Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Đài Truyền hình TP.HCM
Loại hình
Tập đoàn Truyền thông
Ngành nghềSản xuất chương trình
Kinh doanh nội dung
Phát sóng truyền hình
Tiền thânĐài Truyền hình Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa)
Thành lập22/01/1966 (Đài THVN)
01/05/1975 (Đài TH SGGP)
02/07/1976 (Đài TH TP.HCM)
Trụ sở chính14 Đinh Tiên Hoàng, Q.1, TP.HCM
9 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM
Khu vực hoạt độngToàn cầu (online)
Châu Á - Úc (vệ tinh)
Nhân viên chủ chốt
Tổng Giám Đốc: Dương Thanh Tùng
Phó Tổng Giám Đốc: Cao Anh Minh, Diệp Bửu Chi, Thái Thành Chung
Dịch vụTruyền hình vệ tinh
Truyền hình mặt đất
Truyền hình cáp
Truyền hình TVoD
Truyền hình trực tuyến
Viễn thông
Chủ sở hữuỦy ban Nhân dân TP.HCM
Số nhân viên
2.000
Chi nhánhHTV Hà Nội
Phim trường HTV Hòa Phú
Công ty con
WebsiteHTV
HTV Online

Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh City Television, viết tắt: HTV) là đài truyền hình của Thành phố Hồ Chí Minh, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền thân của Đài là Đài Truyền hình Việt Nam (THVN9) dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, ra đời năm 1965, phát hình buổi đầu tiên vào ngày 7/2/1966, chấm dứt ngày 29/4/1975, một ngày trước khi chế độ VNCH sụp đổ. Khi đó, ngoài Sài Gòn, THVN9 còn có mặt tại nhiều tỉnh thành khác như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Pleiku, Quy Nhơn, Nha Trang, Cần Thơ... tạo ra mạng lưới phủ sóng rộng khắp miền Nam, trong lúc truyền hình ở miền Bắc chưa hết giai đoạn thử nghiệm và đến năm 1973 mới bắt đầu phát sóng.

HTV hiện đang là tập đoàn truyền thông đa phương tiện chủ lực, quan trọng hàng đầu trong hệ thống truyền hình Việt Nam và dẫn đầu về lượng người xem ở khu vực phía Nam. Với rất nhiều thành công và những bước phát triển nhảy vọt, HTV đã trở thành một đài truyền hình “có tầm” không chỉ ở Việt Nam mà cả trong khu vực, phục vụ cho nhu cầu thông tin trong nước và đối ngoại. Hiện nay, đài có 7 kênh quảng bá và 10 kênh trả tiền.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn khai sinh truyền hình tại Việt Nam, 1965-1966[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở đài THVN9 (trong ảnh ghi là Vietnamese TV station) và đài AFVN với tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam cao 128m xây dựng năm 1966. Đây là khu vực của trụ sở HTV ngày nay. Ảnh: Manh Hai.

Năm 1965, Đài Truyền hình đầu tiên của Việt Nam được thành lập là Đài Truyền hình Việt Nam (thuộc VNCH, không phải Đài THVN hiện nay), do Tổng cục Truyền thanh - Truyền hình và Điện ảnh điều hành dưới quyền Bộ Dân vận, Việt Nam Cộng Hòa. Giám đốc đầu tiên của THVN là Trung tá Đỗ Việt, Phó Giám đốc là ông Lê Hoàng Hoa. Trụ sở và địa điểm thu hình của đài ban đầu là một trường quay nhỏ ở Trung tâm Điện ảnh Quốc gia, số 15 Thi Sách, Sài Gòn.

Cùng lúc với việc thiết lập THVN, hệ thống phát thanh - truyền hình của Quân đội Mỹ cũng hình thành. Đài này lúc đầu gọi là AFRTS (American Forces Radio and Television Service), đến năm 1967 đổi thành AFVN (American Forces Vietnam Network). Đài phát bằng tiếng Anh, đối tượng phục vụ chính là binh lính Mỹ đang làm việc tại miền Nam. Trụ sở chính của AFVN nằm ở số 9 Hồng Thập Tự, Sài Gòn (nay là số 9 Nguyễn Thị Minh Khai).

Ngày 22/01/1966, chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên được phát sóng. Sau đó 2 tuần, ngày 07/02/1966, truyền hình chính thức phát sóng tại miền Nam. Trong thời gian đầu, do chưa có tháp truyền hình nên việc phát sóng được thực hiện bằng kỹ thuật stratosvision, nghĩa là dùng trực thăng để phát sóng. Các chương trình kể cả tin tức đều được thu vào băng từ (video tape) rồi được chuyển lên máy bay Super Constellation bốn động cơ. Mỗi tối, máy bay này chở hàng tấn máy móc rời phi trường Tân Sơn Nhứt lên tới độ cao ổn định là 3.150 m tại một địa điểm phía đông nam Sài Gòn khoảng 32 km, rồi từ đó bay theo một lộ trình không thay đổi, lặp lại mỗi đêm với tốc độ ổn định là 271 km/giờ. Trong máy bay có hai máy phát hình mạnh 2.000 kW, hai máy thu hình và tiếng vào băng, hai hệ thống kiểm soát âm thanh, hai hệ thống vô tuyến điện ảnh dùng phim 16 ly. Sóng truyền hình từ trực thăng có thể thu được ở những nơi xa Sài Gòn như Đà Nẵng, Cà Mau hoặc Phnom Penh (Campuchia), nhưng chỉ Sài Gòn và các tỉnh lân cận mới có chất lượng hình ảnh & âm thanh hoàn hảo. Các chương trình được phát sóng suốt 4 giờ liên tục từ 19:00 đến 23:00 mỗi ngày, bao gồm 2 phần: Phần đầu từ 19:00-20:00 là chương trình của THVN, từ 20:00-23:00 là chương trình của AFVN.

Tiếp đến, AFVN tiến hành xây đựng tháp truyền hình. Việc xây dựng diễn ra rất nhanh, các kết cấu thép được lắp ráp sẵn dưới đất theo từng đoạn và dùng máy bay trực thăng đưa lên. Chỉ sau một thời gian ngắn, ngày 25/10/1966, tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được hoàn thành và đưa vào sử dụng, thay thế cho việc phát sóng bằng máy bay trực thăng trước đó. Tháp cao 128m, là nơi đặt anten phát sóng Kênh 9 của THVN (được gọi là THVN9 từ đó), Kênh 11 và FM 99.9 MHz của AFVN.

Năm 1967, Điện ảnh và Truyền hình tách riêng, Đài THVN9 chuyển về số 9 Hồng Thập Tự - cùng địa chỉ với AFVN nhưng có tường ngăn.

Các năm sau đó, hệ thống AFVN tiếp tục được mở rộng. Ngoài trụ sở chính tại Sài Gòn, Đài này còn có nhiều văn phòng và trạm tiếp sóng rải đều khắp Việt Nam Cộng Hòa: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, Pleiku, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Cần Thơ.

Ở giai đoạn này, truyền hình hoàn toàn chưa được nhắc tới tại miền Bắc.

Giai đoạn phát triển thời VNCH, 1967-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Trọng và ban Tiếng Tơ Đồng trong một chương trình ca nhạc trên THVN9 năm 1968.

