |first7=F |last8=Hjortswang |first8=H |last9=Koutroubakis |first9=I |last10=Kulnigg |first10=S |last11=Oldenburg |first11=B |last12=Rampton |first12=D |last13=Schroeder |first13=O |last14=Stein |first14=J|last15=Travis|first15=S|last16=Van Assche|first16=G|title=Guidelines on the diagnosis and management of iron deficiency and anemia in inflammatory bowel diseases|volume=13|issue=12|pages=1545–53 |doi=10.1002/ibd.20285 |journal=Inflammatory bowel diseases}}</ref> Các sản phẩm máu khác được truyền trong những điều kiện thích hợp, chẳng hạn như thiếu chất đông máu.


== References ==
== References ==

Phiên bản lúc 10:28, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Truyền máu là quá trình nhận máu hoặc các sản phẩm máu vào hệ tuần hoàn theo đường tĩnh mạch. Truyền máu được sử dụng cho các điều kiện y tế khác nhau để thay thế các thành phần bị mất của máu. Truyền máu thời đầu sử dụng toàn bộ máu, nhưng thực hành y học hiện đại thường chỉ truyền các thành phần của máu, chẳng hạn như hồng cầu, bạch cầu, huyết tương, các thành phần chống đông, và tiểu cầu.

Ứng dụng y học

Về mặt lịch sử, truyền hồng cầu được xem xét khi mức  hemoglobin giảm xuống dưới 100 g/L hoặc hematocrit giảm xuống dưới 30%.[1][2] Bởi vì mỗi đơn vị máu mang theo rủi ro, mức độ kích hoạt thấp hơn 70-80 g/L hiện nay thường được sử dụng vì nó đã được chứng minh là bệnh nhân có kết quả tốt hơn.[3][4] Việc sử dụng một đơn vị máu là tiêu chuẩn cho những người ở trong bệnh viện mà đang không bị chảy máu, sau đó điều trị tiếp theo với việc đánh giá lại và xem xét các triệu chứng và nồng độ hemoglobin[3]. Bệnh nhân có độ bão hòa ôxy kém sẽ cần nhiều máu hơn. Lời khuyên về tư vấn là sử dụng truyền máu với tình trạng thiếu máu trầm trọng hơn là một phần do chứng cứ cho thấy kết quả sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu truyền máu dư thừa.[5] Người ta có thể xem xét truyền máu cho những người có triệu chứng bệnh tim mạch như đau ngực hoặc hụt hơi[2]. Trong trường hợp bệnh nhân có nồng độ hemoglobin thấp nhưng ổn định về tim mạch, lựa chọn bổ xung sắt là một lựa chọn ưu tiên dựa trên cả hiệu quả và tính an toàn.[6] Các sản phẩm máu khác được truyền trong những điều kiện thích hợp, chẳng hạn như thiếu chất đông máu.

References

  1. ^ Adams RC, Lundy JS (1942). “Anesthesia in cases of poor surgical risk. Some suggestions for decreasing risk”. Surg Gynecol Obstet. 74: 1011–1019.
  2. ^ a b Carson JL, Grossman BJ, Kleinman S, Tinmouth AT, Marques MB, Fung MK, Holcomb JB, Illoh O, Kaplan LJ, Katz LM, Rao SV, Roback JD, Shander A, Tobian AA, Weinstein R, Swinton M, Djulbegovic B (26 tháng 3 năm 2012). Clinical Transfusion Medicine Committee of the, AABB. “Red Blood Cell Transfusion: A Clinical Practice Guideline From the AABB”. Annals of Internal Medicine. 157: 49–58. doi:10.7326/0003-4819-157-1-201206190-00429. PMID 22751760.
  3. ^ a b American Association of Blood Banks (24 tháng 4 năm 2014), “Five Things Physicians and Patients Should Question”, Choosing Wisely: an initiative of the ABIM Foundation, American Association of Blood Banks, truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014
  4. ^ Carson, Jeffrey L.; Stanworth, Simon J.; Roubinian, Nareg; Fergusson, Dean A.; Triulzi, Darrell; Doree, Carolyn; Hebert, Paul C. (12 tháng 10 năm 2016). “Transfusion thresholds and other strategies for guiding allogeneic red blood cell transfusion”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 10: CD002042. doi:10.1002/14651858.CD002042.pub4. ISSN 1469-493X. PMID 27731885.
  5. ^ Villanueva, C; Colomo, A; Bosch, A; Concepción, M; Hernandez-Gea, V; Aracil, C; Graupera, I; Poca, M; Alvarez-Urturi, C; Gordillo, J; Guarner-Argente, C; Santaló, M; Muñiz, E; Guarner, C (2013). “Transfusion strategies for acute upper gastrointestinal bleeding”. The New England Journal of Medicine. 368 (1): 11–21. doi:10.1056/NEJMoa1211801. PMID 23281973.
  6. ^ Gasche, C; Berstad, A; Befrits, R; Beglinger, C; Dignass, A; Erichsen, K; Gomollon, F; Hjortswang, H; Koutroubakis, I; Kulnigg, S; Oldenburg, B; Rampton, D; Schroeder, O; Stein, J; Travis, S; Van Assche, G (2007). “Guidelines on the diagnosis and management of iron deficiency and anemia in inflammatory bowel diseases” (PDF). Inflammatory bowel diseases. 13 (12): 1545–53. doi:10.1002/ibd.20285. PMID 17985376.