Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đài Truyền hình TP.HCM
Loại hình
Tập đoàn Truyền thông
Ngành nghề Truyền thông đại chúng
Thể loại
  • Sản xuất chương trình
  • Kinh doanh nội dung
  • Phát sóng truyền hình
Thành lập 7 tháng 2, 1966; 52 năm trước
Trụ sở chính
  • 14 Đinh Tiên Hoàng, Q.1, TP.HCM
  • 9 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM
Nhân viên chủ chốt
  • TGĐ Dương Thanh Tùng
  • P.TGĐ Cao Anh Minh
  • P.TGĐ Diệp Bửu Chi
  • P.TGĐ Thái Thành Chung
Dịch vụ
Chủ sở hữu UBND TP.HCM
Số nhân viên
2.000
Chi nhánh
  • HTV Hà Nội
  • Phim trường HTV Củ Chi
Công ty con
Website

HTV

HTV Online

Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh City Television, viết tắt: HTV) là đài truyền hình của Thành phố Hồ Chí Minh, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền thân của Đài là Đài Truyền hình Việt Nam (THVN9) dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, ra đời năm 1965, phát hình buổi đầu tiên vào ngày 7/2/1966, chấm dứt ngày 29/4/1975, một ngày trước khi chế độ VNCH sụp đổ. Khi đó, tại miền Nam, ngoài đài quốc gia THVN9 thì các đài truyền hình địa phương Huế, Quy Nhơn, Nha Trang và Cần Thơ cũng được thành lập vài năm sau đó, trong lúc truyền hình ở miền Bắc chưa hết giai đoạn thử nghiệm và đến năm 1973 mới bắt đầu phát sóng.

HTV có vai trò lớn trong hệ thống truyền hình Việt Nam hiện nay. Nhiều sự kiện mang ý nghĩa lớn về mặt chính trị được đài đảm nhận và thực hiện thành công, điển hình là chương trình cầu truyền hình với đảo Trường Sa Lớn ngày 17/10/2009 trên HTV9. Và cho đến nay, HTV vẫn đứng đầu về lượng khán giả xem đài ở khu vực miền Nam.

Hiện nay, Đài phát sóng:

HTV hiện đang là tập đoàn truyền thông chủ lực của Việt Nam, mang đậm bản sắc Sài GònNam Bộ, hoạt động tích cực vì lợi ích của khán giả, phục vụ nhu cầu thông tin trong nước và đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn khai sinh của truyền hình tại Việt Nam, 1965-1966[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở đài THVN9 (trong ảnh ghi là Vietnamese TV station) và đài AFVN với tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam cao 128m xây dựng năm 1966. Đây là khu vực của trụ sở HTV ngày nay. Ảnh: Manh Hai.

Năm 1965, Đài Truyền hình đầu tiên của Việt Nam được thành lập là Đài Truyền hình Việt Nam (thuộc VNCH, không phải Đài THVN hiện nay), phát sóng trên kênh 9 nên cũng được gọi là Đài số 9 hay viết tắt là THVN9. THVN9 do Tổng cục Truyền thanh, Truyền hình và Điện ảnh điều hành dưới quyền Bộ Dân vận, Việt Nam Cộng Hòa. Đài phát hình trắng đen với tiêu chuẩn kỹ thuật truyền hình Hệ FCC - điều tần tiếng 4,5 MHz, phát sóng buổi đầu tiên vào ngày 07/02/1966.

Trong thời gian đầu, đài phát sóng bằng kỹ thuật stratosvision, dùng trực thăng gắn anten bay trên không phận Sài Gòn cách mặt đất 3-6 km. Kỳ phát hình đó ghi hình ảnh của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ và đại sứ Mỹ Cabot Lodge. Khu vực phủ sóng từ trực thăng rất rộng, gồm cả Nam BộNam Trung Bộ, từ Phan Thiết đến Cần Thơ đều xem được, có lúc tận Phnom Pênh (Campuchia) cũng xem được. Lúc đầu phát hình 1 giờ/ngày, sau tăng thời lượng lên 2 giờ/ ngày. Đến ngày 25/10/1966, cơ sở trên mặt đất được thành lập trong thành phố.

Trụ sở thu hình lúc đầu dùng chung cơ sở của Trung tâm Điện ảnh Quốc gia số 9 trên đường Thi Sách. Đến năm 1967 thì tách ra thành Phòng Điện ảnh và Phòng Truyền hình riêng. Đài Truyền hình chuyển về số 9 đường Hồng Thập tự, Sài Gòn (nay là số 9 Nguyễn Thị Minh Khai). Giám đốc đầu tiên của THVN9 là Trung tá Đỗ Việt, Phó Giám đốc là ông Lê Hoàng Hoa.