Chương trình phát hình của THVN9 bắt đầu từ lúc 18:00, bắt đầu bằng nhạc hiệu: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…" với hình ảnh các thắng cảnh Việt Nam. Một số chương trình tiêu biểu có nhiều người xem như: Hoa thế hệ (giới thiệu những diễn viên nhí cải lương, hồ quảng… Nghệ sĩ Phượng Mai xuất thân và nổi bật trong chương trình này), Ban thiếu nhi Tuổi Xanh của bà Kiều Hạnh, chương trình thiếu nhi Xuân Phát của nghệ sĩ Xuân Phát, chương trình thiếu nhi Hoa bách hợp của Hội Hướng Đạo Việt Nam, chương trình ca nhạc thiếu nhi Nguyễn Đức của nhạc sĩ Nguyễn Đức (các ca sĩ nữ có họ Phương đều xuất thân từ lò đào tạo Nguyễn Đức: Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế…), Ban thiếu nhi Gió Khơi chuyên biểu diễn hòa tấu đàn mandolin và các tiết mục múa về quê hương (do thầy Hưng và cô Phấn nhà ở đường Nguyễn Tiểu La, Quận 10 sáng lập), chương trình Đố vui để học do Vũ Khắc Khoan điều khiển, Đinh Ngọc Mô phụ trách. Sau đó là chương trình thời sự, tin tức. Lúc đó là thời chiến nên THVN9 thường phát các bản tin chiến sự ở 4 vùng chiến thuật. Các bản tin này được xen kẽ vào nội dung các chương trình giải trí: Cải lương (lúc đầu phát hình vào mỗi tối Thứ Ba, sau đó đổi qua Thứ Bảy) có các đoàn: Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Minh Tơ, Huỳnh Long… Ca vũ nhạc: Hoàng Thi Thơ, chương trình tạp lục Tùng Lâm… Kịch nói có các đoàn: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng, Vũ Đức Duy…

Điều rất bất ngờ và cũng có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người là chỉ sau hơn 1 năm hoạt động, THVN9 đã tổ chức cuộc thi tuyển lựa Hoa hậu truyền hình. Chi tiết này cho thấy sự năng động, sáng tạo: “nhằm mục đích góp phần linh động chương trình phát sóng hằng tuần của đài”; và nhanh nhạy tiếp thu cái mới: “như các đài ngoại quốc thường làm”. Cuộc thi diễn ra trong vòng 4 tháng, từ 06/1967 đến 09/1967[1].

Thời lượng phát hình của THVN9 vào đầu thập niên 1970 là 6 giờ mỗi ngày, bắt đầu từ 18:00 và kết thúc vào nửa đêm. Khi đó, 80% dân số ở miền Nam có thể bắt sóng xem được. Tính bình quân cứ mỗi 50 người dân thì có một ti vi; tổng cộng hơn 350.000 máy trên toàn quốc. Ngân sách của THVN9 vào năm 1970 là 1,3 triệu Mỹ kim.

Cùng với sự phát triển của THVN9, năm 1972, Truyền hình Đắc Lộ cũng được thành lập. Đây là một hãng truyền hình tư nhân thuộc Giáo hội Công giáo VNCH, do các tu sĩ Dòng Tên điều hành và có trụ sở tại số 171 Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng). Truyền hình Đắc Lộ không có kênh phát sóng riêng mà chỉ sản xuất các chương trình khoa giáo để phát sóng trên THVN9, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức cơ bản để nâng cao cuộc sống và phẩm giá người nghèo.

Năm 1972, AFVN bắt đầu giảm hoạt động và ngày 22/03/1973, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, AFVN chấm dứt hẳn. Hầu hết cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật của AFVN được chuyển giao cho THVN9 quản lý. Mạng lưới của THVN9 vì thế đã mở rộng ra toàn Việt Nam Cộng Hòa.

23:58 ngày 29/04/1975, sau 10 năm tồn tại, THVN9 kết thúc buổi phát hình cuối cùng của mình bằng lời chào như thường lệ và Quốc ca. Chiều ngày 30/04/1975, đoàn tiếp quản kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất của đài, đổi tên thành Đài Truyền hình Sài Gòn Giải Phóng (SGGP).

Giai đoạn sau thống nhất, 1975-1985[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một đêm Sài Gòn không có truyền hình, đúng 19:00 ngày 01/05/1975, ông Lê Minh Hiền - nhà báo từ Hà Nội vào, đã phát lệnh cho Đài Truyền hình SGGP phát sóng chương trình phát hình đầu tiên. Trên màn ảnh nhỏ xuất hiện lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bay phấp phới trong tiếng quân thiều (bài Giải phóng miền Nam của Huỳnh Minh Siêng). Rồi hai phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh và Nguyễn Hữu Phước xuất hiện. Mỹ Hạnh cất giọng đọc: "Đây là đài vô tuyến truyền hình SGGP, phát đi từ Sài Gòn. Kính chào đồng bào ruột thịt và yêu quý! Kể từ giờ phút lịch sử và xúc động này, hồi 11:30 ngày 30/04/1975, thành phố anh hùng và vinh quang của chúng ta đã được giải phóng…”. Thời khắc ấy cũng là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Đài truyền hình TP.HCM.

Huyện Trìa (Thanh Điền) và Thị Hến (Thanh Kim Huệ) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến, do HTV ghi hình năm 1982. Đây là một trong những vở cải lương đặc sắc của Đoàn Cải lương Sài Gòn 1 và đã được phát đi phát lại rất nhiều lần trên HTV vào thập niên 1980.

Theo kỹ sư điện thanh - nhạc sĩ Vĩnh Lai thì sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, ngày 12/04/1975, Ban Tuyên huấn Trung ương đã quyết định thành lập một đoàn gồm 12 người đang làm việc tại Cục Kỹ thuật phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Lúc 15:45 ngày 30/04/1975, đoàn vào chiếm lĩnh THVN9.

Đêm tiếp quản Đài THVN9, đoàn tiếp quản phải nằm ngủ ngoài hành lang, không dám vào khu trung tâm vì bị cài bom. Sau khi kiểm tra thấy toàn bộ thiết bị, máy móc của đài vẫn còn nguyên vẹn nên báo cáo lên Ban Quân quản và lãnh đạo đài, được lệnh: “Cố gắng thực hiện chương trình phát sóng ngay trong đêm 01/05/1975”. Tuy nhiên, đội ngũ chuyên trách về kỹ thuật của đoàn tiếp quản khi ấy còn rất lạ lẫm với các máy móc thiết bị hiện đại của THVN9.

Rất may, trong buổi sáng hôm đó có một vài nhân viên cũ đến trình diện. Họ cùng các nhân viên cũ và đoàn tiếp quản vận hành máy móc, chuẩn bị ổn thỏa cho đêm phát hình đầu tiên thành công, ấn tượng[2].

Không được như Sài Gòn, truyền hình tại các tỉnh thành khác ở miền Nam ngưng hoạt động và chịu sự quản lý của đoàn tiếp quản. Nhiều máy móc, thiết bị tại các nơi này (và cả ở Sài Gòn) được vận chuyển ra Hà Nội sau đó để bổ sung cơ sở vật chất vốn rất nghèo nàn và lạc hậu cho Đài Tiếng nói Việt Nam (nơi được cho là đang phát sóng một kênh truyền hình từ năm 1973). Các cơ sở truyền hình tại Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Cần Thơ trở thành tài sản của Đài Truyền hình Trung Ương, còn lại được quản lý bởi các đài phát thanh - truyền hình địa phương.

