Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Xét nghiệm COVID-19”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Không có tóm lược sửa đổi
Dòng 16: Dòng 16:
Có nhiều loại xét nghiệm tìm kiếm virus bằng cách phát hiện sự hiện diện của DNA của virus. Các loại này được gọi là các xét nghiệm ''phân tử''[[Sinh học phân tử|, đặt tên theo sinh học phân tử]]. {{Tính đến|2021}}, dạng xét nghiệm phân tử phổ biến nhất là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR).<ref name=":13">{{Chú thích tạp chí|last=Habibzadeh|first=Parham|last2=Mofatteh|first2=Mohammad|last3=Silawi|first3=Mohammad|last4=Ghavami|first4=Saeid|last5=Faghihi|first5=Mohammad Ali|date=2021-02-17|title=Molecular diagnostic assays for COVID-19: an overview|journal=Critical Reviews in Clinical Laboratory Sciences|pages=1–20|doi=10.1080/10408363.2021.1884640|issn=1549-781X|pmc=7898297|pmid=33595397}}</ref> Các phương pháp khác được sử dụng trong các thử nghiệm phân tử bao gồm [[Chỉnh sửa gen CRISPR|CRISPR]], [[Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic|khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt]], [[phản ứng chuỗi polymerase kỹ thuật số]], [[Kỹ thuật phân tích Mircoarray|phân tích microarray]] và giải [[Trình tự song song lớn|trình tự thế hệ tiếp theo]].
Có nhiều loại xét nghiệm tìm kiếm virus bằng cách phát hiện sự hiện diện của DNA của virus. Các loại này được gọi là các xét nghiệm ''phân tử''[[Sinh học phân tử|, đặt tên theo sinh học phân tử]]. {{Tính đến|2021}}, dạng xét nghiệm phân tử phổ biến nhất là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR).<ref name=":13">{{Chú thích tạp chí|last=Habibzadeh|first=Parham|last2=Mofatteh|first2=Mohammad|last3=Silawi|first3=Mohammad|last4=Ghavami|first4=Saeid|last5=Faghihi|first5=Mohammad Ali|date=2021-02-17|title=Molecular diagnostic assays for COVID-19: an overview|journal=Critical Reviews in Clinical Laboratory Sciences|pages=1–20|doi=10.1080/10408363.2021.1884640|issn=1549-781X|pmc=7898297|pmid=33595397}}</ref> Các phương pháp khác được sử dụng trong các thử nghiệm phân tử bao gồm [[Chỉnh sửa gen CRISPR|CRISPR]], [[Xét nghiệm khuếch đại axit nucleic|khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt]], [[phản ứng chuỗi polymerase kỹ thuật số]], [[Kỹ thuật phân tích Mircoarray|phân tích microarray]] và giải [[Trình tự song song lớn|trình tự thế hệ tiếp theo]].


==== Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (Reverse transcription polymerase chain reaction test, RT-PCR) ====
==== Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) ====
[[Phản ứng chuỗi polymerase]] (PCR) là một quá trình [[Quá trình nhân đôi DNA|khuếch đại]] [[DNA|(sao chép) một đoạn DNA]] nhỏ, được xác định rõ, lên hàng trăm nghìn lần, tạo ra lượng đủ để phân tích. Các mẫu thử nghiệm được xử lý bằng một số hóa chất<ref>{{Chú thích web|url=https://www.assaygenie.com/rna-extraction-for-covid-19-testing|tựa đề=RNA Extraction|nhà xuất bản=AssayGenie|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200506160731/https://www.assaygenie.com/rna-extraction-for-covid-19-testing|ngày lưu trữ=6 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=7 May 2020}}</ref><ref name="iaea_rt-pcr">{{Chú thích web|url=https://www.iaea.org/newscenter/news/how-is-the-covid-19-virus-detected-using-real-time-rt-pcr|tựa đề=How is the COVID-19 Virus Detected using Real Time RT-PCR?|ngày=27 March 2020|nhà xuất bản=IAEA|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200501180025/https://www.iaea.org/newscenter/news/how-is-the-covid-19-virus-detected-using-real-time-rt-pcr|ngày lưu trữ=1 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=5 May 2020}}</ref> cho phép tách chiết DNA. [[Enzyme phiên mã ngược|Phiên mã ngược]] chuyển [[RNA]] thành DNA.
[[Phản ứng chuỗi polymerase]] (PCR) là một quá trình [[Quá trình nhân đôi DNA|khuếch đại]] [[DNA|(sao chép) một đoạn DNA]] nhỏ, được xác định rõ, lên hàng trăm nghìn lần, tạo ra lượng đủ để phân tích. Các mẫu thử nghiệm được xử lý bằng một số hóa chất<ref>{{Chú thích web|url=https://www.assaygenie.com/rna-extraction-for-covid-19-testing|tựa đề=RNA Extraction|nhà xuất bản=AssayGenie|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200506160731/https://www.assaygenie.com/rna-extraction-for-covid-19-testing|ngày lưu trữ=6 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=7 May 2020}}</ref><ref name="iaea_rt-pcr">{{Chú thích web|url=https://www.iaea.org/newscenter/news/how-is-the-covid-19-virus-detected-using-real-time-rt-pcr|tựa đề=How is the COVID-19 Virus Detected using Real Time RT-PCR?|ngày=27 March 2020|nhà xuất bản=IAEA|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200501180025/https://www.iaea.org/newscenter/news/how-is-the-covid-19-virus-detected-using-real-time-rt-pcr|ngày lưu trữ=1 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=5 May 2020}}</ref> cho phép tách chiết DNA. [[Enzyme phiên mã ngược|Phiên mã ngược]] chuyển [[RNA]] thành DNA.


Dòng 54: Dòng 54:


Có thể lấy mẫu qua tăm bông ngoáy mũi họng, hoặc từ nước bọt (lấy bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả xét nghiệm dùng kẹo mút cho trẻ em).<ref name="Müllender_2021">{{Chú thích web|url=https://www.deutschlandfunk.de/grundschulen-corona-pool-tests-gelten-als-kindgerecht.680.de.html?dram:article_id=493933|tựa đề=Grundschulen - Corona-Pool-Tests gelten als kindgerecht, unkompliziert und sicher|tác giả=Müllender|tên=Friederike|ngày=2021-03-11|nhà xuất bản=[[Deutschlandfunk]]|ngôn ngữ=de|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210724105117/https://www.deutschlandfunk.de/grundschulen-corona-pool-tests-gelten-als-kindgerecht.680.de.html?dram%3Aarticle_id=493933|ngày lưu trữ=2021-07-24|url-status=live|ngày truy cập=2021-06-05}}</ref> Sau đó, mẫu được tiếp xúc với các dải giấy có chứa các kháng thể nhân tạo được thiết kế để liên kết với các kháng nguyên coronavirus. Các kháng nguyên liên kết với các dải này và cho hiển thị trực quan. Quá trình này diễn ra trong vòng chưa đầy 30 phút, có thể mang lại kết quả tại điểm chăm sóc và không yêu cầu thiết bị đắt tiền hoặc đào tạo chuyên sâu.<ref name="tech_antigens3">{{Chú thích web|url=https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|tựa đề=Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics|ngày=6 April 2020|nhà xuất bản=Technology Networks|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200430153119/https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|ngày lưu trữ=30 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref>
Có thể lấy mẫu qua tăm bông ngoáy mũi họng, hoặc từ nước bọt (lấy bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả xét nghiệm dùng kẹo mút cho trẻ em).<ref name="Müllender_2021">{{Chú thích web|url=https://www.deutschlandfunk.de/grundschulen-corona-pool-tests-gelten-als-kindgerecht.680.de.html?dram:article_id=493933|tựa đề=Grundschulen - Corona-Pool-Tests gelten als kindgerecht, unkompliziert und sicher|tác giả=Müllender|tên=Friederike|ngày=2021-03-11|nhà xuất bản=[[Deutschlandfunk]]|ngôn ngữ=de|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210724105117/https://www.deutschlandfunk.de/grundschulen-corona-pool-tests-gelten-als-kindgerecht.680.de.html?dram%3Aarticle_id=493933|ngày lưu trữ=2021-07-24|url-status=live|ngày truy cập=2021-06-05}}</ref> Sau đó, mẫu được tiếp xúc với các dải giấy có chứa các kháng thể nhân tạo được thiết kế để liên kết với các kháng nguyên coronavirus. Các kháng nguyên liên kết với các dải này và cho hiển thị trực quan. Quá trình này diễn ra trong vòng chưa đầy 30 phút, có thể mang lại kết quả tại điểm chăm sóc và không yêu cầu thiết bị đắt tiền hoặc đào tạo chuyên sâu.<ref name="tech_antigens3">{{Chú thích web|url=https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|tựa đề=Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics|ngày=6 April 2020|nhà xuất bản=Technology Networks|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200430153119/https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|ngày lưu trữ=30 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref>

