Ăn kiêng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ăn kiêng là thực hành ăn thực phẩm theo cách được quy định và giám sát để giảm, duy trì hoặc tăng khối lượng cơ thể, hoặc để ngăn ngừa và điều trị các bệnh, như bệnh tiểu đường. Một chế độ ăn kiêng hạn chế thường được sử dụng bởi những người thừa cân hoặc béo phì, đôi khi kết hợp với tập thể dục, để giảm khối lượng cơ thể. Một số người theo chế độ ăn kiêng để tăng cân (thường ở dạng cơ bắp). Chế độ ăn kiêng cũng có thể được sử dụng để duy trì trọng lượng cơ thể ổn định và cải thiện sức khỏe.

Chế độ ăn kiêng để thúc đẩy giảm cân có thể được phân loại thành: ít chất béo, ít carbohydrate, ít calo, rất ít calo và gần đây là chế độ ăn kiêng linh hoạt.[1] Một phân tích tổng hợp sáu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy không có sự khác biệt giữa chế độ ăn kiêng ít calo, ít carbohydrate và ít chất béo, với việc giảm 2–4 kg trong 12-18 tháng trong tất cả các nghiên cứu.[1] Sau hai năm, tất cả các loại chế độ ăn giảm calo gây ra giảm cân bằng nhau không phân biệt các chất dinh dưỡng đa lượng được nhấn mạnh.[2] Nói chung, chế độ ăn uống hiệu quả nhất là bất kỳ chế độ nào làm giảm tiêu thụ calo.[3]

Một nghiên cứu được công bố trên American Psychologist cho thấy chế độ ăn kiêng ngắn hạn liên quan đến "hạn chế nghiêm trọng lượng calo" không dẫn đến "sự cải thiện bền vững về cân nặng và sức khỏe cho phần lớn các cá nhân".[4] Các nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng cá nhân trung bình duy trì giảm một số lượng cân sau khi ăn kiêng.[5] Giảm cân bằng cách ăn kiêng, trong khi là có lợi cho những người được phân loại là không lành mạnh, có thể làm tăng nhẹ tỷ lệ tử vong cho những người khỏe mạnh.[6][7][8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Strychar I (tháng 1 năm 2006). “Diet in the management of weight loss”. CMAJ 174 (1): 56–63. PMC 1319349. PMID 16389240. doi:10.1503/cmaj.045037. 
  2. ^ Sacks FM, Bray GA, Carey VJ và đồng nghiệp (tháng 2 năm 2009). “Comparison of Weight-Loss Diets with Different Compositions of Fat, Protein, and Carbohydrates”. N. Engl. J. Med. 360 (9): 859–73. PMC 2763382. PMID 19246357. doi:10.1056/NEJMoa0804748. 
  3. ^ Guth, Eve (3 tháng 9 năm 2014). “Healthy Weight Loss”. JAMA 312 (9): 974. PMID 25182116. doi:10.1001/jama.2014.10929. 
  4. ^ Mann, T; Tomiyama, AJ; Westling, E; Lew, AM; Samuels, B; Chatman, J (tháng 4 năm 2007). “Medicare's search for effective obesity treatments: diets are not the answer.”. The American Psychologist 62 (3): 220–33. PMID 17469900. doi:10.1037/0003-066x.62.3.220. In sum, there is little support for the notion that diets ["severely restricting one’s calorie intake"] lead to lasting weight loss or health benefits.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  5. ^ Anderson, James; Elizabeth C Konz; Robert C Frederich; Constance L Wood (tháng 11 năm 2001). “Long-term weight-loss maintenance: a meta-analysis of US studies”. The American Journal of Clinical Nutrition 74 (5): 579–584. PMID 11684524. doi:10.1093/ajcn/74.5.579. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013. 
  6. ^ Bacon L, Aphramor L.; Aphramor (2011). “Weight science: evaluating the evidence for a paradigm shift”. Nutr J 10: 9. PMC 3041737. PMID 21261939. doi:10.1186/1475-2891-10-9. 
  7. ^ Harrington M; Gibson S; Cottrell RC (2009). “A review and meta-analysis of the effect of weight loss on all-cause mortality risk”. Nutr Res Rev 22 (1): 93–108. PMID 19555520. doi:10.1017/S0954422409990035. 
  8. ^ Kendall Powell (31 tháng 5 năm 2007). “The Two Faces of Fat”. Nature 447 (7144): 525–7. PMID 17538594. doi:10.1038/447525a.