Álvaro Morata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Álvaro Morata
Morata en el Di Stefano.jpg
Morata khi còn chơi cho Real Madrid năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Álvaro Borja Morata Martín
Ngày sinh 23 tháng 10, 1992 (25 tuổi)
Nơi sinh Madrid, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,89 m (6 ft 2 in)[1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 9
CLB trẻ
2005–2007 Atlético Madrid
2007–2008 Getafe
2008–2010 Real Madrid
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2010–2013 Real Madrid B 83 (45)
2010–2014 Real Madrid 37 (10)
2014–2016 Juventus 63 (15)
2016–2017 Real Madrid 26 (15)
2017– Chelsea 10 (7)
Đội tuyển quốc gia
2009 Tây Ban Nha U17 6 (2)
2010 Tây Ban Nha U18 2 (3)
2010–2012 Tây Ban Nha U19 13 (11)
2013–2014 Tây Ban Nha U21 13 (13)
2014– Tây Ban Nha 23 (13)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 5 tháng 11 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 11 tháng 11 năm 2017

Álvaro Borja Morata Martín (sinh ngày 23 tháng 10 năm 1992), là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha, hiện đang chơi cho câu lạc bộ Chelsea tại Premier League ở vị trí tiền đạo.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở thành phố Madrid, Morata đã được ký hợp đồng với câu lạc bộ Real Madrid vào năm 2008 từ đội bóng cùng thành phố Getafe, rồi hai năm sau đó anh chính thức ra mắt trong vai trò là một cầu thủ của đội Real Madrid C. Vào tháng 7 năm 2010, sau một mùa giải thành công với đội Juvenil A, mùa bóng mà Morata đã đạt được 2 danh hiệu trẻ cùng 34 bàn thắng ghi được, anh được đôn lên thi đấu cho đội Real Madrid Castilla. Chỉ sau một tháng, huấn luyện viên José Mourinho đã đưa anh cùng với 4 đồng đội của anh đi một tour du đấu trước mùa giải mới tại nước .

Vào ngày 15 tháng 10 năm 2010, Morata đá trận đầu tiên trong màu áo đội Castilla trong trận đấu giao hữu với AD Alcorcón. Trong trận đấu đó, anh đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu. Trận đấu đầu tiên của anh ở giải hạng ba (Segunda División B) diễn ra vào ngày 29 gặp Coruxo FC đã kết thúc với tỉ số 3 - 2, và bàn thắng đầu tiên của Morata là trong trận hòa 1 - 1 trước câu lạc bộ RSD Alcalá (ngày 31 tháng 10).

Ngày 12 tháng 12 năm 2010, Morata lần đầu tiên ra mắt trong đội hình của đội 1 Real Madrid, khi anh là người thay thế cho Ángel di María ở phút thứ 88 trong trận đấu thuộc khuôn khổ giải vô địch quốc gia Tây Ban Nha La Liga trước câu lạc bộ Real Zaragoza. 10 ngày sau, anh được đá trong một trận đấu của Copa Del Rey, anh ra sân từ băng ghế dự bị vào những phút cuối cùng của trận đấu. Vào tháng 1 năm 2011, sau chấn thương của tiền đạo Gonzalo Higuaín, báo chí Tây Ban Nha cho rằng Morata là sự thay thế tốt nhất của Higuaín trong đội hình chính. Tuy nhiên, huấn luyện viên Mourinho đã không đồng tình và cho rằng Morata chưa sẵn sàng để thay thế tiền đạo người Argentina, và anh ta cần trưởng thành hơn cũng như là hoàn thiện được các kỹ năng cần thiết ở đội Castilla. Trong quãng thời gian này, Morata đã ghi 5 bàn thắng trong 4 trận đấu, trong khi đó Real Madrid ký hợp đồng với tiền đạo Emmanuel Adebayor với mục đích lấp chỗ trống mà Higuaín để lại.