Cùng lúc với việc thiết lập Đài Truyền hình Việt Nam là đài của Quân đội Hoa Kỳ phát bằng tiếng Anh, lúc đầu gọi là AFRTS (Armed Forces Radio Television Service), đến năm 1967 thì đổi là AFVN (Armed Forces Vietnam Network). Đài AFVN nằm bên cạnh Đài THVN9, phát trên Kênh 11. Sau khi thành lập, năm 1966, AFVN tiến hành xây đựng tháp truyền hình đầu tiên tại Việt Nam cao 128m. Tháp truyền hình này là nơi đặt anten phát sóng của cà Kênh 9 (THVN9) và Kênh 11 (AFVN).

Giai đoạn phát triển thời VNCH, 1967–1975[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Trọng và ban Tiếng Tơ Đồng trong một chương trình ca nhạc trên THVN9 năm 1968.

Chương trình phát hình của đài THVN9 bắt đầu từ lúc 18:00, bắt đầu bằng nhạc hiệu: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…" với hình ảnh các thắng cảnh Việt Nam. Một số chương trình tiêu biểu có nhiều người xem như: Hoa thế hệ (giới thiệu những diễn viên nhí cải lương, hồ quảng… Nghệ sĩ Phượng Mai xuất thân và nổi bật trong chương trình này), Ban thiếu nhi Tuổi Xanh của bà Kiều Hạnh, chương trình thiếu nhi Xuân Phát của nghệ sĩ Xuân Phát, chương trình thiếu nhi Hoa bách hợp của Hội Hướng Đạo Việt Nam, chương trình ca nhạc thiếu nhi Nguyễn Đức của nhạc sĩ Nguyễn Đức (các ca sĩ nữ có họ Phương đều xuất thân từ lò đào tạo Nguyễn Đức: Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế,…), Ban thiếu nhi Gió Khơi chuyên biểu diễn hòa tấu đàn mandolin và các tiết mục múa về quê hương (do thầy Hưng và cô Phấn nhà ở đường Nguyễn Tiểu La, Quận 10 sáng lập), chương trình Đố vui để học do Vũ Khắc Khoan điều khiển, Đinh Ngọc Mô phụ trách.

Sau đó là chương trình thời sự, tin tức. Lúc đó là thời chiến nên THVN9 thường phát các bản tin chiến sự ở 4 vùng chiến thuật. Các bản tin này được xen kẽ vào nội dung các chương trình giải trí: Cải lương (lúc đầu phát hình vào mỗi tối Thứ Ba, sau đó đổi qua Thứ Bảy) có các đoàn: Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Minh Tơ, Huỳnh Long,… Ca vũ nhạc: Hoàng Thi Thơ, chương trình tạp lục Tùng Lâm … Kịch nói có các đoàn: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng, Vũ Đức Duy…

Điều rất bất ngờ và cũng có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người là chỉ sau hơn 1 năm hoạt động, Đài Truyền hình Sài Gòn đã tổ chức cuộc thi tuyển lựa Hoa hậu truyền hình. Chi tiết này cho thấy sự năng động, sáng tạo: “nhằm mục đích góp phần linh động chương trình phát sóng hằng tuần của đài”; và nhanh nhạy tiếp thu cái mới: “như các đài ngoại quốc thường làm”. Thời gian cuộc tuyển lựa này diễn ra từ ngày 1/6 – 20/11/1967. Theo điều lệ là vậy, tuy nhiên sau 8 tuần thi, ban tổ chức thông báo cho biết “vì lý do kỹ thuật” nên vòng chung kết diễn ra vào tháng 9/1967.

Về thành phần ban tổ chức, có tất cả 52 người, đứng đầu là ông Đỗ Việt - Giám đốc Nha Vô tuyến truyền hình Sài Gòn. Ngoài ra, còn có 10 người trong ban giám khảo, trong số đó, nay có vài người mà công chúng vẫn còn nhớ đến như nhà văn Bình Nguyên Lộc, tài tử Đoàn Châu Mậu, họa sĩ Lưu Đình Khải – Hiệu trưởng Trường cao đẳng Mỹ thuật… Ban giám khảo chấm 2 phần: “gương mặt” – khi thí sinh mặc áo dài, không đeo nữ trang, không mang tóc giả; “thân hình” - khi thí sinh mặc áo tắm, có thể trang điểm chút đỉnh…