Cùng thời điểm sau ngày thống nhất, Dòng Tên Sài Gòn đã chủ động hiến khu vực Truyền hình Đắc Lộ, bao gồm phim trường và toàn bộ trang thiết bị cho chính quyền mới tiếp quản. Lúc kiểm tra kho băng video tại đây, đoàn quản lý Truyền hình SGGP đã hết sức ngạc nhiên và vui mừng vì nội dung không hề đề cập đến tôn giáo, trong khi tất cả nhân sự sản xuất các chương trình đó đều là tu sĩ. Vậy là, ngày 03/10/1975, hãng Truyền hình Đắc Lộ mở cửa trở lại với tên mới "Truyền hình SGGP cơ sở 2", các chương trình giáo dục theo đó quay trở lại sóng truyền hình SGGP sau 5 tháng gián đoạn. Ban quản lý của cơ sở 2 này gồm có Giám đốc Hồ Vĩnh Thuận, Trưởng phòng Chuyên mục Khái Hùng, Phó phòng Mai Thành (nữ tu, phụ trách Giáo dục Thiếu nhi).

Ngày 02/07/1976, Sài Gòn chính thức được đổi tên thành TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình SGGP cũng được đổi thành Đài Truyền hình TP.HCM (HTV).

Từ năm 1975 đến năm 1981, với vai trò là đài khu vực Nam Bộ, HTV đã giúp đỡ cho các đài phía Nam (mà thực chất là các chi nhánh của chính mình trước 1975) khôi phục lại cơ sở vật chất hoặc xây dựng thêm. Năm 1981, HTV được chuyển giao về UBND TP.HCM và hạ cấp thành Đài truyền hình địa phương. Cơ sở 2 của đài được giao lại cho Đài Truyền hình Trung Ương quản lý.

Cũng như tình hình chung của xã hội bao cấp, trong giai đoạn này, HTV phải hoạt động trong sự thiếu hụt kinh phí triền miên. Biên chế có lúc lên đến hơn 1.200 người nhưng lao động thực tế lại thiếu trầm trọng, chính sách tiền lương bất cập, chế độ thù lao - nhuận bút lạc hậu... khiến nội bộ đài rất bức xúc. Nhiều người cũ của THVN9 không chịu nổi đã xin chuyển cơ quan hoặc về hưu sớm.

Giai đoạn đổi mới, 1986-1993[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình HTV ngày càng bi đát, đến mức chỉ vì thiếu tiền cải tạo hệ thống điện đã quá cũ kỹ mà đêm 23/8/1987, trận hỏa hoạn lớn xảy ra thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu. Tuy nhiên, ngay đêm hôm sau, 24/08/1987, HTV chuyển qua phát hình màu và chấm dứt hệ đen trắng, tạo ra một bước ngoặt lịch sử mới cho ngành truyền hình Việt Nam.

Khoảng năm 1986, đài cho lên sóng trở lại kênh FM 99.9 MHz, với tên gọi là đài "Tin tức - Ca nhạc và Báo giờ". Đây là kênh FM duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó, phát sóng từ 6 giờ sáng đến 24 giờ đêm. Nội dung của FM 99.9 MHz bao gồm báo giờ (chuông và phát thanh viên đọc "Bây giờ là ... giờ"), tiếp đến là tin tức đầu giờ (khoảng 5-10 phút), sau đó là các chương ca nhạc, ca cổ, nhạc hòa tấu và thính phòng (có giờ phát nhất định cho mỗi thể loại nhạc) cho đến đầu giờ tiếp theo. Nội dung ca nhạc, ca cổ Việt Nam do đài tự ghi âm hoàn toàn. Có khi đài cũng phát các vở cải lương dài nhưng cắt ra nhiều phần để phù hợp với cấu trúc phát sóng. Tuy cùng lúc quản lý cả truyền hình và kênh phát thanh FM nhưng đài chưa bao giờ dùng tên "Phát thanh - Truyền hình TP.HCM". Người nghe cũng sẽ không thể nhận ra mối liên hệ nào giữa FM 99.9 MHz với Kênh 9 của đài, trừ việc phát thanh viên truyền hình cũng là người đọc tin tức trên sóng FM 99.9 MHz.

Quay trở lại với truyền hình, kịch và ca nhạc là 2 thể loại nổi bật trên HTV từ đầu thập niên 1980, và phát triển rất mạnh trong giai đoạn này. Các vở chính kịch vào các ngày Thứ Bảy thu hút rất đông đảo khán giả. Đặc biệt, kịch hài Trong nhà ngoài phố mỗi tối Thứ Năm và Táo quân đêm giao thừa với sự dẫn dắt của hai đạo diễn Trần Văn Sáu và Thế Ngữ đã tạo hiệu ứng mạnh trong xã hội: Các văn nghệ sĩ nổi tiếng của miền Nam khi đó đều có điểm xuất phát từ đây, nhiều thuật ngữ, câu nói trong Trong nhà ngoài phố thành câu cửa miệng trong đời sống.

Năm 1986, bên cạnh Kênh 9 đang phát sóng, HTV bắt đầu phát thử nghiệm Kênh 7 (nay là HTV7). Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Kênh 7 đã lên sóng chính thức với chức năng là kênh Dịch vụ - Thông tin rao vặt của HTV. Cùng với sự ra đời của Kênh 7, lần đầu tiên quảng cáo đã chính thức quay trở lại trên sóng truyền hình kể từ sau năm 1975 và cũng là lần đầu tiên một đài truyền hình của Việt Nam phát 2 kênh có nội dung độc lập. HTV bắt đầu có nguồn thu từ đó.

Từ năm 1990, HTV bắt đầu chuyển hướng bằng việc đề xuất với cấp trên cho phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình. Tập thể lãnh đạo đài đã mạnh dạn thể nghiệm ứng dụng các chế độ nhằm kích thích tăng năng suất, điều tiết lao động, giảm biên chế, thí điểm xây dựng chế độ thù lao nhuận bút mới, triệt tiêu dần chế độ bình quân chủ nghĩa, đồng thời tập hợp được đông đảo lực lượng cộng tác viên có tay nghề cao. Chất lượng chuyên môn từ đó cũng ngày càng được nâng lên.

Năm 1989, HTV bắt đầu thực hiện việc "xã hội hóa" bằng việc kêu gọi tài trợ cho Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình TP.HCM. Từ thành công đó, HTV tiếp tục kêu gọi tài trợ cho cuộc thi Tiếng hát Truyền hình năm 1991, các chương trình xây dựng nhà tình nghĩa - nhà tình thương và nhiều chương trình truyền hình khác.

