Áp lực trương nước

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Phương trình thẩm thấu[sửa | sửa mã nguồn]

Ống osmometer được làm đầy bằng dung dịch đường nồng độ biết trước và được đặt đứng trong 1 ống nghiệm lớn đầy nước sạch, sau đó nước khuếch tán vào cột osmometer, đến khi có đối áp thủy tĩnh, cột chất lỏng trong ống đứng dâng lên, sự chảy nước vào dẫn đến sự ứ đọng, có nghĩa nó xuất hiện trạng thái cân bằng động lực: Lượng nước đi qua màng lọc (Membran) trong ống osmometer bằng lượng còn lại do áp suất thủy tĩnh đẩy trở lại ra ngoài. Lúc này áp suất thẩm thấu và áp suất thủy tĩnh bằng nhau.

Áp suất thẩm thấu (Sức hút của 1 dung dịch hay lực hút nước, khả năng hút nước) ở nhiệt độ không đổi phụ thuộc vào số lượng các hạt ở mỗi đơn vị thể tích của dung dịch)

Phương trình áp dụng cho phân tử chất tan:

π = cRTi

Trong đó:

π: Áp suất thẩm thấu (bar) 1atm = 0.987 bar
c: Nồng độ dung dịch mol/l
R: Hằng số khí
T: Nhiệt độ tuyệt đối

Khi một tế bào sống hút nước, thể tích trong tế bào tăng và xuất hiện áp suất (đặt tên là áp lực trương nước Turgor), tương ứng với áp suất thủy tĩnh trong osmometer, nén plasmalemma vào thành tế bào. Thành tế bào sẽ bị kéo căng ra, cho đến khi đối áp của thành tế bào bằng áp lực Turgor. Tế bào lúc này căng lên cực đại và không hút thêm nước nữa, cùng lúc nước đi ra ngoài. Lực hút S lúc này bằng 0, áp suất thẩm thấu trong tế bào tương ứng áp lực turgor.

Sự phụ thuộc miêu tả bằng phương trình trạng thái:

S = π - W
S: Lực hút nước
W: Áp suất thành tế bào

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]