Vết gạc của vi rút đường hô hấp thường không có đủ dịch nhầy kháng nguyên để có thể phát hiện được.<ref name="AAAS">{{Chú thích web|url=https://www.sciencemag.org/news/2020/04/nih-launches-competition-speed-covid-19-diagnostics#|tựa đề=NIH launches competition to speed COVID-19 diagnostics|ngày=29 April 2020|nhà xuất bản=AAAS|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200501012713/https://www.sciencemag.org/news/2020/04/nih-launches-competition-speed-covid-19-diagnostics|ngày lưu trữ=1 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=1 May 2020}}</ref> Điều này đặc biệt đúng đối với [[Không có triệu chứng|những bệnh nhân không có triệu chứng]] có ít hoặc không có bất kỳ dịch [[Sổ mũi|mũi]] nào. Các protein của virus không được khuếch đại trong xét nghiệm kháng nguyên.<ref name="tech_antigens4">{{Chú thích web|url=https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|tựa đề=Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics|ngày=6 April 2020|nhà xuất bản=Technology Networks|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200430153119/https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|ngày lưu trữ=30 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref><ref name="cnn_test_types">{{Chú thích web|url=https://www.cnn.com/2020/04/28/us/coronavirus-testing-pcr-antigen-antibody/index.html|tựa đề=What to know about the three main types of coronavirus tests|ngày=29 April 2020|nhà xuất bản=CNN|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200510081330/https://www.cnn.com/2020/04/28/us/coronavirus-testing-pcr-antigen-antibody/index.html|ngày lưu trữ=10 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref> Theo WHO, [[Độ nhạy và độ đặc hiệu|độ nhạy]] của các xét nghiệm kháng nguyên tương tự đối với [[Bệnh đường hô hấp|các bệnh đường hô hấp]] như cúm nằm trong khoảng từ 34% đến 80%. WHO cho biết: “Dựa trên thông tin này, một nửa hoặc nhiều hơn số bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 có thể bị bỏ sót bởi các xét nghiệm như vậy, tùy thuộc vào nhóm bệnh nhân được xét nghiệm”. Trong khi một số nhà khoa học nghi ngờ liệu xét nghiệm kháng nguyên có thể hữu ích đối với COVID-19 hay không,<ref name="cnn_test_types" /> những người khác lập luận rằng xét nghiệm kháng nguyên có độ nhạy cao khi tải lượng vi rút cao và con người dễ lây lan, nên phù hợp để sàng lọc sức khỏe cộng đồng.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.rapidtests.org|tựa đề=Rapid Tests|website=Rapid Tests|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210531150537/https://www.rapidtests.org/|ngày lưu trữ=31 May 2021|url-status=live|ngày truy cập=2 July 2021}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://harvardmagazine.com/2020/08/covid-19-test-for-public-health|tựa đề=Failing the Coronavirus-Testing Test|tác giả=Shaw|tên=Jonathan|ngày=3 August 2020|website=Harvard Magazine|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210630072348/https://www.harvardmagazine.com/2020/08/covid-19-test-for-public-health|ngày lưu trữ=30 June 2021|url-status=live|ngày truy cập=2 July 2021}}</ref> Các xét nghiệm kháng nguyên định kỳ có thể nhanh chóng xác định khi nào những người không có triệu chứng bị lây nhiễm, trong khi xét nghiệm PCR sau đó có thể được sử dụng nếu cần chẩn đoán xác định chắc chắn.<ref name="FDA_antigen">{{Chú thích web|url=https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/coronavirus-covid-19-update-fda-authorizes-first-antigen-test-help-rapid-detection-virus-causes|tựa đề=Coronavirus (COVID-19) Update: FDA Authorizes First Antigen Test to Help in the Rapid Detection of the Virus that Causes COVID-19 in Patients|tác giả=Office of the Commissioner|ngày=9 May 2020|website=FDA|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210529053533/https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/coronavirus-covid-19-update-fda-authorizes-first-antigen-test-help-rapid-detection-virus-causes|ngày lưu trữ=29 May 2021|url-status=live|ngày truy cập=2 July 2021}}</ref>

[[Độ nhạy và độ đặc hiệu|Độ nhạy]] trung bình của các xét nghiệm kháng nguyên khác nhau giữa các nhãn hiệu, từ 34,1% đối với Coris Bioconcept đến 88,1% đối với SD Biosensor STANDARD Q. Độ [[Độ nhạy và độ đặc hiệu|đặc hiệu]] trung bình cao đối với hầu hết các nhãn hiệu với mức trung bình là 99,6%.<ref name="pmid328455252">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Dinnes J, Deeks JJ, Berhane S, Taylor M, Adriano A, Davenport C, Dittrich S, Emperador D, Takwoingi Y, Cunningham J, Beese S, Domen J, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Taylor-Phillips S, Hooft L, Leeflang MM, McInnes MD, Spijker R, Van den Bruel A|date=24 Mar 2021|title=Rapid, point-of-care antigen and molecular-based tests for diagnosis of SARS-CoV-2 infection|journal=Cochrane Database Syst Rev|volume=3|issue=4|pages=CD013705|doi=10.1002/14651858.CD013705.pub2|pmc=8078597|pmid=33760236}}</ref>

==== Kiểm tra khả năng ngửi ====
Mất khứu giác đột ngột có thể được sử dụng để sàng lọc mọi người hàng ngày về việc có nhiễm COVID-19 hay không. Một nghiên cứu của Viện Y tế Quốc gia cho thấy những người bị nhiễm SARS-CoV-2 không thể ngửi thấy hỗn hợp 25% ethanol và nước.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Calvo-Henriquez|first=Christian|last2=Maldonado-Alvarado|first2=Byron|last3=Chiesa-Estomba|first3=Carlos|last4=Rivero-Fernández|first4=Irene|last5=Sanz-Rodriguez|first5=Marta|last6=Villarreal|first6=Ithzel María|last7=Rodriguez-Iglesias|first7=Miguel|last8=Mariño-Sánchez|first8=Franklin|last9=Rivero-de-Aguilar|first9=Alejandro|date=2020-06-24|title=Ethyl alcohol threshold test: a fast, reliable and affordable olfactory Assessment tool for COVID-19 patients|journal=European Archives of Oto-Rhino-Laryngology|volume=277|issue=10|pages=2783–2792|doi=10.1007/s00405-020-06131-3|issn=0937-4477|pmc=7312102|pmid=32583183}}</ref> Bởi vì các điều kiện khác nhau có thể dẫn đến mất khứu giác, thử nghiệm ngửi mùi sẽ là không xác định nhưng chỉ ra sự cần thiết của xét nghiệm PCR. Vì sự mất khứu giác xuất hiện trước các triệu chứng khác, nên đã có một cuộc kêu gọi [https://www.cnn.com/2020/12/24/health/loss-of-smell-covid-test-wellness-partner/index.html thử nghiệm ngửi mùi rộng rãi]. Các cơ quan quản lý chăm sóc sức khỏe thường bỏ qua các bài kiểm tra ngửi mùi mặc dù chúng nhanh chóng, dễ dàng và có khả năng tự quản lý hàng ngày. Điều này đã khiến một số tạp chí y tế viết các bài xã luận ủng hộ việc áp dụng thử nghiệm ngửi mùi.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Menni|first=Cristina|last2=Sudre|first2=Carole H.|last3=Steves|first3=Claire J.|last4=Ourselin|first4=Sebastien|last5=Spector|first5=Tim D.|date=2020-11-21|title=Widespread smell testing for COVID-19 has limited application – Authors' reply|url=|journal=The Lancet|language=English|volume=396|issue=10263|pages=1630–1631|doi=10.1016/S0140-6736(20)32316-3|issn=0140-6736|pmc=7832202|pmid=33157000}}</ref>

==== Chụp hình ====
Các đặc điểm điển hình có thể nhìn thấy trên CT ban đầu bao gồm đục dịch kính mặt đất đa thanh hai bên với sự phân bố ngoại vi hoặc phía sau.<ref name=":0">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A|date=July 2020|title=Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients|journal=AJR. American Journal of Roentgenology|volume=215|issue=1|pages=87–93|doi=10.2214/AJR.20.23034|pmid=32174129|quote=Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.|doi-access=free}}</ref> COVID-19 có thể được xác định với độ chính xác cao hơn bằng CT so với RT-PCR.<ref name="pmid32843849">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Manigandan S, Wu M, Pugazhendhi A, Brindhadevi K|year=2020|title=A systematic review on recent trends in transmission, diagnosis, prevention and imaging features of COVID-19|journal=[[Process Biochemistry]]|volume=98|pages=233–40|doi=10.1016/j.procbio.2020.08.016|pmc=7439988|pmid=32843849}}</ref>