Về phía thí sinh, phải có đơn xin và “Giấy cho phép của cha mẹ hay người giám hộ – nếu chưa chồng dù đã 21 tuổi; hoặc của chồng”. Gửi kèm theo 6 ảnh chân dung 4 x 6 chụp gương mặt; 6 ảnh 9 x 12 chụp nguyên người “mặc áo tắm một miếng che kín”. Khi thí sinh đến nộp đơn, các cô thư ký cuộc thi sẽ cân, đo chiều cao, vòng ngực, eo… để ghi vào đơn. Nay, nhìn qua ảnh các thí sinh, dễ dàng nhận ra áo dài thời ấy dài chấm gót, áo tắm 1 mảnh ôm sát.

Cần phải nói thêm một tính cách rất “chịu chơi” của ban tổ chức: những thí sinh trình diễn ghi hình, sau đó đều được nhận quà của đơn vị tài trợ. Ngay cả “các thí sinh được vào vòng phúc khảo sau khi trình diễn, dù vào chung kết hay không đều được đền bù số tiền là 700 đồng cho các sở phí linh tinh”. Về giải thưởng dành cho người đoạt giải cao nhất: “được cộng tác với Đài THSG”; ngoài cúp vàng, bạc còn có máy vô tuyến truyền hình và các “tặng phẩm giá trị hàng trăm ngàn đồng”.

Thời lượng phát hình vào đầu thập niên 1970 của Đài Truyền hình Việt Nam là 6 giờ mỗi ngày vào buổi chiều. 80% dân chúng ở miền Nam có thể bắt sóng xem được. Tính bình quân cứ mỗi 50 người dân thì có một ti vi; tổng cộng hơn 350.000 máy trên toàn quốc. Ngân sách của THVN9 vào năm 1970 là 1,3 triệu Mỹ kim.

Bắt đầu từ năm 1972 và hoàn tất năm 1973 sau Hiệp định Paris đài tiếng Anh AFVN giảm hoạt động rồi chấm dứt hẳn ngày 22/03/1973. Máy móc và thiết bị kỹ thuật đã được chuyển giao cho THVN9.

23h58 ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đài Truyền hình Việt Nam của Việt Nam Cộng hòa chấm dứt hoạt động sau 10 năm tồn tại bằng lời chia tay và Quốc ca. Đài Truyền hình Giải phóng kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất của Đài. Buổi phát hình đầu tiên của Đài Truyền hình Giải Phóng bắt đầu vào lúc 19h00 ngày 1/5/1975.

Giai đoạn sau thống nhất đất đất nước, 1975–1988[sửa | sửa mã nguồn]

"Đây là đài vô tuyến truyền hình Sài Gòn giải phóng (SGGP), phát đi từ Sài Gòn. Kính chào đồng bào ruột thịt và yêu quý! Kể từ giờ phút lịch sử và xúc động này, hồi 11:30 ngày 30/04/1975, thành phố anh hùng và vinh quang của chúng ta đã được giải phóng…”. Phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh đã đọc những lời ấy lúc 19h00 ngày 1/5/1975, truyền đi những thông cáo lịch sử. Thời khắc ấy cũng là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Đài truyền hình TP.HCM.

Sau một đêm Sài Gòn không có truyền hình, đúng 19h00 ngày 1/5/1975, ông Lê Minh Hiền - nhà báo từ Hà Nội vào, đã phát lệnh cho Đài Truyền hình SGGP phát sóng chương trình phát hình đầu tiên. Trên màn ảnh nhỏ xuất hiện lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bay phấp phới trong tiếng quân thiều (bài Giải phóng miền Nam của Huỳnh Minh Siêng). Rồi hai phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh và Nguyễn Hữu Phước xuất hiện… Mỹ Hạnh cất giọng đọc: “Đây là Đài truyền hình Sài Gòn giải phóng…”.

Huyện Trìa (Thanh Điền) và Thị Hến (Thanh Kim Huệ) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến, do HTV ghi hình năm 1982. Đây là một trong những vở cải lương đặc sắc của Đoàn Cải lương Sài Gòn 1 và đã được phát đi phát lại rất nhiều lần trên HTV vào thập niên 1980.

Theo kỹ sư điện thanh – nhạc sĩ Vĩnh Lai thì sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 12/4/1975, Ban Tuyên huấn Trung ương đã quyết định thành lập một đoàn gồm 12 người đang làm việc tại Cục Kỹ thuật phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Lúc 15h45 ngày 30/4/1975, đoàn vào chiếm lĩnh THVN9.