Phim ảnh là nội dung được HTV rất quan tâm, như phim Cô Nhíp năm 1976 là một ví dụ. Tuy nhiên, vì thiếu kinh phí nên hoạt động này tạm ngưng. Đến năm 1991, HTV mới chính thức thành lập Hãng phim Truyền hình TFS, đưa việc sản xuất phim và phim tài liệu qua một giai đoạn mới. Ban đầu, TFS tập trung sản xuất các phim lẻ theo kiểu điện ảnh, mở màn là Giữa dòng và gặt hái một kỷ lục về giải thưởng. Sau đó, hãng bắt đầu làm các phim dài tập với sự mở màn của Người đẹp Tây Đô, tạo ra tiếng vang lớn và gắn "danh hiệu" này với nữ diễn viên Việt Trinh từ đó. Các bộ phim tiếp theo tiếp tục đưa tên tuổi TFS lên tầm cao như Xóm nước đen, Đất Phương Nam, Giã từ dĩ vãng, Đồng tiền xương máu, Ngọn nến hoàng cung, Blouse trắng...

Giai đoạn phát triển mạnh, (1994 -2007)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994 là năm HTV thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ nhất, từ việc đưa ra biểu trưng HTV đầu tiên đến việc tăng mạnh thời lượng phát sóng lên 18 giờ/ ngày cho cả hai kênh HTV7 và HTV9. Cũng từ năm 1994, HTV bắt đầu tự chủ về tài chính, trở thành đơn vị đầu tiên trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình xóa bỏ hoàn toàn chế độ bao cấp.

Về doanh thu, năm 1994 là năm đầu HTV có lợi nhuận gần 72 tỷ đồng. Tới năm 2004 là 600 tỷ đồng. Tổng doanh thu từ năm 1994-2004 (11 năm) là trên 3.000 tỷ đồng, đóng thuế gần 1.500 tỷ đồng. Về mặt đầu tư trang thiết bị, từ năm 1997-2004, HTV đã chi trên 400 tỷ đồng thay thế 100% thiết bị cũ không đồng bộ, phát triển hệ thống kỹ thuật hoàn thiện ngang tầm với các nước trong khu vực, tạo ra khả năng hợp tác trên lĩnh vực sản xuất chương trình với khu vực và quốc tế.

Năm 1997, máy phát sóng FM 99.9 MHz được chuyển giao cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM theo kế hoạch tái cấu trúc của thành phố. Nhân sự cũ của FM 99.9 MHz vẫn thuộc biên chế của đài và chuyển sang phục vụ cho truyền hình.

Năm 1999, HTV đưa vào vận hành hệ thống phát băng betacam tự động cho hai kênh HTV7, HTV9. Đó là hệ thống phát hình hiện đại nhất trên thế giới mà HTV là đơn vị duy nhất tại Việt Nam sở hữu cho đến khi truyền hình Việt Nam chấm dứt sử dụng băng Betacam. Hệ thống vận hành với một cánh tay robot được lập trình sẵn, tự động quét mã vạch trên băng hình betacam và bỏ vào khay phát đúng giờ. Việc này đã giúp các kỹ thuật viên giảm bớt áp lực sai sót, đặc biệt ở HTV7 khi kênh này có các chương trình quảng cáo dày đặc và phải chuyển băng liên tục.

Năm 2000, HTV hoàn thành kế hoạch trẻ hóa nhân sự. Nhờ đó, việc sản xuất chương trình đã phát triển mạnh mẽ.

Để chứng minh sự tiên phong trong việc chuyển đổi kỹ thuật ghi hình và phát sóng từ analog sang kỹ thuật số, đầu tháng 09/2003, đài phát thử nghiệm DVB-T trên kênh 30 UHF, phát kênh HTV7, HTV9 và một số kênh khác. Sau đó không lâu, ngày 01/10/2003, kênh này lên sóng chính thức và HTV1, HTV2, HTV3, HTV4 cùng lúc ra đời[3]. Năm 2004, đài bắt đầu lắp đặt hệ thống server phát sóng tự động đồng bộ với Trung tâm Điều chế và Trung tâm Truyền dẫn - Phát sóng. Năm 2006, hệ thống được vận hành chính thức, thay thế cho hệ thống robot phát băng betacam sau hơn 7 năm hoạt động. Sự kiện này đánh dấu việc hoàn tất số hoá trong khâu sản xuất và lưu trữ nội dung tại HTV, chấm dứt sử dụng băng hình betacam sớm nhất trong cả nước. Cần nói thêm, hệ thống server phát sóng tự động mà HTV đầu tư là hiện đại nhất thế giới thời điểm đó. Trải qua nhiều lần nâng cấp, hệ thống này hiện vẫn đang hoạt động ổn định, đảm bảo an toàn phát sóng cho HTV.

Tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV tại góc đường Nguyễn Thị Minh Khai - Đinh Tiên Hoàng. Đây là thiết kế của KTS. Nguyễn Trường Lưu, đoạt Giải Nhất Giải thưởng Kiến trúc TP.HCM năm 2006, đã trở thành một trong các kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM.Ảnh chụp năm 2015, gồm tòa nhà Trung tâm truyền hình mới bên cạnh khối nhà cũ có từ thời kỳ đầu của THVN9.

Năm 2005, lần đầu tiên từ sau 1975, HTV khởi xướng bước tiếp theo của "xã hội hóa" bằng việc hợp tác với các công ty truyền thông sản xuất chương trình. Vòng xoáy tình yêu mở màn cho Giờ vàng phim Việt theo cách đó, ngay lập tức lập kỷ lục người xem ở mức 60%. Hai năm sau, bộ phim học trò Gọi giấc mơ về lại tạo ra tỷ lệ người xem áp đảo cho HTV7 và tiếp tục "càn quét" ở các kênh truyền hình khác trong nhiều năm. Nhìn chung, Giờ vàng phim Việt tuy tạo ra nhiều tranh cãi về nội dung cũng như cách làm của HTV[4], nhưng việc mở cửa cho tư nhân hợp tác làm truyền hình đã tạo ra các sản phẩm đa dạng và chất lượng hơn, điển hình là ở Gọi giấc mơ về. Cách làm này sau đó được nhân rộng trong cả nước.

Cũng năm 2005, sự kiện SEA Games 23 tại Phillippines đánh dấu việc HTV là đài truyền hình đầu tiên thực hiện cầu truyền hình trực tiếp giữa Việt Nam và nước ngoài. Đó là chương trình "Đồng hành cùng SEA Games 23" phát trực tiếp từ Philippines khoảng 15 phút mỗi ngày lúc 19:35 trên HTV9, liên tục từ 25/11/2005 - 05/12/2005[5]. Nhờ đó, khán giả có thể biết được kết quả thi đấu của đoàn thể thao Việt Nam một cách nhanh nhất. Để làm được việc này, HTV đã thuê chỗ tại IBC, kênh vệ tinh, 2 xe và ekip 3 quay phim, 3 biên tập viên, 2 kỹ thuật dựng và 2 kỹ thuật viên phát sóng tác nghiệp ngay tại nước chủ nhà.[6]

Bên cạnh việc tổ chức truyền hình trực tiếp và đưa tin với các sự kiện thể thao lớn của thế giới, HTV cũng ghi dấu ấn mạnh khi lần đầu tiên tổ chức thành công cuộc thi Chinh phục đỉnh Everest. Ngày 22/05/2007, 3 vận động viên người Việt đầu tiên đã chinh phục nóc nhà thế giới[7].