[[Khoang màng phổi|Sự thống trị khoang màng phổi]], sự mở rộng và hợp nhất có thể phát triển khi bệnh tiến triển.<ref name=":02">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A|date=July 2020|title=Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients|journal=AJR. American Journal of Roentgenology|volume=215|issue=1|pages=87–93|doi=10.2214/AJR.20.23034|pmid=32174129|quote=Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.|doi-access=free}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|vauthors=Lee EY, Ng MY, Khong PL|date=April 2020|title=COVID-19 pneumonia: what has CT taught us?|url=|journal=The Lancet. Infectious Diseases|volume=20|issue=4|pages=384–85|doi=10.1016/S1473-3099(20)30134-1|pmc=7128449|pmid=32105641}}</ref> Chụp [[Chụp cắt lớp vi tính|CT]] ngực và [[X quang ngực|chụp X-quang ngực]] không được khuyến khích để chẩn đoán COVID-19. Các phát hiện X quang trong COVID-19 thiếu tính đặc hiệu.<ref name=":02" /><ref>{{Chú thích web|url=https://www.acr.org/Advocacy-and-Economics/ACR-Position-Statements/Recommendations-for-Chest-Radiography-and-CT-for-Suspected-COVID19-Infection|tựa đề=ACR Recommendations for the use of Chest Radiography and Computed Tomography (CT) for Suspected COVID-19 Infection|tác giả=<!--Not stated-->|ngày=22 March 2020|website=American College of Radiology|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200513103821/https://www.acr.org/Advocacy-and-Economics/ACR-Position-Statements/Recommendations-for-Chest-Radiography-and-CT-for-Suspected-COVID19-Infection|ngày lưu trữ=13 May 2020|url-status=live|ngày truy cập=20 May 2020}}</ref>


=== Xét nghiệm kháng thể ===
=== Xét nghiệm kháng thể ===
Cơ thể phản ứng với nhiễm vi-rút bằng cách sản xuất [[Kháng thể|các kháng thể]] giúp tiêu diệt vi-rút. Xét nghiệm máu (còn được gọi là [[Huyết thanh học|xét nghiệm huyết thanh học]] hoặc xét nghiệm miễn dịch huyết thanh học<ref name=":114">{{Chú thích tạp chí|last=Kubina|first=Robert|last2=Dziedzic|first2=Arkadiusz|date=2020|title=Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics|journal=Diagnostics|language=en|volume=10|issue=6|pages=434|doi=10.3390/diagnostics10060434|pmc=7345211|pmid=32604919|doi-access=free}}</ref>) có thể phát hiện sự hiện diện của các kháng thể như vậy.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.statnews.com/2020/03/27/serological-tests-reveal-immune-coronavirus/|tựa đề=The next frontier in coronavirus testing: Identifying the full scope of the pandemic, not just individual infections|ngày=27 March 2020|nhà xuất bản=STAT|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200629192549/https://www.statnews.com/2020/03/27/serological-tests-reveal-immune-coronavirus/|ngày lưu trữ=29 June 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref> Các xét nghiệm kháng thể có thể được sử dụng để đánh giá phần nào dân số đã từng bị nhiễm bệnh, sau đó có thể được sử dụng để tính toán [[Tử suất|tỷ lệ tử vong]] của căn bệnh.<ref name="JAMA_antibody">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Abbasi J|date=April 2020|title=The Promise and Peril of Antibody Testing for COVID-19|url=https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2764954|journal=JAMA|volume=323|issue=19|pages=1881–83|doi=10.1001/jama.2020.6170|pmid=32301958|archive-url=https://web.archive.org/web/20200420101451/https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2764954|archive-date=20 April 2020|access-date=20 April 2020|doi-access=free}}</ref> Chúng cũng có thể được sử dụng để xác định lượng kháng thể chứa trong một đơn vị huyết tương, để điều trị bằng COVID-19 hoặc để xác minh xem một loại vắc xin đã cho có tạo ra đáp ứng miễn dịch đủ mức hay không.<ref name=":12">{{Chú thích tạp chí|last=Tang|first=E.W.|date=2020|title=Testing for SARS-Cov-2 (COVID-19): A General Review|url=|journal=Rhode Island Medical Journal|volume=103|issue=8|pages=26–29|pmid=32900007|via=EBSCO}}</ref>
'''Xét nghiệm kháng thể (antibody test) l'''à xét nghiệm phát hiện virus gián tiếp thông qua việc [[xét nghiệm máu]], nhằm tìm kiếm các [[kháng thể]] được hệ thống miễn dịch của cơ thể sinh ra để chống lại virus SARS-CoV-2


Hiệu lực và thời gian bảo vệ của kháng thể SARS-CoV-2 chưa được thiết lập.<ref name="JAMA_antibody2">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Abbasi J|date=April 2020|title=The Promise and Peril of Antibody Testing for COVID-19|url=https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2764954|journal=JAMA|volume=323|issue=19|pages=1881–83|doi=10.1001/jama.2020.6170|pmid=32301958|archive-url=https://web.archive.org/web/20200420101451/https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2764954|archive-date=20 April 2020|access-date=20 April 2020|doi-access=free}}</ref><ref name="SA_immun">{{Chú thích báo|url=https://www.scientificamerican.com/article/what-immunity-to-covid-19-really-means/|title=What Immunity to COVID-19 Really Means|date=10 April 2020|work=Scientific American|archive-url=https://web.archive.org/web/20200428171803/https://www.scientificamerican.com/article/what-immunity-to-covid-19-really-means/|archive-date=28 April 2020}}</ref> Do đó, xét nghiệm kháng thể dương tính có thể không ngụ ý khả năng miễn dịch không bị nhiễm bệnh trong tương lai. Hơn nữa, việc nhiễm bệnh nhẹ hay không có triệu chứng tạo ra đủ kháng thể để xét nghiệm phát hiện được hay không vẫn còn chưa rõ.<ref name=":10">{{Chú thích tạp chí|displayauthors=6|vauthors=Deeks JJ, Dinnes J, Takwoingi Y, Davenport C, Spijker R, Taylor-Phillips S, Adriano A, Beese S, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Dittrich S, Emperador D, Hooft L, Leeflang MM, Van den Bruel A|date=June 2020|title=Antibody tests for identification of current and past infection with SARS-CoV-2|journal=The Cochrane Database of Systematic Reviews|volume=6|pages=CD013652|doi=10.1002/14651858.CD013652|pmc=7387103|pmid=32584464}}</ref> Các kháng thể của một số bệnh tồn tại trong máu nhiều năm, trong khi những bệnh khác mất dần đi theo thời gian.<ref name="tech_antigens5">{{Chú thích web|url=https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|tựa đề=Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics|ngày=6 April 2020|nhà xuất bản=Technology Networks|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200430153119/https://www.technologynetworks.com/diagnostics/blog/developing-antibodies-and-antigens-for-covid-19-diagnostics-333088|ngày lưu trữ=30 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=30 April 2020}}</ref>
Vì kháng thể chỉ được sản xuất vài ngày hoặc vài tuần lể sau khi bị lây nhiễm và tồn tại một khoảng thời gian sau khi hồi phục, nên các xét nghiệm kháng thể không được sử dụng để chẩn đoán khi đang bị COVID-19 cũng như đánh giá khả năng miễn dịch trong tương lai.

Các kháng thể đáng chú ý nhất là [[Immunoglobulin M|IgM]] và [[Immunoglobulin G|IgG]]. Các kháng thể IgM thường có thể phát hiện được vài ngày sau khi nhiễm lần đầu, mặc dù nồng độ của nó trong suốt quá trình nhiễm trùng và sau đó không được đặc trưng rõ ràng.<ref name="cellex_eua">{{Chú thích web|url=https://www.fda.gov/media/136622/download|tựa đề=Cellex Emergency Use Authorization|ngày=1 April 2020|nhà xuất bản=FDA|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200409222830/https://www.fda.gov/media/136622/download|ngày lưu trữ=9 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=10 April 2020}}</ref> Các kháng thể IgG thường có thể phát hiện được từ 10–14 ngày sau khi nhiễm và thường đạt đỉnh khoảng 28 ngày sau khi nhiễm.<ref name="NYT_antibody">{{Chú thích web|url=https://www.nytimes.com/2020/04/10/health/coronavirus-antibody-test.html|tựa đề=Will an Antibody Test Allow Us to Go Back to School or Work?|ngày=10 April 2020|website=[[The New York Times]]|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200415010317/https://www.nytimes.com/2020/04/10/health/coronavirus-antibody-test.html|ngày lưu trữ=15 April 2020|url-status=live|ngày truy cập=15 April 2020}}</ref><ref name="MtSinai_EUA">{{Chú thích web|url=https://www.fda.gov/media/137032/download|tựa đề=Mount Sinai Emergency Use Authorization|ngày=15 April 2020|nhà xuất bản=FDA|ngày truy cập=18 April 2020}}</ref> Tuy nhiên, mô hình phát triển kháng thể này thường không áp dụng cho SARS-CoV-2, với IgM đôi khi xuất hiện sau IgG, cùng với IgG hoặc hoàn toàn không thấy.<ref name="pmid32633840">{{Chú thích tạp chí|last=Bauer G|year=2020|title=The variability of the serological response to SARS-corona virus-2: Potential resolution of ambiguity through determination of avidity (functional affinity)|journal=[[Journal of Medical Virology]]|volume=93|issue=1|pages=311–322|doi=10.1002/jmv.26262|pmc=7361859|pmid=32633840}}</ref> Nói chung, tuy nhiên, việc phát hiện IgM trung bình xảy ra 5 ngày sau khi bắt đầu có triệu chứng, trong khi IgG được phát hiện ở mức trung bình 14 ngày sau khi khởi phát triệu chứng.<ref name="pmid32729549">{{Chú thích tạp chí|vauthors=Ravi N, Cortade DL, Ng E, Wang SX|year=2020|title=Diagnostics for SARS-CoV-2 detection: A comprehensive review of the FDA-EUA COVID-19 testing landscape|journal=[[Biosensors and Bioelectronics]]|volume=165|pages=112454|doi=10.1016/j.bios.2020.112454|pmc=7368663|pmid=32729549}}</ref> Nồng độ IgG giảm đáng kể sau hai hoặc ba tháng.<ref name="pmid32882235">{{Chú thích tạp chí|last=Goudouris ES|year=2020|title=Laboratory diagnosis of COVID-19|journal=[[Jornal de Pediatria]]|volume=97|issue=1|pages=7–12|doi=10.1016/j.jped.2020.08.001|pmc=7456621|pmid=32882235}}</ref>