Đêm tiếp quản Đài THVN9, đoàn tiếp quản phải nằm ngủ ngoài hành lang, không dám vào khu trung tâm vì bị cài bom. Sau khi kiểm tra thấy toàn bộ thiết bị, máy móc của đài vẫn còn nguyên vẹn nên báo cáo lên Ban Quân quản và lãnh đạo đài, được lệnh: “Cố gắng thực hiện chương trình phát sóng ngay trong đêm 1/5/1975”. Tuy nhiên, đội ngũ chuyên trách về kỹ thuật của đoàn tiếp quản khi ấy còn rất lạ lẫm với các máy móc thiết bị hiện đại của THVN9.

Rất may, trong buổi sáng hôm đó có một vài nhân viên cũ đến trình diện. Họ cùng các nhân viên cũ và đoàn tiếp quản vận hành máy móc, chuẩn bị ổn thỏa cho đêm phát hình đầu tiên thành công, ấn tượng.

Đến ngày 2/7/1976, Sài Gòn chính thức được đổi tên thành TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình SGGP cũng được đổi thành Đài Truyền hình TP.HCM (HTV), phát trên Kênh 9 (nay là HTV9).

Từ năm 1975 đến năm 1981, là đài khu vực Nam Bộ trực thuộc Ủy ban Phát thanh - Truyền hình Việt Nam, HTV đã giúp đỡ cho các đài phía Nam khôi phục lại cơ sở vật chất hoặc xây dựng thêm. Năm 1981, HTV được chuyển giao về UBND TP.HCM và hạ cấp thành Đài truyền hình địa phương. Trong giai đoạn này, HTV phải hoạt động trong sự thiếu hụt kinh phí triền miên. Cán bộ công nhân viên có khi đến 1.200 người trong biên chế; tình hình vừa thừa, vừa thiếu lao động hết sức bức xúc, chính sách tiền lương bất cập, chế độ thù lao nhuận bút lạc hậu… Một số người cũ của THVN9 không chịu nổi đã xin chuyển cơ quan hoặc về hưu sớm.

Giai đoạn đổi mới, 1986–1993[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình bi đát của HTV tiếp diễn khi vào năm 1987, chỉ vì thiếu tiền cải tạo hệ thống điện đã quá cũ kỹ mà đêm 23/8/1987, trận hỏa hoạn xảy ra thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu. Nhưng đấy cũng là thời điểm ghi dấu bước ngoặt lịch sử về sự phát triển của HTV bởi ngay ngày hôm sau, 24/8/1987, đêm phát sóng đầu tiên sau cơn hỏa hoạn, HTV đã chuyển qua phát hình màu, chấm dứt hệ đen trắng.

Kịch truyền hình và ca nhạc là 2 mảng nội dung nổi bật trên HTV từ đầu thập niên 1980, và phát triển rất mạnh trong giai đoạn này. Các vở chính kịch vào các ngày Thứ Bảy thu hút rất đông đảo khán giả. Đặc biệt, kịch hài Trong nhà ngoài phố mỗi tối Thứ Năm và Táo quân đêm giao thừa với sự dẫn dắt của hai đạo diễn Trần Văn Sáu và Thế Ngữ đã tạo hiệu ứng mạnh trong xã hội: Các văn nghệ sĩ nổi tiếng của miền Nam khi đó đều có điểm xuất phát từ đây, nhiều thuật ngữ, câu nói trong Trong nhà ngoài phố thành câu cửa miệng trong đời sống.

Năm 1986, bên cạnh Kênh 9 đang phát sóng, HTV bắt đầu phát thử nghiệm Kênh 7 (nay là HTV7). Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Kênh 7 đã lên sóng chính thức với chức năng là kênh Dịch vụ - Thông tin rao vặt của HTV. Cùng với sự ra đời của Kênh 7, lần đầu tiên quảng cáo đã chính thức quay trở lại trên sóng truyền hình kể từ sau năm 1975 và cũng là lần đầu tiên một đài truyền hình của Việt Nam phát 2 kênh có nội dung độc lập. HTV bắt đầu có nguồn thu từ đó.

Từ năm 1990, HTV bắt đầu chuyển hướng bằng việc đề xuất với cấp trên cho phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình. Tập thể lãnh đạo đài đã mạnh dạn thể nghiệm ứng dụng các chế độ nhằm kích thích tăng năng suất, điều tiết lao động, giảm biên chế, thí điểm xây dựng chế độ thù lao nhuận bút mới, triệt tiêu dần chế độ bình quân chủ nghĩa, đồng thời tập hợp được đông đảo lực lượng cộng tác viên có tay nghề cao. Chất lượng chuyên môn từ đó cũng ngày càng được nâng lên.