Về ảnh hưởng, trong giai đoạn này HTV là một đài truyền hình rất mạnh, hoàn toàn không có đối thủ. Ngay cả VTV cũng chỉ là người đứng ngoài cuộc chơi và "không có cửa" để cạnh tranh với HTV về các mảng thể thao, giải trí. HTV mạnh đến mức, có thời điểm VTV mua bản quyền World Cup và phải năn nỉ HTV tiếp sóng hoặc cùng khai thác để có chỉ số rating cao nhằm thu hút quảng cáo[8].

Ngày 27/04/2006, sau năm năm khởi công xây dựng, HTV khánh thành tòa nhà Trung tâm Truyền hình. Đây là tòa nhà truyền hình lớn nhất Việt Nam tính tới năm 2017, cao 16 tầng với tổng diện tích sàn 19.462 m2, có 11 trường quay. Tòa nhà được đầu tư hoàn toàn từ nguồn vốn của đài, gồm 162 tỉ đồng cho xây dựng và 400 tỉ đồng cho trang thiết bị[9].

Về lĩnh vực truyền hình trả tiền, năm 2003, HTV thành lập Trung tâm Truyền hình Cáp HTVC. Sau một năm hoạt động, HTVC đã có 700.000 thuê bao tại TP.HCM, trở thành đơn vị truyền hình trả tiền lớn thứ hai tại Việt Nam ở thời điểm đó.

Người có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của HTV trong giai đoạn này là ông Phạm Khắc, Tổng Giám đốc đài từ 1996-2003.

Giai đoạn khủng hoảng, 2008-2015[sửa | sửa mã nguồn]

Sự kiện "mở màn" giai đoạn khủng hoảng tại HTV xảy ra đầu tháng 06/2008: UBND TP.HCM gửi công văn yêu cầu HTV hoãn tổ chức Vietnam Idol mùa 2[10]. Đây là điều lạ khi Vietnam Idol mùa 1 có lượng khán giả cao kỷ lục và không có vấn đề về nội dung. Càng lạ hơn khi cuộc thi không được tiếp tục năm sau đó (2009) và chuyển qua VTV phát sóng từ mùa 3 (2010), với một loạt xì-căng-đan lấn át chất lượng tranh tài[11].

Trong giai đoạn này, Ban lãnh đạo TP.HCM đã "cơ cấu" lại HTV bằng việc chuyển công tác hoặc sa thải các vị trí chủ chốt của đài, dẫn đến hệ lụy nhiều nhân viên HTV nghỉ việc và lập các công ty truyền thông riêng hoặc làm việc cho các đơn vị truyền thông khác. Các đơn vị truyền thông tư nhân này sau đó hợp tác với VTVTHVL. Cùng lúc đó, các đơn vị đang hợp tác với HTV cũng chuyển hướng: Nơi thì mở kênh truyền hình riêng, nơi thì quay sang hợp tác với VTV bằng những chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng thế giới và giật gân... Tiếp đến, tần số phát sóng & nội dung các kênh xã hội hóa của HTV bị thanh tra: Máy tiếp sóng HTV7 và HTV9 đặt tại nhiều tỉnh thành đã bị dừng hoạt động; Các kênh HTV2, HTV3, HTV4 bị buộc ngừng sóng analog tại TP.HCM; Dừng phát sóng nhiều chương trình giải trí trên HTV3 vì không đúng tiêu chí kênh[12][13]; Chuyển đổi HTV2 về với chức năng kênh Thể thao trong hơn một năm để bổ sung giấy phép[14]... Những biến động dồn dập liên tiếp đến với HTV khiến chất lượng chương trình của đài giảm sút trầm trọng, khán giả bắt đầu chuyển qua các kênh khác.

Chưa dừng lại ở đó, tháng 07/2009, Truyền hình cáp HTVC bị xử lý vì phát "lậu" 34 kênh truyền hình[15]. Báo chí khi đó đưa tin đều để chữ "lậu" trong ngoặc kép vì thực tế, đây không phải là phát lậu như cách hiểu thông thường. Vụ việc xảy ra đúng ngay thời điểm truyền hình K+, con của VTV, vừa chính thức ra mắt dịch vụ.

Dưới sức ép "tổng lực" của các cơ quan quản lý trong các năm 2008-2010 và tiếp tục bị quản lý chặt các năm sau đó, HTV dường như chỉ hoạt động cầm chừng: Tất cả các chương trình đều phải thực hiện theo đúng "đường lối, chủ trương" trong khi VTV lại mặc sức tung hoành với các chương trình gây sốc; Hãng phim TFS gần như mất hút một cách khó hiểu sau khi đạt đỉnh cao, ngay cả khi đã sở hữu phim trường rộng gần 50ha ở Củ Chi; các giải bóng đá lớn thưa dần...

Từ phía khán giả, sự khủng hoảng của HTV được cảm nhận rất rõ bằng cái "nhạt" ở tất cả chương trình, nhất là mảng giải trí, ngoại trừ một số ít chương trình phát sóng cuối tuần trên HTV7 như Người bí ẩn hay Thử thách cùng bước nhảy. Từ vị trí của một Đài truyền hình đứng đầu Việt Nam, HTV đã rớt hạng thê thảm trên bảng tổng sắp rating ngay tại thị trường chủ lực là TP.HCM & Đông Nam Bộ. Nhưng trong cơn bão khủng hoảng đó, có một thực tế đáng ghi nhận ở HTV là đài vẫn không câu khách bằng xì-căng-đan[16].

Như một cách vượt khó, ngay chính trong giai đoạn này, HTV đã tạo đột phá ở thể loại tin tức và chính luận. Theo đó, trong năm 2009, HTV9 đã lên sóng một loạt chương trình cầu truyền hình trực tiếp với Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo & Phú Quốc. Đỉnh điểm là cầu truyền hình ngày 17/10/2009 kết nối với đảo Trường Sa Lớn giữa lúc xã hội đang sục sôi vì các diễn biến ngoài Biển Đông. Tiếp nối thành công này, ngày 29/6/2013, cầu truyền hình với đảo Song Tử Tây được thực hiện. Đó là những lần khán giả được xem trực tiếp hình ảnh từ Trường Sa, điều mà vẫn chưa có đài truyền hình nào khác làm được. Ngoài chủ đề biển - đảo, các cầu truyền hình về biên giới trên đất liền cũng được đài quan tâm, điển hình là "Âm vang biên giới" kết nối giữa Lai Châu, Kon Tum, An Giang và TP.HCM vào ngày 14/12/2013... Một chương trình khác cần nhắc đến là 60 giây. Lên sóng từ đầu tháng 01/2012, 60 giây tập trung vào những sự kiện, vấn đề gắn bó mật thiết với đời sống bằng cách trình bày nhanh, gọn, trẻ trung. Ngay sau khi ra mắt không lâu, 60 giây đã thống trị rating mảng tin tức và dẫn đến nhiều thay đổi tương tự trong cách đưa tin ở các đài khác, bao gồm cả VTV.

Giai đoạn khủng hoảng của HTV khép lại sau khi TP.HCMBí thư Thành ủy mới.

Giai đoạn hồi phục, từ năm 2016 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi TP.HCM thay đổi người đứng đầu, HTV cũng có Tổng Giám đốc mới từ tháng 4/2016 là ông Dương Thanh Tùng[17]. Sau đó, tháng 12/2016, ông Thái Thành Chung - Trưởng ban Chương trình và bà Diệp Bửu Chi - Trưởng ban Ca nhạc, được bổ nhiệm làm Phó Tổng Giám đốc HTV[18]. Từ đó, nhiều đổi mới về kết cấu và nội dung chương trình đã bắt đầu trên các kênh HTV. Hàng loạt gameshow và chương trình ăn khách xuất hiện, kéo khán giả quay trở lại với HTV. Phần lớn các chương trình tập trung vào đối tượng khán giả trẻ, cách dẫn năng động và tươi mới, khác hẳn phong cách các thế hệ HTV trước đây.