Xét nghiệm di truyền xác minh nhiễm bệnh sớm hơn xét nghiệm kháng thể. Chỉ 30% trong số những người có xét nghiệm di truyền dương tính cho kết quả xét nghiệm kháng thể dương tính vào ngày thứ 7 kể từ ngày lây nhiễm.<ref name=":102">{{Chú thích tạp chí|displayauthors=6|vauthors=Deeks JJ, Dinnes J, Takwoingi Y, Davenport C, Spijker R, Taylor-Phillips S, Adriano A, Beese S, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Dittrich S, Emperador D, Hooft L, Leeflang MM, Van den Bruel A|date=June 2020|title=Antibody tests for identification of current and past infection with SARS-CoV-2|journal=The Cochrane Database of Systematic Reviews|volume=6|pages=CD013652|doi=10.1002/14651858.CD013652|pmc=7387103|pmid=32584464}}</ref>

==== Các loại xét nghiệm ====

===== Xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT) =====
[[Kiểm tra chẩn đoán nhanh|RDT]] [[Xét nghiệm dòng chảy bên|thường sử dụng xét nghiệm dòng chảy bên]] nhỏ, di động, dương/âm có thể được thực hiện tại điểm chăm sóc. RDT có thể xử lý mẫu máu, mẫu nước bọt hoặc dịch ngoáy mũi. RDTs tạo ra các vạch màu để cho biết kết quả dương tính hoặc âm tính.<ref name="sero">{{Chú thích web|url=https://www.centerforhealthsecurity.org/resources/COVID-19/serology/Serology-based-tests-for-COVID-19.html|tựa đề=Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing|nhà xuất bản=Johns Hopkins Center for Health Security|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200614041031/https://www.centerforhealthsecurity.org/resources/COVID-19/serology/Serology-based-tests-for-COVID-19.html|ngày lưu trữ=14 June 2020|url-status=live|ngày truy cập=14 June 2020}}</ref>

===== Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym (ELISA) =====
[[ELISA]] có thể định tính hoặc định lượng và thường yêu cầu phòng thí nghiệm. Các xét nghiệm này thường sử dụng [[Máu toàn phần|mẫu máu toàn phần]], [[huyết tương]] hoặc [[huyết thanh]]. Đĩa được phủ một loại protein virus, chẳng hạn như [[protein gai]] của SARS-CoV-2. Các mẫu được ủ với protein, cho phép bất kỳ kháng thể nào liên kết với protein. Sau đó, phức hợp protein-kháng thể có thể được phát hiện bằng cách rửa kháng thể khác tạo ra màu sắc/huỳnh quang.<ref name="sero2">{{Chú thích web|url=https://www.centerforhealthsecurity.org/resources/COVID-19/serology/Serology-based-tests-for-COVID-19.html|tựa đề=Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing|nhà xuất bản=Johns Hopkins Center for Health Security|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20200614041031/https://www.centerforhealthsecurity.org/resources/COVID-19/serology/Serology-based-tests-for-COVID-19.html|ngày lưu trữ=14 June 2020|url-status=live|ngày truy cập=14 June 2020}}</ref>


==Tham khảo==
==Tham khảo==
Dòng 66: Dòng 90:
* [https://www.c-span.org/video/?470277-1/federal-health-officials-testify-coronavirus-outbreak-response&start=4478 ''COVID-19 Testing (at least) – now Free for all?'' (CDC; US Congress; CSPAN video/6:00; ngày 12 tháng 3 năm 2020)]
* [https://www.c-span.org/video/?470277-1/federal-health-officials-testify-coronavirus-outbreak-response&start=4478 ''COVID-19 Testing (at least) – now Free for all?'' (CDC; US Congress; CSPAN video/6:00; ngày 12 tháng 3 năm 2020)]
* [https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.3.2000045 Detection of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) by real-time RT-PCR]; [https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6988269/ NCBI-PMC], [https://dx.doi.org/10.2807%2F1560-7917.ES.2020.25.3.2000045 DOI] (ngày 23 tháng 1 năm 2020)
* [https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.3.2000045 Detection of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) by real-time RT-PCR]; [https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6988269/ NCBI-PMC], [https://dx.doi.org/10.2807%2F1560-7917.ES.2020.25.3.2000045 DOI] (ngày 23 tháng 1 năm 2020)
{{sơ khai y tế}}

{{COVID-19}}
{{COVID-19}}
{{Thanh chủ đề|Trung Quốc|Y học|Bệnh virus corona 2019}}
{{Thanh chủ đề|Trung Quốc|Y học|Bệnh virus corona 2019}}

Phiên bản lúc 14:06, ngày 31 tháng 7 năm 2021

CDC 2019-nCoV Laboratory Test Kit.jpg
Bộ dụng cụ xét nghiệm COVID-19 trong phòng thí nghiệm của CDC Hoa Kỳ

Xét nghiệm COVID-19 bao gồm việc phân tích các mẫu để đánh giá sự hiện diện hiện tại hoặc trong quá khứ của SARS-CoV-2. Hai nhánh chính phát hiện sự hiện diện của virus hoặc của các kháng thể được tạo ra để phản ứng với việc nhiễm virus.[1] [2] Các xét nghiệm phân tử về sự hiện diện của virus thông qua các thành phần phân tử của nó được sử dụng để chẩn đoán các trường hợp riêng lẻ và cho phép các cơ quan y tế công cộng theo dõi và ngăn chặn các đợt bùng phát. Thay vào đó, các xét nghiệm kháng thể (xét nghiệm miễn dịch huyết thanh) cho biết ai đó đã từng mắc bệnh hay chưa.[3] Các xét nghiệm kháng thể là ít hữu ích hơn để chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng hiện tại vì các kháng thể có thể chưa phát triển trong nhiều tuần sau khi nhiễm virus.[4] Xét nghiệm được sử dụng để đánh giá tỷ lệ hiện mắc bệnh, giúp ước tính tỷ lệ tử vong do nhiễm bệnh.

Các khu vực pháp lý riêng lẻ đã áp dụng các giao thức xét nghiệm khác nhau, bao gồm kiểm tra ai, tần suất kiểm tra, quy trình phân tích, thu thập mẫu và sử dụng kết quả kiểm tra ra sao.[5][6][7] Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng đáng kể đến các số liệu thống kê được báo cáo, bao gồm số ca bệnh và số thử nghiệm, tỷ lệ tử vong theo số ca bệnh và nhân khẩu học.[8][9][10][11] Vì sự lây truyền SARS-CoV-2 xảy ra vài ngày sau khi phơi nhiễm (và trước khi khởi phát các triệu chứng) nên cần phải giám sát thường xuyên và nhanh chóng để có kết quả.

Phân tích xét nghiệm thường được thực hiện trong các phòng thí nghiệm y tế tự động, thông lượng cao, bởi các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm y tế . Ngoài ra, xét nghiệm tại điểm chăm sóc có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ và bãi đậu xe, nơi làm việc, cơ sở tổ chức hoặc trung tâm chuyển tuyến.

Phương pháp

Giải thích về sinh lý bệnh cơ bản liên quan đến chẩn đoán COVID-19[12]

Các xét nghiệm virus dương tính cho thấy tình trạng nhiễm bệnh trong hiện tại, trong khi các xét nghiệm kháng thể dương tính cho thấy tình trạng nhiễm bệnh trong quá khứ.[13] Các kỹ thuật khác bao gồm chụp CT, kiểm tra nhiệt độ cơ thể tăng cao, kiểm tra nồng độ oxy trong máu thấp và triển khai chó phát hiện tại các sân bay.[14][15]

Phát hiện virus

Việc phát hiện virus thường được thực hiện bằng cách tìm kiếm DNA bên trong của virus hoặc các mảnh protein ở bên ngoài virus. Các xét nghiệm tìm kiếm các kháng nguyên của virus (các bộ phận của virus) được gọi là xét nghiệm kháng nguyên.

Có nhiều loại xét nghiệm tìm kiếm virus bằng cách phát hiện sự hiện diện của DNA của virus. Các loại này được gọi là các xét nghiệm phân tử, đặt tên theo sinh học phân tử. Tính đến năm 2021, dạng xét nghiệm phân tử phổ biến nhất là xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR).[16] Các phương pháp khác được sử dụng trong các thử nghiệm phân tử bao gồm CRISPR, khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt, phản ứng chuỗi polymerase kỹ thuật số, phân tích microarray và giải trình tự thế hệ tiếp theo.

Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR)

Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một quá trình khuếch đại (sao chép) một đoạn DNA nhỏ, được xác định rõ, lên hàng trăm nghìn lần, tạo ra lượng đủ để phân tích. Các mẫu thử nghiệm được xử lý bằng một số hóa chất[17][18] cho phép tách chiết DNA. Phiên mã ngược chuyển RNA thành DNA.

Phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) đầu tiên sử dụng phiên mã ngược để thu được DNA, tiếp theo là PCR để khuếch đại DNA đó, tạo ra đủ để phân tích.[19] RT-PCR do đó có thể phát hiện ra SARS-CoV-2, vốn chỉ chứa RNA. Quá trình RT-PCR thường cần vài giờ.[20] Các xét nghiệm này còn được gọi là xét nghiệm phân tử hoặc xét nghiệm di truyền.[21]

PCR thời gian thực (qPCR)[22] cung cấp các lợi thế bao gồm việc tự động hóa, thông lượng cao hơn và thiết bị đo đáng tin cậy hơn. Nó đã trở thành phương pháp được ưa thích.[23]

Kỹ thuật kết hợp đã được mô tả là RT-PCR thời gian thực [24] hoặc RT-PCR định lượng[25] và đôi khi được viết tắt là qRT-PCR,[26] rRT-PCR[27] hoặc RT-qPCR,[28] mặc dù đôi khi cũng được viết tắt thành RT-PCR hoặc PCR. Minimum Information for Publication of Quantitative Real-Time PCR Experiments (MIQE) đề xuất thuật ngữ RT-qPCR,[29] nhưng không phải tất cả các tác giả đều tuân thủ điều này.

Độ nhạy trung bình đối với các xét nghiệm phân tử nhanh phụ thuộc vào nhãn hiệu. Đối với ID NOW, độ nhạy trung bình là 73,0% với độ đặc hiệu trung bình là 99,7%; đối với Xpert Xpress độ nhạy trung bình là 100% với độ đặc hiệu trung bình là 97,2%.[30] Thuật ngữ độ nhạy đề cập đến khả năng của một xét nghiệm để xác định tất cả những người bị nhiễm, trong khi độ đặc hiệu là khả năng của xét nghiệm để phát hiện một loại virus cụ thể.[31]

Có thể lấy mẫu bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm ngoáy mũi họng, đờm (chất dịch ho ra),[32] gạc họng,[33] chất dịch đường thở sâu được lấy qua ống thông hút[33] hoặc nước bọt.[34][35] Drosten và cộng sự nhận xét rằng đối với SARS 2003, "từ quan điểm chẩn đoán, điều quan trọng cần lưu ý là gạc mũi và họng có vẻ ít thích hợp hơn để chẩn đoán, vì những vật liệu này chứa ít RNA virus hơn đáng kể so với đờm, và virus có thể không bị phát hiện nếu chỉ có những chất dịch này được kiểm tra."[36]

Độ nhạy của các mẫu lâm sàng bằng RT-PCR là 63% đối với ngoáy mũi, 32% đối với ngoáy họng, 48% đối với phân, 72–75% đối với đờm và 93–95% đối với chất dịch lấy từ phế quản.[37]

Khả năng phát hiện virus phụ thuộc vào phương pháp thu thập và khoảng thời gian đã trôi qua kể từ khi lây nhiễm. Theo các thử nghiệm Drosten được thực hiện với gạc họng chỉ đáng tin cậy trong tuần đầu tiên. Sau đó, virus có thể rời khỏi cổ họng và nhân lên trong phổi. Trong tuần thứ hai, việc lấy chất dịch là đờm hoặc trong đường thở sâu được ưu tiên hơn.[38]

Việc thu thập nước bọt có thể có hiệu quả tương tự như ngoáy mũi và cổ họng,[39] mặc dù điều này không chắc chắn.[40][41] Lấy mẫu nước bọt có thể làm giảm nguy cơ cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe do không phải tương tác vật lý gần gũi.[42] Điều này cũng làm bệnh nhân thấy thoải mái hơn.[43] Những người được kiểm dịch có thể thu thập mẫu của riêng họ.[42] Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm nước bọt phụ thuộc vào vị trí lấy mẫu (sâu trong họng, khoang miệng hoặc tuyến nước bọt).[41] Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nước bọt mang lại độ nhạy và độ nhất quán cao hơn khi so sánh với các mẫu ngoáy họng hoặc mũi.[44][45][46]

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2020, FDA Hoa Kỳ đã cấp phép sử dụng khẩn cấp cho xét nghiệm nước bọt được Đại học Yale phát triển, cho kết quả trong vài giờ.[47][48]

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2021, FDA Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ kết quả sai, đặc biệt là kết quả âm tính giả, với xét nghiệm RT-PCR thời gian thực Curative SARS-Cov-2 Assay.[49]

Số lượng virus đo được trong bệnh phẩm đường hô hấp trên giảm sau khi khởi phát triệu chứng.[50]

Các xét nghiệm phân tử khác

Các xét nghiệm khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt cũng khuếch đại bộ gen của virus. Chúng nhanh hơn PCR vì chúng không liên quan đến các chu kỳ làm nóng và làm mát lặp lại. Các xét nghiệm này thường phát hiện DNA bằng cách sử dụng thẻ huỳnh quang, được đọc ra bằng các máy chuyên dụng.

Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR đã được sửa đổi để thực hiện việc phát hiện: nếu enzym CRISPR gắn vào chuỗi, nó sẽ tạo màu cho dải giấy. Các nhà nghiên cứu hy vọng kết quả xét nghiệm sẽ rẻ và dễ sử dụng trong các cơ sở chăm sóc.[51][52] Xét nghiệm này khuếch đại RNA trực tiếp, không có bước chuyển đổi RNA-sang-DNA của RT-PCR.[53]

Xét nghiệm kháng nguyên

Bộ kiểm tra nhanh kháng nguyên COVID-19
Dịch nhầy từ mũi hoặc cổ họng trong chất lỏng thử nghiệm được đưa vào thiết bị xét nghiệm chẩn đoán kháng nguyên nhanh COVID-19

Kháng nguyên là một phần của mầm bệnh tạo ra phản ứng miễn dịch. Các xét nghiệm kháng nguyên tìm kiếm các protein kháng nguyên từ bề mặt virus. Trong trường hợp của coronavirus, chúng thường là các protein từ các gai trên bề mặt.[54] Các kháng nguyên SARS-CoV-2 có thể được phát hiện trước khi xuất hiện các triệu chứng COVID-19 (ngay khi có các hạt virus SARS-CoV-2) với kết quả xét nghiệm nhanh hơn, nhưng độ nhạy kém hơn so với xét nghiệm PCR đối với virus.[55]

Thử nghiệm kháng nguyên có thể là một cách để mở rộng quy mô thử nghiệm lên các cấp độ lớn hơn nhiều lần.[56] Thử nghiệm khuếch đại axit nucleic đẳng nhiệt chỉ có thể xử lý một mẫu tại một thời điểm trên mỗi máy. Các xét nghiệm RT-PCR là chính xác nhưng đòi hỏi quá nhiều thời gian, năng lượng và nhân viên được đào tạo để chạy các xét nghiệm.[56] Deborah Birx, người đứng đầu Lực lượng Đặc nhiệm Coronavirus của Nhà Trắng, cho biết: "Sẽ không bao giờ có khả năng xét nghiệm [PCR] 300 triệu lần mỗi ngày hoặc xét nghiệm tất cả mọi người trước khi họ đi làm hoặc đi học. Nhưng với xét nghiệm kháng nguyên thì có thể làm được."[57]

Có thể lấy mẫu qua tăm bông ngoáy mũi họng, hoặc từ nước bọt (lấy bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả xét nghiệm dùng kẹo mút cho trẻ em).[58] Sau đó, mẫu được tiếp xúc với các dải giấy có chứa các kháng thể nhân tạo được thiết kế để liên kết với các kháng nguyên coronavirus. Các kháng nguyên liên kết với các dải này và cho hiển thị trực quan. Quá trình này diễn ra trong vòng chưa đầy 30 phút, có thể mang lại kết quả tại điểm chăm sóc và không yêu cầu thiết bị đắt tiền hoặc đào tạo chuyên sâu.[59]