Ngày 13 tháng 2 năm 2011, Morata lần đầu tiên trong sự nghiệp lập được một cú hattrick trong chiến thắng 7-1 trước Deportivo de La Coruña B. Sau mùa giải cùng Castilla, Morata đã ghi được 14 bàn, cùng với Joselu là những người ghi được nhiều bàn thắng nhất trong đội, nhưng lại không thể lên hạng vì thua trong trận playoff.

Bàn thắng chính thức đầu tiên của Morata trong đội hình chính của Real là ngày 11 tháng 11 năm 2012, sau khi vào sân ở phút thứ 83 trong chuyến làm khách của Real trước Levante UD, ấn định chiến thắng 2 - 1 của Real chỉ sau 60 giây. Trận đầu tiên được ra sân trong đội hình chính thức của Morata là cuộc tiếp đón Rayo Vallecano ngày 17 tháng 2 năm 2013. Chỉ sau 3 phút, Morata đã mở tỉ số nhưng lại bị thay ra trước khi hiệp 1 kết thúc (người thay thế là Raúl Albiol, thay vào để lấp vị trí của Sergio Ramos sau khi anh này bị đuổi khỏi sân). Tuy vậy, Real cũng đã giành chiến thắng với tỉ số 2 - 1. Ngày 2 tháng 3 năm 2013, Morata lần đầu tiên thi đấu đủ 90 phút trong trận đại chiến El Clásico với đại kình địch FC Barcelona. Trong trận đấu đó, Morata đã có đường kiến tạo quan trọng để Karim Benzema mở tỉ số, để rồi cuối cùng đánh bại đối thủ với tỉ số 2 - 1. Morata cũng có 2 cơ hội của riêng mình để ghi bàn nhưng không tận dụng thành công.

Trong mùa giải 2013 - 2014, dưới triều đại của Carlo Ancelotti, Morata thường xuyên được ra sân hơn. Ngày 18 tháng 3 năm 2014, Morata ghi bàn thắng đầu tiên tại UEFA Champions League, ấn định chiến thắng 3 - 1 trước FC Schalke 04 trên sân Santiago Bernabéu trong khuôn khổ vòng 16 đội. Ngày 17 tháng 5, trong trận đấu cuối cùng của mùa giải, Morata đóng góp 2 bàn thắng để đánh bại RCD Espanyol với tỉ số 3 - 1. Với màn trình diễn này, anh được chấm điểm 8. Morata cũng đóng góp vào thành công của Real Madrid trong trận chung kết UEFA Champions League khi thay thế Karim Benzema ở hiệp phụ thứ hai.

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 7 năm 2014, Juventus FC thông báo rằng họ đã đạt được thỏa thuận chuyển nhượng Morata, người đã ký một hợp đồng năm năm cho các khoản phí của € 20 triệu, [17] [18] với Real Madrid có các tùy chọn để mua anh. trở lại trong tương lai [19] anh có trận ra mắt ở Serie A vào ngày 13 tháng 9, thay thế Fernando Llorente cho phút cuối cùng của một chiến thắng 2-0 trên sân nhà trước Udinese Calcio; [20] hai tuần sau đó, ông lại được tung vào thay đồng người Tây Ban Nha của mình, và đứng đầu thắng đầu tiên cho CLB mới của mình như là nó đã thắng 3-0 tại Atalanta BC.

Ngày 28 tháng 1 năm 2015, Morata đã chơi 13 phút cuối cùng của Coppa Italia trận đấu cũng với Parma, và ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu tại Stadio Ennio Tardini để đủ điều kiện đội vào bán kết. [25] Một tháng sau, tại nhà với Borussia Dortmund cho Champions League vòng-of-16, anh ghi bàn thắng 2-1 ở phút thứ 43 của trận lượt đi; [26] anh cũng bắt đầu và sút tung lưới trong trận lượt về, giúp một 3-0 thành công tại Westfalenstadion. [27]