Cùng với sự thay đổi quan trọng trên, việc triển khai số hóa truyền hình tại khu vực Nam Bộ bắt đầu chuyển sang giai đoạn nước rút. Thông qua SDTV, công ty con của HTV có chức năng phát sóng DVB-T2, vùng phủ sóng mặt đất của HTV đã mở rộng ra toàn khu vực Nam Bộ và được khán giả miền Tây đón nhận nồng nhiệt.

Ngày 30/06/2017, kênh HTV3 đã tạm dừng phát sóng và thành kênh DreamsTV vì sa thải đặc biệt, khai tử kỷ luật vì nội dung sai vị trí bản quyền. Ví dụ, chương trình Thử thách thần tượng Running Man đã tạm dừng ở tập 78 vì vi phạm bản quyền.

Năm 2018 là dấu mốc quan trọng đối với HTV trong việc phục hồi thị phần và lấy lại vị trí dẫn đầu ở miền Nam. Đặc biệt, mảng thể thao được đầu tư nhiều hơn sau thời gian dài trì trệ. Lần đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng các giải thể thao lớn - nhất là bóng đá, HTV đã mạnh dạn mua bản quyền World Cup 2018, chấm dứt việc độc quyền gây nhiều bức xúc từ VTV[19][20][21][22].

Về kỹ thuật truyền hình, ngày 03/04/2018 đi vào lịch sử ngành truyền hình Việt Nam khi HTV lần đầu tiên trực tiếp toàn chặng không gián đoạn cho chặng đua Thanh Hóa – Nghệ An ở cúp xe đạp truyền thống của mình. Sự tiến bộ về kỹ thuật trực tiếp và cách thức tổ chức đã tạo rất nhiều bất ngờ cho khán giả, từ đó kéo theo lượng lớn người yêu xe đạp đồng hành cùng đoàn đua qua sóng truyền hình cũng như mạng xã hội. Với sức lan tỏa mạnh ngoài dự kiến, HTV đã trực tiếp hầu hết các chặng đua còn lại thay vì chỉ 21/30 chặng như kế hoạch ban đầu. Đỉnh điểm là chặng Huế – Đà Nẵng (qua đèo Hải Vân trong mưa lớn) và chặng Nha Trang – Đà Lạt (qua đèo Ngoạn Mục với địa hình đồi núi phức tạp), tín hiệu trực tiếp vẫn rất ổn định, mở ra giai đoạn mới của truyền hình thể thao tại Việt Nam.

Ngày 13/10/2018, kênh HTV2 đổi thành HTV2 - Vie Channel sau 10 năm phát sóng với Đất Việt VAC.

Năm 2019, HTV lần đầu tiên tổ chức truyền hình trực tiếp tất cả các chặng đua của Cúp Truyền hình[23]. Với số lượng camera được tăng cường nhiều hơn (tổng cộng khoảng gần 20 máy) và kỹ thuật truyền dẫn tiếp tục cải tiến, khán giả yêu xe đạp đã được theo sát các diễn biến trên đường đua. Nhờ đó, HTV tiếp tục nâng cao vị thế của cuộc đua này[24].

Những dấu mốc quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 22/01/1966: THVN9 phát sóng thử nghiệm bằng máy bay trực thăng.
  • 07/02/1966: THVN9 phát sóng chính thức, khai sinh truyền hình tại Việt Nam.
  • 25/10/1966: Tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được xây dựng, cao 128m, tại số 9 Hồng Thập Tự.
  • 22/03/1973: Đài AFVN chấm dứt hoạt động tại VNCH, chuyển giao cơ sở vật chất cho THVN9.
  • 29/04/1975: THVN9 phát sóng buổi cuối cùng, trước ngày Sài Gòn sụp đổ, kết thúc lúc 23:58.
  • 01/05/1975: Đổi tên thành Đài Truyền hình SGGP, Kênh 9 lên sóng trở lại sau 1 ngày ngừng sóng, từ lúc 19:00.
  • 03/10/1975: Hãng Truyền hình Đắc Lộ chính thức sáp nhập vào Truyền hình SGGP.
  • 02/07/1976: Đổi tên thành Đài Truyền hình TP.HCM, là đài khu vực Nam Bộ thuộc Ủy ban PT-TH Việt Nam.
  •  ??/??/1981: Được chuyển giao về UBND TP.HCM, hạ cấp thành đài truyền hình địa phương.
  • ??/??/1986: FM 99.9 MHz lên sóng trở lại sau 1975, là kênh FM duy nhất tại Việt Nam trong nhiều năm.
  • ??/??/1986: Kênh 7 ra mắt, HTV trở thành đài đầu tiên của Việt Nam phát sóng cùng lúc 2 kênh riêng biệt.
  • 23/08/1987: Cháy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu.
  • 24/08/1987: Chấm dứt hệ đen trắng, chuyển qua phát hình màu lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 01/01/1990: Nâng thời lượng phát sóng cho cả hai Kênh 7 và 9 lên 12 giờ/ ngày, lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 18/10/1991: Thành lập Hãng phim Truyền hình (TFS), hãng phim trực thuộc đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam.
  • 30/04/1994: Đưa ra biểu trưng chính thức là HTV. Kênh 7 & Kênh 9 lần lượt có logo là HTV7 và HTV9.
  • 01/09/1997: Chuyển giao FM 99.9 MHz cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM.
  • ??/03/1998: Thành lập Tạp chí HTV
  • ??/??/1999: Vận hành hệ thống phát sóng tự động bằng robot cho 2 kênh HTV7, HTV9.
  • 01/07/2003: Thành lập Trung tâm Truyền hình cáp HTVC (HTV Choice).
  • 01/10/2003: Phát sóng kỹ thuật số DVB-T trên Kênh 25 và ra mắt 4 kênh mới (HTV1, HTV2, HTV3, HTV4).
  • ??/??/2004: Chính thức số hóa toàn bộ khâu sản xuất chương trình.
  • 25/11/2005: Thực hiện "Đồng hành cùng SEA Games 23" - chương trình trực tiếp đầu tiên của VN từ nước ngoài.
  • ??/??/2006: Vận hành hệ thống server phát sóng tự động, lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 01/06/2005: HTV7 - cũng là kênh đầu tiên tại Việt Nam chính thức phát sóng 24/24.
  • ??/??/2005: Phát sóng quảng bá HTV7, HTV9 từ vệ tinh Thaicom, Measat chuẩn DVB-S.
  • 27/04/2006: Khánh thành tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV.
  • 06/08/2008: HTVC ra mắt kênh FBNC, kênh truyền hình đầu tiên tại Việt Nam phát sóng chuẩn full HD.
  • ??/??/2008: HTV bắt đầu phát sóng các kênh HTV, HTVC từ Vinasat 1, band C và KU, chuẩn DVB-S.
  • 29/04/2009: Thay đổi chuẩn phát sóng band C và KU trên Vinasat 1 thành DVB-S2.
  • 07/05/2009: Ngừng sóng analog các kênh HTV1, HTV3, HTV4[25].
  • 18/01/2010: Khánh thành tháp ăng-ten mới cao 254m, cao nhất Việt Nam tính đến nay[26].
  • 16/10/2010: Kênh HTV Thể Thao ra mắt, kênh quảng bá chuyên về thể thao đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam.
  • 31/12/2011: HTV ngừng sóng Kênh 25 (DVB-T) và Kênh 30 (HTV2 analog)[27].
  • ??/05/2012: HTV chuyển các kênh band KU từ vệ tinh Vinasat 1 sang vệ tinh Vinasat 2.
  • 19/05/2013: HTV7, HTV9 phát sóng chuẩn HD, lần đầu tiên trong các kênh quảng bá tại Việt Nam.
  • 10/10/2014: Thành lập Công ty Truyền hình Kỹ thuật số Miền Nam (SDTV), có nhiệm vụ phát sóng DVB-T2.
  • 18/11/2014: SDTV phát sóng thử nghiệm DVB-T2, kênh 33 với 17 chương trình, trong đó có HTV7 HD & HTV9 HD[28].
  • 19/12/2014: SDTV phát sóng chính thức DVB-T2, kênh 33.
  • 15/04/2015: Phim trường HTV Hòa Phú (Huyện Củ Chi) chính thức đi vào hoạt động[29].
  • ??/12/2015: SDTV thiết lập thành công mạng đơn tần (SFN) DVB-T2 cho kênh 33[30].
  • 15/08/2016: HTV ngừng sóng analog Kênh 7, Kênh 9 theo lộ trình số hóa của chính phủ.
  • 30/09/2016: Bắt đầu nâng cấp chất lượng các chương trình trên HTV7 và HTV9.
  • 03/04/2018: Trực tiếp toàn chặng đua xe đạp đường trường (Cúp HTV 2018), lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 30/01/2019: Hai kênh HTV7, HTV9 trên vệ tinh Vinasat 2, band KU được nâng chuẩn hình ảnh lên HD.