Vết gạc của vi rút đường hô hấp thường không có đủ dịch nhầy kháng nguyên để có thể phát hiện được.[60] Điều này đặc biệt đúng đối với những bệnh nhân không có triệu chứng có ít hoặc không có bất kỳ dịch mũi nào. Các protein của virus không được khuếch đại trong xét nghiệm kháng nguyên.[61][62] Theo WHO, độ nhạy của các xét nghiệm kháng nguyên tương tự đối với các bệnh đường hô hấp như cúm nằm trong khoảng từ 34% đến 80%. WHO cho biết: “Dựa trên thông tin này, một nửa hoặc nhiều hơn số bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 có thể bị bỏ sót bởi các xét nghiệm như vậy, tùy thuộc vào nhóm bệnh nhân được xét nghiệm”. Trong khi một số nhà khoa học nghi ngờ liệu xét nghiệm kháng nguyên có thể hữu ích đối với COVID-19 hay không,[62] những người khác lập luận rằng xét nghiệm kháng nguyên có độ nhạy cao khi tải lượng vi rút cao và con người dễ lây lan, nên phù hợp để sàng lọc sức khỏe cộng đồng.[63][64] Các xét nghiệm kháng nguyên định kỳ có thể nhanh chóng xác định khi nào những người không có triệu chứng bị lây nhiễm, trong khi xét nghiệm PCR sau đó có thể được sử dụng nếu cần chẩn đoán xác định chắc chắn.[65]

Độ nhạy trung bình của các xét nghiệm kháng nguyên khác nhau giữa các nhãn hiệu, từ 34,1% đối với Coris Bioconcept đến 88,1% đối với SD Biosensor STANDARD Q. Độ đặc hiệu trung bình cao đối với hầu hết các nhãn hiệu với mức trung bình là 99,6%.[66]

Kiểm tra khả năng ngửi

Mất khứu giác đột ngột có thể được sử dụng để sàng lọc mọi người hàng ngày về việc có nhiễm COVID-19 hay không. Một nghiên cứu của Viện Y tế Quốc gia cho thấy những người bị nhiễm SARS-CoV-2 không thể ngửi thấy hỗn hợp 25% ethanol và nước.[67] Bởi vì các điều kiện khác nhau có thể dẫn đến mất khứu giác, thử nghiệm ngửi mùi sẽ là không xác định nhưng chỉ ra sự cần thiết của xét nghiệm PCR. Vì sự mất khứu giác xuất hiện trước các triệu chứng khác, nên đã có một cuộc kêu gọi thử nghiệm ngửi mùi rộng rãi. Các cơ quan quản lý chăm sóc sức khỏe thường bỏ qua các bài kiểm tra ngửi mùi mặc dù chúng nhanh chóng, dễ dàng và có khả năng tự quản lý hàng ngày. Điều này đã khiến một số tạp chí y tế viết các bài xã luận ủng hộ việc áp dụng thử nghiệm ngửi mùi.[68]

Chụp hình

Các đặc điểm điển hình có thể nhìn thấy trên CT ban đầu bao gồm đục dịch kính mặt đất đa thanh hai bên với sự phân bố ngoại vi hoặc phía sau.[69] COVID-19 có thể được xác định với độ chính xác cao hơn bằng CT so với RT-PCR.[70]

Sự thống trị khoang màng phổi, sự mở rộng và hợp nhất có thể phát triển khi bệnh tiến triển.[71][72] Chụp CT ngực và chụp X-quang ngực không được khuyến khích để chẩn đoán COVID-19. Các phát hiện X quang trong COVID-19 thiếu tính đặc hiệu.[71][73]

Xét nghiệm kháng thể

Cơ thể phản ứng với nhiễm vi-rút bằng cách sản xuất các kháng thể giúp tiêu diệt vi-rút. Xét nghiệm máu (còn được gọi là xét nghiệm huyết thanh học hoặc xét nghiệm miễn dịch huyết thanh học[74]) có thể phát hiện sự hiện diện của các kháng thể như vậy.[75] Các xét nghiệm kháng thể có thể được sử dụng để đánh giá phần nào dân số đã từng bị nhiễm bệnh, sau đó có thể được sử dụng để tính toán tỷ lệ tử vong của căn bệnh.[76] Chúng cũng có thể được sử dụng để xác định lượng kháng thể chứa trong một đơn vị huyết tương, để điều trị bằng COVID-19 hoặc để xác minh xem một loại vắc xin đã cho có tạo ra đáp ứng miễn dịch đủ mức hay không.[77]

Hiệu lực và thời gian bảo vệ của kháng thể SARS-CoV-2 chưa được thiết lập.[78][79] Do đó, xét nghiệm kháng thể dương tính có thể không ngụ ý khả năng miễn dịch không bị nhiễm bệnh trong tương lai. Hơn nữa, việc nhiễm bệnh nhẹ hay không có triệu chứng tạo ra đủ kháng thể để xét nghiệm phát hiện được hay không vẫn còn chưa rõ.[80] Các kháng thể của một số bệnh tồn tại trong máu nhiều năm, trong khi những bệnh khác mất dần đi theo thời gian.[81]

Các kháng thể đáng chú ý nhất là IgMIgG. Các kháng thể IgM thường có thể phát hiện được vài ngày sau khi nhiễm lần đầu, mặc dù nồng độ của nó trong suốt quá trình nhiễm trùng và sau đó không được đặc trưng rõ ràng.[82] Các kháng thể IgG thường có thể phát hiện được từ 10–14 ngày sau khi nhiễm và thường đạt đỉnh khoảng 28 ngày sau khi nhiễm.[83][84] Tuy nhiên, mô hình phát triển kháng thể này thường không áp dụng cho SARS-CoV-2, với IgM đôi khi xuất hiện sau IgG, cùng với IgG hoặc hoàn toàn không thấy.[85] Nói chung, tuy nhiên, việc phát hiện IgM trung bình xảy ra 5 ngày sau khi bắt đầu có triệu chứng, trong khi IgG được phát hiện ở mức trung bình 14 ngày sau khi khởi phát triệu chứng.[86] Nồng độ IgG giảm đáng kể sau hai hoặc ba tháng.[87]

Xét nghiệm di truyền xác minh nhiễm bệnh sớm hơn xét nghiệm kháng thể. Chỉ 30% trong số những người có xét nghiệm di truyền dương tính cho kết quả xét nghiệm kháng thể dương tính vào ngày thứ 7 kể từ ngày lây nhiễm.[88]

Các loại xét nghiệm

Xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT)

RDT thường sử dụng xét nghiệm dòng chảy bên nhỏ, di động, dương/âm có thể được thực hiện tại điểm chăm sóc. RDT có thể xử lý mẫu máu, mẫu nước bọt hoặc dịch ngoáy mũi. RDTs tạo ra các vạch màu để cho biết kết quả dương tính hoặc âm tính.[89]

Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym (ELISA)

ELISA có thể định tính hoặc định lượng và thường yêu cầu phòng thí nghiệm. Các xét nghiệm này thường sử dụng mẫu máu toàn phần, huyết tương hoặc huyết thanh. Đĩa được phủ một loại protein virus, chẳng hạn như protein gai của SARS-CoV-2. Các mẫu được ủ với protein, cho phép bất kỳ kháng thể nào liên kết với protein. Sau đó, phức hợp protein-kháng thể có thể được phát hiện bằng cách rửa kháng thể khác tạo ra màu sắc/huỳnh quang.[90]