Thực tiễn sau nhiều năm đã chứng minh rằng phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình là chìa khóa đảm bảo cho sự phát triển. HTV cũng có bước đột phá vào lĩnh vực xã hội hóa, nổi bật là Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình TP.HCM từ năm 1989 và cuộc thi Tiếng hát Truyền hình từ năm 1991. Bằng nhiều hình thức, HTV còn dấy lên phong trào xây nhà tình nghĩa - nhà tình thương, trong đó có thể kể đến hiệu ứng từ phim tài liệu “Trở về điểm hẹn”.

Phim ảnh là nội dung được HTV quan tâm ngay từ thời kỳ đầu với phim Cô Nhíp sản xuất năm 1976 là một ví dụ. Tuy nhiên, vì thiếu kinh phí nên hoạt động này tạm ngưng. Đến năm 1991, HTV mới chính thức thành lập Hãng phim Truyền hình TFS, đưa việc sản xuất phim và phim tài liệu truyền hình qua một giai đoạn mới. Ban đầu, TFS tập trung vào các bộ phim lẻ, phim ít tập (dưới 10 tập) và các bộ phim tài liệu. Điểm nội bật của TFS là cách làm phim "rất điện ảnh".

Tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV tại góc đường Nguyễn Thị Minh Khai - Đinh Tiên Hoàng. Đây là thiết kế của KTS. Nguyễn Trường Lưu, đoạt Giải Nhất Giải thưởng Kiến trúc TP HCM năm 2006 và đã trở thành một trong các kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM. Ảnh chụp năm 2011.

Giai đoạn phát triển mạnh, 1994–2007[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994 là năm HTV thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ nhất, từ việc đưa ra biểu trưng HTV đầu tiên đến việc tăng mạnh thời lượng phát sóng lên 18 giờ/ ngày cho cả 2 kênh HTV7 và HTV9. Cũng từ năm 1994, HTV bắt đầu tự chủ về tài chính, trở thành đơn vị đầu tiên trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình xóa bỏ hoàn toàn chế độ bao cấp.

Về doanh thu, năm 1994 là năm đầu HTV có lợi nhuận gần 72 tỷ đồng. Tới năm 2004 là 600 tỷ đồng. Tổng doanh thu từ năm 1994-2004 (11 năm) là trên 3.000 tỷ đồng, đóng thuế gần 1.500 tỷ đồng.

Về mặt đầu tư trang thiết bị, từ năm 1997-2004, HTV đã chi trên 400 tỷ đồng thay thế 100% thiết bị cũ không đồng bộ, phát triển hệ thống kỹ thuật hoàn thiện ngang tầm với các nước trong khu vực, tạo ra khả năng hợp tác trên lĩnh vực sản xuất chương trình với khu vực và quốc tế. Tòa nhà Trung tâm Truyền hình 16 tầng với kinh phí xây dựng gần 150 tỷ đồng được khánh thành năm 2006 và trở thành một trong những kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM. Ngoài ra, HTV đã đầu tư vào trường quay truyền hình rộng gần 50 ha ở Xã Hòa Phú, Huyện Củ Chi với riêng tiền bồi thường giải tỏa đã trên 100 tỷ đồng.

Về nhân lực, HTV đã tiến hành trẻ hóa đội ngũ nhân viên và hoàn thành trong năm 2000. Nhờ đó việc sản xuất chương trình đã phát triển mạnh mẽ. Cuối năm 2004, lần đầu tiên HTV cho ra đời cùng lúc 4 kênh kỹ thuật số (digital) là HTV1, HTV2, HTV3, HTV4 (nay là HTV Key) ngoài hai kênh chủ lực là HTV7 và HTV9 đang phát analog.

Về lĩnh vực truyền hình trả tiền, năm 2003, HTV đã thành lập trung tâm truyền hình cáp HTVC. Sau một năm hoạt động, HTVC đã có 700.000 thuê bao tại TP.HCM, trở thành đơn vị truyền hình trả tiền lớn thứ 2 trong cả nước vào thời điểm đó.

Người có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của HTV trong giai đoạn này là ông Phạm Khắc - Tổng Giám Đốc của HTV 1996-2003.