Ngày 07 tháng 4 năm 2015, Morata bị đuổi khỏi sân sau pha phạm lỗi trên cho Alessandro Diamanti nhưng Juventus đánh bại ACF Fiorentina trong cốc bán kết, do đó mất tích cuối cùng. [28] Một tuần sau đó, anh đã giành được một hình phạt trong trận lượt đi của Champions liên đoàn tứ kết gặp AS Monaco FC, ​​mà sau này được chuyển đổi bởi Arturo Vidal cho một thành công 1-0 nhà cuối cùng, [29] cũng là số điểm tổng hợp thức. Trong trận lượt đi vòng bán kết, chống lại câu lạc bộ cũ của mình Real Madrid, anh đưa host trước thông qua một vòi nước trong ở phút thứ tám, khi trận đấu kết thúc với chiến thắng 2-1 trước nhà, [30] và ông lặp đi lặp lại feat trong trận lượt về, cả hai lần không ăn mừng. [31] vào ngày 06 tháng 6, trong trận chung kết với Barcelona tại Berlin, anh ghi bàn cân bằng tỷ số đầu vào hiệp hai của một mất 1-3. [32]

Vào đầu tháng 8 năm 2015, Morata đã được loại trừ trong một tháng do cơ soleus rách ở bắp chân trái của mình trong quá trình đào tạo, và đã ngồi ngoài cho 2015 Siêu cúp bóng đá Ý. [33] Trong lần xuất hiện thứ hai của mình kể từ khi trở thành hành động, vào ngày 15 tháng 9, anh đặc trưng ở phút 85 và ghi bàn chiến thắng 2-1 trước Manchester City cho giai đoạn nhóm Champions League; [34] vào ngày 30 tháng Chín, anh đã ghi bàn để giúp đánh bại Sevilla FC 2-0 tại sân vận động Juventus, thứ năm của anh trong nhiều lần xuất hiện tại cuộc thi sau để bằng Alessandro Del Piero ghi 's, [35] và vào ngày 24 tháng 11, anh được đề cử cho đội UEFA của năm. [36]

Vào ngày 10 Tháng 12 năm 2015, Morata đã ký gia hạn hợp đồng mà giữ anh ta ở lại CLB cho đến năm 2020. [37] sau 20 tháng Ba, trong Derby della Mole so với các nước láng giềng Torino FC, ​​anh ra sân trong nửa đầu và ghi hai bàn trong một chiến thắng 4-1 đi. [38] vào ngày 21 tháng năm, anh ra sân để ghi bàn thắng ở phút thứ 110 của hiệp phụ để giành chiến thắng các Coppa Italia 1-0 trước AC Milan ở Roma Stadio Olimpico

Quay trở lại Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 6 năm 2016, Real Madrid thực hiện điều khoản mua lại của họ để mang lại Morata từ Juventus với giá 30 triệu €.

Chelsea FC[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 19 tháng 7 năm 2017, câu lạc bộ Premier League Chelsea tuyên bố họ đã đồng ý với Real Madrid về việc chuyển Morata. Câu lạc bộ tuyên bố động thái này đã được thông qua và một điều khoản cá nhân được thỏa thuận. Real Madrid sau đó đã phát hành một tuyên bố cảm ơn Morata vì "sự cống hiến, tính chuyên nghiệp và hành vi gương mẫu" của ông trong thời gian anh ở câu lạc bộ[2]. Vào ngày 21 tháng 7, Morata thành công trong việc y tế và chính thức trở thành cầu thủ của Chelsea.[3]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Morata được triệu tập đội tuyển U-17 Tây Ban Nha ở giải 2009 FIFA World Cup tại Nigieria. Anh thi đấu 4 trận, có được 2 bàn thắng. Sau đó, Morata đại diện cho đội tuyển U-19 Tây Ban Nha tham dự Japan International Tournament, và giúp cho đội bóng của mình giành ngôi Á quân.

Morata cũng có mặt trong đội hình của U-19 Tây Ban Nha tại 2011 UEFA European Under-19 Championship được tổ chức ở Romania. Với 6 bàn thắng (nhiều bàn thắng nhất giải), anh đã đóng góp vô cùng quan trọng cho chức vô địch của đội bóng. Tại 2013 European U-21 ChampionshipsIsrael, anh cũng đã đóng góp vào chiến thắng trước Nga và Đức ở vòng bảng bằng các bàn thắng lần lượt ở phút thứ 82 và 86, rồi khép lại bảng đấu sau khi mở tỉ số để đội bóng chiến thắng đậm 3 - 0 trước Hà Lan. Cuối cùng đội tuyển U-21 Tây Ban Nha đã lên ngôi, Morata cũng trở thành vua phá lưới của giải (4 bàn thắng).