Tham khảo

  1. ^ “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19)”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 11 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  2. ^ Kobokovich, Amanda; West, Rachel; Gronvall, Gigi. “Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing”. Johns Hopkins Center for Health Security. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ Kubina, Robert; Dziedzic, Arkadiusz (2020). “Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics”. Diagnostics (bằng tiếng Anh). 10 (6): 434. doi:10.3390/diagnostics10060434. PMC 7345211. PMID 32604919.
  4. ^ “Test for Past Infection”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020. Antibody blood tests, also called antibody tests, check your blood by looking for antibodies, which show if you had a previous infection with the virus. Depending on when someone was infected and the timing of the test, the test may not find antibodies in someone with a current COVID-19 infection.
  5. ^ Brotschi, Markus (7 tháng 3 năm 2020). “Bund sucht nicht mehr alle Corona-Infizierten” [The federal government is no longer looking for all those infected with corona]. Der Bund (bằng tiếng Đức). ISSN 0774-6156. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  6. ^ Van Beusekom, Mary (24 tháng 3 năm 2020). “Italian doctors note high COVID-19 death rate, urge action”. CIDRAP News. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  7. ^ Otmani, Malin (22 tháng 3 năm 2020). “COVID-19: First results of the voluntary screening in Iceland”. Nordic Life Science. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  8. ^ Ward, D. (April 2020) "Sampling Bias: Explaining Wide Variations in COVID-19 Case Fatality Rates" Lưu trữ 4 tháng 5 2020 tại Wayback Machine. WardEnvironment. doi: 10.13140/RG.2.2.24953.62564/1
  9. ^ Henriques, Martha (2 tháng 4 năm 2020). “Coronavirus: Why death and mortality rates differ”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  10. ^ (Bản báo cáo). |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ “Why More Younger People Are Testing Positive for COVID-19”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020.
  12. ^ “Siouxsie Wiles & Toby Morris: What we don't know about Covid-19”. The Spinoff. 6 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  13. ^ “Testing for COVID-19”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 20 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020. Two kinds of tests are available for COVID-19: viral tests and antibody tests.
  14. ^ Tanner, Tari (23 tháng 9 năm 2020). “Finland deploys coronavirus-sniffing dogs at main airport”. Associated Press. Helsinki. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  15. ^ Jones, Robert; Guest, Claire; Lindsay, Steve; Kleinschmidt, Immo; Bradley, John; Dewhirst, Sarah; Last, Anna; Logan, James (12 tháng 8 năm 2020). “Could bio-detection dogs be used to limit the spread of COVID-19 by travellers?”. Journal of Travel Medicine. 27 (8). doi:10.1093/jtm/taaa131. ISSN 1708-8305. PMC 7454791. PMID 32789466. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  16. ^ Habibzadeh, Parham; Mofatteh, Mohammad; Silawi, Mohammad; Ghavami, Saeid; Faghihi, Mohammad Ali (17 tháng 2 năm 2021). “Molecular diagnostic assays for COVID-19: an overview”. Critical Reviews in Clinical Laboratory Sciences: 1–20. doi:10.1080/10408363.2021.1884640. ISSN 1549-781X. PMC 7898297. PMID 33595397.
  17. ^ “RNA Extraction”. AssayGenie. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2020.
  18. ^ “How is the COVID-19 Virus Detected using Real Time RT-PCR?”. IAEA. 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  19. ^ “How is the COVID-19 Virus Detected using Real Time RT-PCR?”. IAEA. 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  20. ^ “Curetis Group Company Ares Genetics and BGI Group Collaborate to Offer Next-Generation Sequencing and PCR-based Coronavirus (2019-nCoV) Testing in Europe”. GlobeNewswire News Room. 30 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2020.
  21. ^ Kubina, Robert; Dziedzic, Arkadiusz (2020). “Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics”. Diagnostics (bằng tiếng Anh). 10 (6): 434. doi:10.3390/diagnostics10060434. PMC 7345211. PMID 32604919.
  22. ^ Bustin SA, Benes V, Garson JA, Hellemans J, Huggett J, Kubista M, Mueller R, Nolan T, Pfaffl MW, Shipley GL, Vandesompele J, Wittwer CT (tháng 4 năm 2009). “The MIQE guidelines: minimum information for publication of quantitative real-time PCR experiments”. Clinical Chemistry. 55 (4): 611–22. doi:10.1373/clinchem.2008.112797. PMID 19246619. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  23. ^ “Real-time reverse transcription PCR (qRT-PCR) and its potential use in clinical diagnosis” (PDF). Clinical Science. 23 tháng 9 năm 2005. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  24. ^ Kang XP, Jiang T, Li YQ, Lin F, Liu H, Chang GH, Zhu QY, Qin ED, Qin CF, Yang YH (tháng 6 năm 2010). “A duplex real-time RT-PCR assay for detecting H5N1 avian influenza virus and pandemic H1N1 influenza virus”. Virology Journal. 7: 113. doi:10.1186/1743-422X-7-113. PMC 2892456. PMID 20515509. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  25. ^ Joyce C (2002). Quantitative RT-PCR. A review of current methodologies. Methods Mol. Biol. 193. tr. 83–92. doi:10.1385/1-59259-283-X:083. ISBN 978-1-59259-283-8. PMID 12325527.
  26. ^ Varkonyi-Gasic E, Hellens RP (2010). “qRT-PCR of Small RNAs”. Plant Epigenetics. Methods in Molecular Biology. 631. tr. 109–22. doi:10.1007/978-1-60761-646-7_10. ISBN 978-1-60761-645-0. PMID 20204872.
  27. ^ “Accelerated Emergency Use Authorization (Eua) Summary Covid-19 Rt-Pcr Test (Laboratory Corporation of America)”. FDA. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2020.
  28. ^ Taylor S, Wakem M, Dijkman G, Alsarraj M, Nguyen M (tháng 4 năm 2010). “A practical approach to RT-qPCR-Publishing data that conform to the MIQE guidelines”. Methods. 50 (4): S1-5. doi:10.1016/j.ymeth.2010.01.005. PMID 20215014.
  29. ^ Bustin SA, Benes V, Garson JA, Hellemans J, Huggett J, Kubista M, Mueller R, Nolan T, Pfaffl MW, Shipley GL, Vandesompele J, Wittwer CT (tháng 4 năm 2009). “The MIQE guidelines: minimum information for publication of quantitative real-time PCR experiments”. Clinical Chemistry. 55 (4): 611–22. doi:10.1373/clinchem.2008.112797. PMID 19246619. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  30. ^ Dinnes J, Deeks JJ, Berhane S, Taylor M, Adriano A, Davenport C, Dittrich S, Emperador D, Takwoingi Y, Cunningham J, Beese S, Domen J, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Taylor-Phillips S, Hooft L, Leeflang MM, McInnes MD, Spijker R, Van den Bruel A (24 tháng 3 năm 2021). “Rapid, point-of-care antigen and molecular-based tests for diagnosis of SARS-CoV-2 infection”. Cochrane Database Syst Rev. 3 (4): CD013705. doi:10.1002/14651858.CD013705.pub2. PMC 8078597. PMID 33760236.
  31. ^ Kubina, Robert; Dziedzic, Arkadiusz (2020). “Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics”. Diagnostics (bằng tiếng Anh). 10 (6): 434. doi:10.3390/diagnostics10060434. PMC 7345211. PMID 32604919.
  32. ^ “Real-Time RT-PCR Panel for Detection 2019-nCoV”. U.S. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 29 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2020.
  33. ^ a b Drosten, Christian (26 tháng 3 năm 2020). “Coronavirus-Update Folge 22” [Coronavirus update episode 22] (PDF). NDR. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  34. ^ “Here's where things stand on COVID-19 tests in the U.S.”. ScienceNews. 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  35. ^ Xu R, Cui B, Duan X, Zhang P, Zhou X, Yuan Q (tháng 4 năm 2020). “Saliva: potential diagnostic value and transmission of 2019-nCoV”. International Journal of Oral Science. 12 (1): 11. doi:10.1038/s41368-020-0080-z. PMC 7162686. PMID 32300101.
  36. ^ Drosten C, Günther S, Preiser W, van der Werf S, Brodt HR, Becker S, Rabenau H, Panning M, Kolesnikova L, Fouchier RA, Berger A, Burguière AM, Cinatl J, Eickmann M, Escriou N, Grywna K, Kramme S, Manuguerra JC, Müller S, Rickerts V, Stürmer M, Vieth S, Klenk HD, Osterhaus AD, Schmitz H, Doerr HW (tháng 5 năm 2003). “Identification of a novel coronavirus in patients with severe acute respiratory syndrome”. The New England Journal of Medicine. 348 (20): 1967–76. doi:10.1056/NEJMoa030747. PMID 12690091. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  37. ^ Ghoshal U, Vasanth S, Tejan N (2020). “A guide to laboratory diagnosis of Corona Virus Disease-19 for the gastroenterologists”. Indian Journal of Gastroenterology. 39 (3): 236–242. doi:10.1007/s12664-020-01082-3. PMC 7462729. PMID 32875524.
  38. ^ Drosten, Christian (26 tháng 3 năm 2020). “Coronavirus-Update Folge 22” [Coronavirus update episode 22] (PDF). NDR. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  39. ^ “Here's where things stand on COVID-19 tests in the U.S.”. ScienceNews. 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  40. ^ “COVID-19 saliva tests: What is the benefit?”. Mayo Clinic. 16 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  41. ^ a b Xu R, Cui B, Duan X, Zhang P, Zhou X, Yuan Q (tháng 4 năm 2020). “Saliva: potential diagnostic value and transmission of 2019-nCoV”. International Journal of Oral Science. 12 (1): 11. doi:10.1038/s41368-020-0080-z. PMC 7162686. PMID 32300101.
  42. ^ a b “New Rutgers Saliva Test for Coronavirus Gets FDA Approval”. Rutgers.edu. 13 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  43. ^ “FDA authorizes Covid-19 saliva test for emergency use”. CNN. 14 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  44. ^ Wyllie AL, Fournier J, Casanovas-Massana A, Campbell M, Ko AI (2020). “Saliva or Nasopharyngeal Swab Specimens for Detection of SARS-CoV-2”. The New England Journal of Medicine. 383 (13): 1283–86. doi:10.1056/NEJMc2016359. PMC 7484747. PMID 32857487.
  45. ^ Service RF (2020). “Spit shines for easier coronavirus testing”. Science. 369 (6507): 1041–42. Bibcode:2020Sci...369.1041S. doi:10.1126/science.369.6507.1041. PMID 32855317.