Giai đoạn khủng hoảng, 2008–2016[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí thống trị thị trường truyền hình của HTV ở miền Nam bắt đầu bị lung lay từ năm 2008, được đánh dấu bằng sự kiện HTV bị UBND TP.HCM từ chối lên sóng chương trình Vietnam Idol sau mùa đầu rất thành công. Đây là điều khá lạ vì Vietnam Idol 2007 khi phát trên HTV9 đã có lượng khán giả theo dõi kỷ lục thời điểm đó và không có vấn đề về nội dung.

Trong giai đoạn này, HTV đã được "cơ cấu" lại: Nhiều lãnh đạo chủ chốt của HTV bị chuyển công tác hoặc sa thải. Việc này dẫn đến hệ lụy nhiều nhân viên HTV nghỉ việc và lập các công ty truyền thông riêng hoặc làm việc cho các đơn vị truyền thông khác. Các đơn vị truyền thông tư nhân này sau đó hợp tác với VTVTHVL. Cùng lúc đó, các đơn vị đang hợp tác với HTV cũng chuyển hướng: Nơi thì mở kênh truyền hình riêng, nơi thì quay sang hợp tác với VTV bằng những chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng thế giới và giật gân... khiến lượng khán giả của HTV giảm sút trầm trọng. Tiếp đến, tần số phát sóng & nội dung các kênh xã hội hóa của HTV bị thanh tra: Máy tiếp sóng HTV7 và HTV9 đặt tại nhiều tỉnh thành đã bị dừng hoạt động; Các kênh HTV2, HTV3, HTV4 bị buộc ngừng sóng analog tại TP.HCM; Dừng phát sóng các chương trình giải trí trên HTV2 và HTV3 vì không đúng tiêu chí kênh...

Sự khủng hoảng của HTV được khán giả cảm nhận rất rõ bằng cái "nhạt" ở tất cả chương trình, nhất là mảng giải trí. Từ vị trí của một Đài truyền hình đứng đầu Việt Nam, HTV đã rớt hạng thê thảm trên bảng tổng sắp rating ngay tại thị trường chủ lực là TP.HCM & Đông Nam Bộ. Trong cơn bão khủng hoảng đó, HTV gần như chỉ còn một điều đáng ghi nhận: Không câu khách bằng xì-căng-đan. Đây cũng là điểm nổi bật ở định hướng hoạt động của HTV cho tới nay.

Giai đoạn khủng hoảng của HTV khép lại sau khi TP.HCMBí thư Thành ủy mới.

Giai đoạn hồi phục, từ năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi Tổng Giám đốc mới nhận chức vào tháng 4/2016, HTV đã có nhiều đổi mới về kết cấu và nội dung chương trình. Hàng loạt gameshow và chương trình ăn khách đã xuất hiện, kéo khán giả quay trở lại với HTV. Phần lớn các chuơng trình tập trung vào đối tượng khán giả trẻ, cách dẫn năng động và tuơi mới, khác hẳn phong cách các thế hệ HTV trước đây.

Năm 2018 là dấu mốc quan trọng đối với HTV trong việc phục hồi thị phần và lấy lại vị trí dẫn đầu ở miền Nam. Đặc biệt, mảng thể thao được đầu tư nhiều hơn sau thời gian dài trì trệ. Lần đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng các giải thể thao lớn - đặc biệt là bóng đá, HTV đã mạnh dạn mua bản quyền World Cup 2018, chấm dứt việc độc quyền gây nhiều bức xúc từ VTV.

Về kỹ thuật truyền hình, ngày 3/4/2018 đi vào lịch sử ngành truyền hình Việt Nam khi HTV lần đầu tiên trực tiếp toàn chặng không gián đoạn cho chặng đua Thanh Hóa – Nghệ An ở cúp xe đạp truyền thống của mình. Sự tiến bộ về kỹ thuật trực tiếp và cách thức tổ chức đã gây rất nhiều bất ngờ cho khán giả, từ đó kéo theo lượng lớn người yêu xe đạp đồng hành cùng đoàn đua qua sóng truyền hình cũng như mạng xã hội. Với sức lan tỏa mạnh ngoài dự kiến, HTV đã trực tiếp hầu hết các chặng đua còn lại thay vì chỉ 21/30 chặng như kế hoạch ban đầu. Đỉnh điểm là chặng Huế – Đà Nẵng (qua đèo Hải Vân trong mưa lớn) và chặng Nha Trang – Đà Lạt (qua đèo Ngoạn Mục với địa hình đồi núi phức tạp), tín hiệu trực tiếp vẫn rất ổn định, mở ra giai đoạn mới của truyền hình thể thao tại Việt Nam.