Những chương trình nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cuộc thi Hoa hậu truyền hình (1967): THVN9 tổ chức Cuộc đầu tiên của Việt Nam & Đông Nam Á.
  • Táo quân (1982 - nay): Chương trình hài kịch phát sóng trong đêm cuối năm âm lịch và kết thúc đúng vào thời khắc giao thừa, với nhân vật chính là Táo quân - người tổng hợp những sự việc chính xảy ra trong năm. Táo quân ra mắt lần đầu tiên tại Việt Nam trên HTV9 vào đêm giao thừa Nhâm Tuất, 24/1/1982 và trở thành chương trình được mong đợi nhất vào đêm giao thừa trong hai thập kỷ 1980-1990.
  • Cuộc đua xe đạp Cúp Truyền hình (1989 - nay): Cuộc đua xe đạp đầu tiên của một đài truyền hình tại Việt Nam tổ chức, với mục đích đẩy mạnh phong trào xã hội hóa thể thao và kỷ niệm ngày thống nhất đất nước. Ra mắt lần đầu vào tháng 04/1989 với lộ trình rất ngắn (TP.HCM - Đà Lạt và quay ngược lại), nhưng chỉ sau đó 2 năm (năm 1991) Cúp Truyền hình đã được Tổng cục Thể dục Thể thao Việt Nam công nhận nằm trong hệ thống thi đấu quốc gia. Từ lần đua thứ năm (1993), Cúp Truyền hình lần đầu tiên có lộ trình xuyên Việt. Cho đến nay, Cúp Truyền hình đã trở thành một sự kiện quan trọng được mong đợi mỗi tháng Tư về, đặc biệt đối với khán giả Nam Bộ, nơi bộ môn xe đạp thể thao phát triển rất mạnh.
  • Tiếng hát Truyền hình (1991 - 2015): Cuộc thi ca hát đầu tiên trên truyền hình Việt Nam được tổ chức mỗi năm 1 lần. Các giọng ca đoạt giải từ cuộc thi này, đặc biệt là ở 15 năm đầu, đều trở thánh những ca sĩ nổi tiếng sau cuộc thi. Những gương mặt điển hình xuất phát từ cuộc thị này có Như Quỳnh, Mai Thiên Vân (hiện đang sống ở Mỹ), Đàm Vĩnh Hưng...
  • Nhịp cầu âm nhạc (05/1999 - 2016): Chương trình ca nhạc theo yêu cầu phát trực tiếp đầu tiên tại Việt Nam. Chương trình có 1 số điện thoại với 6 lines để tiếp nhận yêu cầu trực tiếp từ khán giả, lên sóng mỗi tháng 1 lần trên kênh HTV7.
  • Vầng trăng cổ nhạc (01/2001 - nay): Chương trình ca cổ & trích đoạn cải lương lên sóng mỗi tháng 1 lần.
  • Chuông vàng Vọng cổ (2006 - nay): Cuộc thi tuyển chọn những nhân tố mới, đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật cải lương.
  • Ngân mãi chuông vàng
  • Vượt lên chính mình (09/2005 - 12/2018).
  • Chinh phục đỉnh Everest (09/2007 - 05/2008): Các vận động viên phải chinh phục 4 đỉnh núi là Phanxipăng (VN), Kinabalu (Malaysia), Kilimanjaro (châu Phi), Island Peak (Nepal)[31] trước thử thách cuối cùng là nóc nhà thế giới Everest[32]. Ngày 22/05/2008, 3 nhà leo núi đầu tiên của Việt Nam là Bùi Văn Ngợi (25 tuổi), Phan Thanh Nhiên (23 tuổi) và Nguyễn Mậu Linh (31 tuổi) đã ghi tên vào danh sách những người chinh phục được "Nóc nhà thế giới" - đỉnh Everest (cao 8.850 m, thuộc Nepal).
  • Ngôi nhà mơ ước: Chương trình xây nhà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên khắp cả nước.
  • Thay lời muốn nói (2000 - nay).
  • Cầu truyền hình trực tiếp trực tiếp với quần đảo Trường Sa, lần đầu tiên trên sóng truyền hình 17/10/2009.
  • Thử thách cùng bước nhảy (2012 - 2016): Chương trình thi tài về nhảy múa, dực theo format của So you think you can dance.
  • 60 giây (17/01/2012 - nay): Chương trình tin tức tổng hợp phát sóng trực tiếp trong 2 khung giờ 06:30-07:00 và 18:30-19:00 trên HTV7 và HTV9.
  • Tiếng hát mãi xanh
  • Thần tượng Âm nhạc - Vietnam Idol - Mùa 1 & 2
  • Tiếng hát măng non truyền hình
  • Tiếng ca học đường
  • Người dẫn chương trình truyền hình - Én vàng (2004 - nay)
  • Giải thưởng truyền hình HTV
  • Album vàng
  • Ngôi nhà âm nhạc


Các dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình cáp[sửa | sửa mã nguồn]

HTV có dịch vụ truyền hình cáp riêng với thương hiệu là HTVC. Đặc biệt, HTV đã phối hợp với VNPT để cung cấp các kênh truyền hình HTV và gói dịch vụ của HTVC trên đường cáp quang của VNPT (HTV-Fiber VNN). Ngoài ra, HTV cũng mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ truyền hình của mình thông qua tất cả các dịch vụ truyền hình trả tiền khác trên toàn quốc.