  46. ^ “Yale University School of Public Health finds saliva samples promising alternative to nasopharyngeal swab”. Merck Manual. 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2020.
  47. ^ “FDA gives emergency approval to 'game changer' COVID-19 saliva test”. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  48. ^ “Coronavirus (COVID-19) Update: FDA Issues Emergency Use Authorization to Yale School of Public Health for SalivaDirect, Which Uses a New Method of Saliva Sample Processing” (Thông cáo báo chí). 15 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
  49. ^ “Risk of False Results with the Curative SARS-Cov-2 Test for COVID-19”. U.S. Food and Drug Administration (FDA). 4 tháng 1 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2021. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  50. ^ Symptom-Based Strategy to Discontinue Isolation for Persons with COVID-19 (2020) referenced
  51. ^ Zimmer, Carl (5 tháng 5 năm 2020). “With Crispr, a Possible Quick Test for the Coronavirus”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2020.
  52. ^ “STOPCovid”. stopcovid.science. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  53. ^ Joung J, Ladha A, Saito M, Segel M, Bruneau R, Huang MW, Kim NG, Yu X, Li J, Walker BD, Greninger AL, Jerome KR, Gootenberg JS, Abudayyeh OO, Zhang F (tháng 5 năm 2020). “Point-of-care testing for COVID-19 using SHERLOCK diagnostics”: 2020.05.04.20091231. doi:10.1101/2020.05.04.20091231. PMC 7273289. PMID 32511521. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp); Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  54. ^ “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  55. ^ Guglielmi G (2020). “Fast coronavirus tests: what they can and can't do”. Nature. 585 (7826): 496–498. Bibcode:2020Natur.585..496G. doi:10.1038/d41586-020-02661-2. PMID 32939084.
  56. ^ a b “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  57. ^ “Remarks by President Trump, Vice President Pence, and Members of the Coronavirus Task Force in Press Briefing”. whitehouse.gov. 17 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020 – qua National Archives.
  58. ^ Müllender, Friederike (11 tháng 3 năm 2021). “Grundschulen - Corona-Pool-Tests gelten als kindgerecht, unkompliziert und sicher” (bằng tiếng Đức). Deutschlandfunk. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2021.
  59. ^ “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  60. ^ “NIH launches competition to speed COVID-19 diagnostics”. AAAS. 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  61. ^ “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  62. ^ a b “What to know about the three main types of coronavirus tests”. CNN. 29 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  63. ^ “Rapid Tests”. Rapid Tests. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  64. ^ Shaw, Jonathan (3 tháng 8 năm 2020). “Failing the Coronavirus-Testing Test”. Harvard Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  65. ^ Office of the Commissioner (9 tháng 5 năm 2020). “Coronavirus (COVID-19) Update: FDA Authorizes First Antigen Test to Help in the Rapid Detection of the Virus that Causes COVID-19 in Patients”. FDA. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2021.
  66. ^ Dinnes J, Deeks JJ, Berhane S, Taylor M, Adriano A, Davenport C, Dittrich S, Emperador D, Takwoingi Y, Cunningham J, Beese S, Domen J, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Taylor-Phillips S, Hooft L, Leeflang MM, McInnes MD, Spijker R, Van den Bruel A (24 tháng 3 năm 2021). “Rapid, point-of-care antigen and molecular-based tests for diagnosis of SARS-CoV-2 infection”. Cochrane Database Syst Rev. 3 (4): CD013705. doi:10.1002/14651858.CD013705.pub2. PMC 8078597. PMID 33760236.
  67. ^ Calvo-Henriquez, Christian; Maldonado-Alvarado, Byron; Chiesa-Estomba, Carlos; Rivero-Fernández, Irene; Sanz-Rodriguez, Marta; Villarreal, Ithzel María; Rodriguez-Iglesias, Miguel; Mariño-Sánchez, Franklin; Rivero-de-Aguilar, Alejandro (24 tháng 6 năm 2020). “Ethyl alcohol threshold test: a fast, reliable and affordable olfactory Assessment tool for COVID-19 patients”. European Archives of Oto-Rhino-Laryngology. 277 (10): 2783–2792. doi:10.1007/s00405-020-06131-3. ISSN 0937-4477. PMC 7312102. PMID 32583183.
  68. ^ Menni, Cristina; Sudre, Carole H.; Steves, Claire J.; Ourselin, Sebastien; Spector, Tim D. (21 tháng 11 năm 2020). “Widespread smell testing for COVID-19 has limited application – Authors' reply”. The Lancet (bằng tiếng English). 396 (10263): 1630–1631. doi:10.1016/S0140-6736(20)32316-3. ISSN 0140-6736. PMC 7832202. PMID 33157000.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  69. ^ Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A (tháng 7 năm 2020). “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients”. AJR. American Journal of Roentgenology. 215 (1): 87–93. doi:10.2214/AJR.20.23034. PMID 32174129. Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.
  70. ^ Manigandan S, Wu M, Pugazhendhi A, Brindhadevi K (2020). “A systematic review on recent trends in transmission, diagnosis, prevention and imaging features of COVID-19”. Process Biochemistry. 98: 233–40. doi:10.1016/j.procbio.2020.08.016. PMC 7439988. PMID 32843849.
  71. ^ a b Salehi S, Abedi A, Balakrishnan S, Gholamrezanezhad A (tháng 7 năm 2020). “Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): A Systematic Review of Imaging Findings in 919 Patients”. AJR. American Journal of Roentgenology. 215 (1): 87–93. doi:10.2214/AJR.20.23034. PMID 32174129. Known features of COVID-19 on initial CT include bilateral multilobar ground-glass opacification (GGO) with a peripheral or posterior distribution, mainly in the lower lobes and less frequently within the right middle lobe.
  72. ^ Lee EY, Ng MY, Khong PL (tháng 4 năm 2020). “COVID-19 pneumonia: what has CT taught us?”. The Lancet. Infectious Diseases. 20 (4): 384–85. doi:10.1016/S1473-3099(20)30134-1. PMC 7128449. PMID 32105641.
  73. ^ “ACR Recommendations for the use of Chest Radiography and Computed Tomography (CT) for Suspected COVID-19 Infection”. American College of Radiology. 22 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2020.
  74. ^ Kubina, Robert; Dziedzic, Arkadiusz (2020). “Molecular and Serological Tests for COVID-19. A Comparative Review of SARS-CoV-2 Coronavirus Laboratory and Point-of-Care Diagnostics”. Diagnostics (bằng tiếng Anh). 10 (6): 434. doi:10.3390/diagnostics10060434. PMC 7345211. PMID 32604919.
  75. ^ “The next frontier in coronavirus testing: Identifying the full scope of the pandemic, not just individual infections”. STAT. 27 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  76. ^ Abbasi J (tháng 4 năm 2020). “The Promise and Peril of Antibody Testing for COVID-19”. JAMA. 323 (19): 1881–83. doi:10.1001/jama.2020.6170. PMID 32301958. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  77. ^ Tang, E.W. (2020). “Testing for SARS-Cov-2 (COVID-19): A General Review”. Rhode Island Medical Journal. 103 (8): 26–29. PMID 32900007 – qua EBSCO.
  78. ^ Abbasi J (tháng 4 năm 2020). “The Promise and Peril of Antibody Testing for COVID-19”. JAMA. 323 (19): 1881–83. doi:10.1001/jama.2020.6170. PMID 32301958. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
  79. ^ “What Immunity to COVID-19 Really Means”. Scientific American. 10 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  80. ^ Deeks JJ, Dinnes J, Takwoingi Y, Davenport C, Spijker R, Taylor-Phillips S, Adriano A, Beese S, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Dittrich S, Emperador D, Hooft L, Leeflang MM, Van den Bruel A (tháng 6 năm 2020). “Antibody tests for identification of current and past infection with SARS-CoV-2”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 6: CD013652. doi:10.1002/14651858.CD013652. PMC 7387103. PMID 32584464. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  81. ^ “Developing Antibodies and Antigens for COVID-19 Diagnostics”. Technology Networks. 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  82. ^ “Cellex Emergency Use Authorization”. FDA. 1 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
  83. ^ “Will an Antibody Test Allow Us to Go Back to School or Work?”. The New York Times. 10 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020.
  84. ^ “Mount Sinai Emergency Use Authorization”. FDA. 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2020.
  85. ^ Bauer G (2020). “The variability of the serological response to SARS-corona virus-2: Potential resolution of ambiguity through determination of avidity (functional affinity)”. Journal of Medical Virology. 93 (1): 311–322. doi:10.1002/jmv.26262. PMC 7361859. PMID 32633840.
  86. ^ Ravi N, Cortade DL, Ng E, Wang SX (2020). “Diagnostics for SARS-CoV-2 detection: A comprehensive review of the FDA-EUA COVID-19 testing landscape”. Biosensors and Bioelectronics. 165: 112454. doi:10.1016/j.bios.2020.112454. PMC 7368663. PMID 32729549.
  87. ^ Goudouris ES (2020). “Laboratory diagnosis of COVID-19”. Jornal de Pediatria. 97 (1): 7–12. doi:10.1016/j.jped.2020.08.001. PMC 7456621. PMID 32882235.
  88. ^ Deeks JJ, Dinnes J, Takwoingi Y, Davenport C, Spijker R, Taylor-Phillips S, Adriano A, Beese S, Dretzke J, Ferrante di Ruffano L, Harris IM, Price MJ, Dittrich S, Emperador D, Hooft L, Leeflang MM, Van den Bruel A (tháng 6 năm 2020). “Antibody tests for identification of current and past infection with SARS-CoV-2”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 6: CD013652. doi:10.1002/14651858.CD013652. PMC 7387103. PMID 32584464. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  89. ^ “Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing”. Johns Hopkins Center for Health Security. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  90. ^ “Global Progress on COVID-19 Serology-Based Testing”. Johns Hopkins Center for Health Security. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.

Liên kết ngoài