Những dấu mốc quan trọng của HTV[sửa | sửa mã nguồn]

  • 7/2/1966: THVN9 phát sóng buổi đầu tiên (cũng là lần đầu của Việt Nam).
  • 25/10/1966: Tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được xây dựng, cao 128m, tại số 9 Hồng Thập Tự.
  • 1/6/1967: THVN9 tổ chức Cuộc thi Hoa hậu truyền hình đầu tiên của Việt Nam (cũng là đầu tiên của Đông Nam Á).
  • 22/3/1973: Đài AFVN ngưng phát sóng, chuyển giao máy móc và thiết bị cho THVN9.
  • 29/4/1975: THVN9 phát sóng buổi cuối cùng, kết thúc lúc 23:58, trước ngày Sài Gòn sụp đổ.
  • 1/5/1975: Đổi tên thành Đài Truyền hình SGGP, phát sóng buổi đầu tiên lúc 19:00, Kênh 9, với nguồn lực của THVN9 và quản lý là đoàn tiếp quản.
  • 2/7/1976: Đổi tên thành Đài Truyền hình TP.HCM, là đài khu vực Nam Bộ thuộc Ủy ban PT-TH Việt Nam.
  •  ??/??/1981: Được chuyển giao về UBND TP.HCM, chính thức hạ cấp thành đài truyền hình địa phương.
  • 24/1/1982: Ra mắt hài kịch Táo quân lần đầu tiên tại Việt Nam vào đêm giao thừa Nhâm Tuất.
  •  ??/??/1986: Kênh 7 ra mắt. Lần đầu tiên, một đài truyền hình của Việt Nam phát sóng 2 kênh song song với nội dung riêng biệt.
  • 23/8/1987: Xảy ra hỏa hoạn trong đêm, thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu.
  • 24/8/1987: HTV chấm dứt hệ đen trắng, chuyển qua phát hình màu lần đầu tiên tại Việt Nam, một ngày sau trận hỏa hoạn lớn.
  •  ??/??/1989: Tổ chức Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình, lần đầu tiên của thể thao trên truyền hình Việt Nam.
  • 1/1/1990: Nâng thời lượng phát sóng cho cả 2 Kênh 7 và 9 lên 12 giờ/ ngày.
  • 18/10/1991: Thành lập Hãng phim Truyền hình TP.HCM (TFS), hãng phim trực thuộc đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam.
  •  ??/??/1991: Tổ chức Cuộc thi Tiếng hát Truyền hình, cuộc thi ca hát đầu tiên trên sóng truyền hình Việt Nam.
  •  ??/??/1994: Đưa ra biểu trưng chính thức là HTV. Kênh 7 & Kênh 9 lần lượt có logo là HTV7 và HTV9.
  • ??/??/2005: Phát sóng quảng bá HTV7, HTV9 bằng vệ tinh Vinasat1, chuẩn DVB-S.
  • 27/4/2006: Khánh thành tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV.
  • 29/4/2009: HTV band KU chuyển từ vệ tinh Vinasat1 sang Vinasat2, phát chuẩn DVB-S2.
  • 17/10/2009: Lần đầu tiên thực hiện cầu truyền hình trực tiếp với Trường Sa (lần thứ hai vào ngày 29/06/2013).
  • ??/??/2010: Khánh thành tháp ăng-ten mới cao 254m.
  • 19/5/2013: Chính thức phát sóng kênh HTV7, HTV9 theo chuẩn HD.
  • 03/4/2018: Trực tiếp liên tục một chặng đua xe đạp đường trường (Thanh Hóa – Nghệ An, cúp HTV 2018), lần đầu tiên tại Việt Nam.

Các dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình cáp[sửa | sửa mã nguồn]

HTV có dịch vụ truyền hình cáp riêng với thương hiệu là HTVC. Đặc biệt, HTV đã phối hợp với VNPT để cung cấp các kênh truyền hình HTV và gói dịch vụ của HTVC trên đường cáp quang của VNPT (HTV-Fiber VNN). Ngoài ra, HTV cũng mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ truyền hình của mình thông qua tất cả các dịch vụ truyền hình trả tiền khác trên toàn quốc. Vùng phủ sóng tính tới 10/2018 của SDTV - công ty con của HTV chịu trách nhiệm phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất DVB-T2.