Năm 2016, Morata được huấn luyện viên Vicente del Bosque triệu tập tham dự Euro 2016 diễn ra trên đất Pháp. Trong trận đấu mở màn gặp Thổ Nhĩ Kỳ, anh đã lập cú đúp giúp Tây Ban Nha vượt qua đối thủ với tỉ số 3-0. Ở lượt trận cuối gặp Croatia, Morata chính là người bàn thắng mở tỉ số trận đấu nhưng chung cuộc Croatia đã lội ngược dòng thắng lại 2-1. Tuy nhiên, đội tuyển Tây Ban Nha đã phải dừng bước ở vòng 16 đội sau khi để thua Ý với tỉ số 0-2 và chính thức trở thành cựu vô địch của giải.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 5 tháng 11 năm 2017[4][5]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch quốc gia Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Real Madrid Castilla 2010–11 28 15 28 15
2011–12 28 15 28 15
2012–13 28 15 28 15
Tổng cộng 83 45 83 45
Real Madrid 2010–11 1 0 1 0 0 0 2 0
2011–12 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
2012–13 12 2 2 0 1 0 0 0 15 2
2013–14 23 8 6 0 5 1 34 9
Tổng cộng 37 10 9 0 6 1 0 0 52 11
Juventus 2014–15 29 8 4 2 12 5 1 0 46 15
2015–16 34 7 5 3 8 2 0 0 47 12
Tổng cộng 63 15 9 5 20 7 1 0 93 27
Real Madrid 2016–17 26 15 5 2 9 3 3 0 43 20
Chelsea 2017–18 10 7 0 0 1 0 3 1 1 0 15 8
Tổng cộng sự nghiệp 219 92 23 7 1 0 38 12 5 0 286 111

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giao hữu
1. 27 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Ramón Sánchez Pizjuán, Sevilla, Tây Ban Nha  Ukraina
1–0
1–0
Vòng loại Euro 2016
2. 1 tháng 6 năm 2016 Red Bull Arena, Salzburg, Áo  Hàn Quốc
4–0
5–0
Giao hữu
3.
6–1
4. 17 tháng 6 năm 2016 Allianz Riviera, Nice, Pháp  Thổ Nhĩ Kỳ
1–0
3–0
Euro 2016
5.
3–0
6. 21 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Bordeaux, Bordeaux, Pháp  Croatia
1–0
1–2
7. 5 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Reino de León, León, Tây Ban Nha  Liechtenstein
6–0
8–0
Vòng loại World Cup 2018
8.
7–0
9. 7 tháng 6 năm 2017 Sân vận động Condomina, Murcia, Tây Ban Nha  Colombia
2–2
2–2
Giao hữu
10. 2 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Ý
3–0
3–0
Vòng loại World Cup 2018
11. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Rheipark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein
2–0
8–0
Vòng loại World Cup 2018
12.
6–0
13. 11 tháng 11 năm 2017 Sân vận động La Rosadela, Málaga, Tây Ban Nha  Costa Rica
2–0
5–0
Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid Castilla[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-17 Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

  • FIFA U-17 World Cup: Vị trí thứ ba 2009

U-19 Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA European Under-19 Championship: 2011

U-21 Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA European Under-21 Championship: 2013


Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA European Under-19 Championship: Chiếc giày vàng 2011
  • UEFA European Under-21 Championship: Chiếc giày vàng 2013, đội bóng xuất sắc nhất giải 2013

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Álvaro Morata”. Juventus F.C. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ “Thông báo chính thức: Morata”. 
  3. ^ “Chelsea hoàn tất vụ mua Morata”. 
  4. ^ “Morata”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014. 
  5. ^ “Álvaro Morata”. Footballdatabase. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.