Truyền hình số mặt đất[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty con của HTV là SDTV có chức năng phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất theo chuẩn DVB-T2 cho toàn khu vực miền Nam Việt Nam từ Đà Nẵng trở vào (trừ 2 tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Năm 2017 đánh dấu việc SDTV đã hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho 20 tỉnh khu vực Nam Bộ, đi trước một năm so với lộ trình do chính phủ đề ra[33]. Hiện nay, trên 85% dân số khu vực Nam Bộ đã có thể thu sóng của SDTV dễ dàng.

Năm 2018, SDTV tiếp tục mở rộng mạng phát sóng DVB-T2 ra khu vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên (trừ hai tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Theo lộ trình, đến tháng 03/2019, SDTV sẽ hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho khu vực này.

Quảng cáo và phát hành chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

HTV là đài truyền hình đầu tiên trong cả nước phát sóng quảng cáo sau 1975. Việc quản lý các chương trình quảng cáo được đảm nhiệm bởi Trung tâm Dịch vụ Truyền hình (HTVS). Bên cạnh chức năng chính là làm quảng cáo, HTVS còn là đơn vị chịu trách nhiệm phát hành các chương trình truyền hình, bán bản quyền truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

Truyền hình vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 2000, HTV đã bắt đầu đưa các chương trình của mình lên vệ tinh Measat-2 và chính thức trở thành nhà phát sóng vệ tinh cho các kênh địa phương khác khi Vinasat 1 lên quỹ đạo. Thực tế, HTV gần như không quảng bá việc mình phát sóng qua vệ tinh mà chỉ làm rất âm thầm. Người xem tự dùng chảo parabol thu sóng từ vệ tinh Vinasat 1, Vinasat 2 và tự thông báo trên các diễn đàn. HTV chưa từng công bố chính thức về các tần số phát sóng vệ tinh của các kênh HTV, HTVC và các kênh địa phương do HTV làm dịch vụ phát sóng.

Tình đến thời điểm 03/2019, HTV đã sử dụng Vinasat 1, band C để phát 2 kênh HTV7, HTV9 và Vinasat 2, band KU cho nhóm kênh HTV, HTVC và nhiều kênh truyền hình địa phương khác.

Truyền hình Internet, OTT[sửa | sửa mã nguồn]

HTV đã triển khai hai dịch vụ OTT là HTV OnlineHTVC hoạt động trên iOS, Android, các smart TV, smart box… HTV TMS cũng đã hợp tác với công ty VNPT Technology để ra mắt gói dịch vụ HTVC tvod, với smartbox hoạt động trên mạng Internet… Bộ phận nội dung số của Đài tiếp tục triển khai việc cung cấp nội dung chương trình HTV trên Youtube và cho một số đơn vị kinh doanh nội dung số như: FPT Play, ZingTV, Viettel, HD Việt. Trong thời gian tới, Đài sẽ tiếp tục đẩy mạnh hình thức kết hợp phân phối nội dung trên online và sóng truyền hình, tiến đến việc sản xuất nội dung phù hợp nhiều nền tảng, nhiều đối tượng cho nhiều môi trường phân phối.

Phát hành chương trình trên Youtube[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, HTV đang có nhiều kênh Youtube chính thức: HTV Entertainment, HTV Life, HTV Music, HTV Sports, HTV Films, 60 giây, HTVC Phim, HTVC Teen, HPlus... Khán giả có thể xem lại nhiều (không phải tất cả) chương trình ngay sau khi phát sóng trên truyền hình. Việc quản lýkinh doanh nội dung các chương trình của HTV trên Youtube được phụ trách bởi công ty HTV-TMS.

Hoạt động thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty TNHH MTV Dịch vụ Kỹ thuật Truyền thông HTV (HTV TMS)[sửa | sửa mã nguồn]

Là công ty con của HTV, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực: Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông; Kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền; Tổ chức sản xuất và phát hành các chương trình truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

Trung tâm dịch vụ Truyền hình - HTVS[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm sản xuất chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh - TFS[sửa | sửa mã nguồn]

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thi hoa hậu trên Đài truyền hình Sài Gòn”. 
  2. ^ “Đài truyền hình TP.HCM (HTV): 40 năm và những dấu ấn”. 
  3. ^ “HTV phát sóng DVB-T”. 
  4. ^ “Ông Huỳnh Văn Nam - Giám đốc Đài Truyền hình TP.HCM: "HTV không hề bán sóng". 
  5. ^ “HTV và SEA Games 23”. 
  6. ^ “HTV đồng hành cùng SEA Games 23”. 
  7. ^ “3 người Việt Nam đầu tiên chinh phục đỉnh Everest”. 
  8. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Tại HTV…”. 
  9. ^ “Đài truyền hình TP.HCM: khánh thành tòa nhà trung tâm”. 
  10. ^ “Vietnam Idol lần 2 tạm ngưng tổ chức”. 
  11. ^ “Vietnam Idol không thích ứng”. 
  12. ^ “HTV3 ngưng phát sóng một số chương trình từ 8-8”. 
  13. ^ “Khi một kênh truyền hình bị tạm ngừng phát sóng”. 
  14. ^ “HTV2 ngừng phát sóng phim truyện”. 
  15. ^ “Truyền hình cáp HTVC bị xử lý vì phát 'lậu' 34 kênh”. 
  16. ^ “Truyền hình giải trí và giá phải trả: Cạnh tranh thiếu định hướng”. 
  17. ^ “Đài Truyền hình TP.HCM có Tổng Giám đốc mới”. 
  18. ^ “TP.HCM bổ nhiệm nhiều nhân sự mới”. 
  19. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Xin đừng gọi là phục vụ”. 
  20. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Rối vì "anh cả" đóng... cả hai vai”. 
  21. ^ “Bản quyền World Cup 2018: VTV than khó, đã có HTV”. 
  22. ^ “Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son: Độc quyền Ngoại hạng Anh gây bức xúc cho cả xã hội”. 
  23. ^ “Những câu chuyện phía sau đường đua”. 
  24. ^ “Cúp Truyền hình HTV và bước đột phá công nghệ”. 
  25. ^ “Ngừng phát sóng trên analog 3 kênh của HTV: Không phát sóng “chui”, chỉ chưa giấy phép!”. 
  26. ^ “Đài truyền hình Tp HCM khánh thành hệ thống phát qua cột Anten 254 mét”. 
  27. ^ “Ngừng hai kênh truyền hình không giấy phép sử dụng tần số”. 
  28. ^ “SDTV phát sóng thử nghiệm DVB-T2 trên kênh 33”. 
  29. ^ “Phim trường Hòa Phú, Củ Chi đi vào hoạt động”. 
  30. ^ “SDTV thiết lập thành công mạng đơn tần phát sóng truyền hình số”. 
  31. ^ “Bốn chàng trai Everest”. 
  32. ^ “Chương trình truyền hình “Chinh phục đỉnh Everest”: Hồi hộp và hưng phấn”. 
  33. ^ “SDTV hoàn thành phủ sóng truyền hình số 20 tỉnh, thành Nam Bộ”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]