Truyền hình số mặt đất[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty con của HTV là SDTV có chức năng phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất theo chuẩn DVB-T2 cho toàn khu vực miền Nam Việt Nam từ Đà Nẵng trở vào (trừ 2 tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Năm 2017 đánh dấu việc SDTV đã hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho 20 tỉnh khu vực Nam Bộ, đi trước một năm so với lộ trình do chính phủ đề ra. Hiện nay, trên 85% dân số khu vực Nam Bộ đã có thể thu sóng của SDTV dễ dàng.

Năm 2018, SDTV tiếp tục mở rộng mạng phát sóng DVB-T2 ra khu vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên (trừ hai tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Theo lộ trình, đến tháng 03/2019, SDTV sẽ hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho khu vực này.

Quảng cáo và phát hành chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng phủ sóng của Vinasat 2, band KU miễn phí với nhóm kênh HTV, HTVC và trên 30 kênh truyền hình địa phương do HTV làm dịch vụ phát sóng. HTV là đài truyền hình đầu tiên trong cả nước phát sóng quảng cáo sau 1975. Việc quản lý các chương trình quảng cáo được đảm nhiệm bởi Trung tâm Dịch vụ Truyền hình (HTVS). Bên cạnh chức năng chính là làm quảng cáo, HTVS còn là đơn vị chịu trách nhiệm phát hành các chương trình truyền hình, bán bản quyền truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

kênh HTV dễ dàng.

Năm 2018, SDTV tiếp tục lộ trình phát sóng DVB-T2 tại khu vực Tây Nguyên & Nam Trung Bộ. Tính đến tháng 10/2018, SDTV đã có mặt tại TP. Nha Trang (Khánh Hòa) và Đà Nẵng. Theo kế hoạch, đến cuối tháng 03/2019, các chương trình của HTV sẽ đến với phần lớn người dân khu vực này thông qua sóng truyền hình số mặt đất.

Truyền hình vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 2000, HTV đã bắt đầu đưa các chương trình của mình lên vệ tinh Measat-2 và chính thức trở thành nhà phát sóng vệ tinh cho các kênh địa phương khác khi Vinasat 1 lên quỹ đạo. Thực tế, HTV gần như không quảng bá việc mình phát sóng qua vệ tinh mà chỉ làm rất âm thầm. Người xem tự dùng chảo parabol thu sóng từ vệ tinh Vinasat 1, Vinasat 2 và tự thông báo trên các diễn đàn. HTV chưa từng công bố chính thức về các tần số phát sóng vệ tinh của các kênh HTV, HTVC và các kênh địa phương do HTV làm dịch vụ phát sóng.

Tình đến thời điểm 11/2018, HTV đã sử dụng Vinasat 1, band C để phát 2 kênh HTV7, HTV9 (chất lượng SD) và Vinasat 2, band KU cho nhóm kênh HTV, HTVC và nhiều kênh truyền hình địa phương khác.

Truyền hình Internet, OTT[sửa | sửa mã nguồn]

HTV đã triển khai hai dịch vụ OTT là HTV OnlineHTVC hoạt động trên iOS, Android, các smart TV, smart box… HTV TMS cũng đã hợp tác với công ty VNPT Technology để ra mắt gói dịch vụ HTVC tvod, với smartbox hoạt động trên mạng Internet… Bộ phận nội dung số của Đài tiếp tục triển khai việc cung cấp nội dung chương trình HTV trên Youtube và cho một số đơn vị kinh doanh nội dung số như: FPT Play, ZingTV, Viettel, HD Việt. Trong thời gian tới, Đài sẽ tiếp tục đẩy mạnh hình thức kết hợp phân phối nội dung trên online và sóng truyền hình, tiến đến việc sản xuất nội dung phù hợp nhiều nền tảng, nhiều đối tượng cho nhiều môi trường phân phối.

Phát hành chương trình trên Youtube[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, HTV đang có nhiều kênh Youtube chính thức: HTV Entertainment, HTV Life, HTV Music, HTV Sports, HTV Films, 60 giây, HTVC Phim, HTVC Teen, HPlus... Khán giả có thể xem lại nhiều (không phải tất cả) chương trình ngay sau khi phát sóng trên truyền hình. Việc quản lý và kinh doanh nội dung các chương trình của HTV trên Youtube được phụ trách bởi công ty HTV TMS.

Hoạt động thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty TNHH MTV Dịch vụ Kỹ thuật Truyền thông HTV (HTV TMS) là công ty con của HTV, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực: Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông; Kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền; Tổ chức sản xuất và phát hành các chương trình truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

[sửa | sửa mã nguồn]


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]