Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Loại hình
Tập đoàn Truyền thông
Ngành nghềTruyền thông đại chúng
Thể loại
  • Sản xuất chương trình
  • Kinh doanh nội dung
  • Phát sóng truyền hình
Thành lập
  • 22/01/1966 (Đài THVN - VNCH)
  • 01/05/1975 (Đài TH SGGP)
  • 02/07/1976 (Đài TH TP. HCM)
Trụ sở chính
  • Số 14, Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
  • Số 9, Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
Nhân viên chủ chốt
  • Tổng Giám đốc: Dương Thanh Tùng
  • Phó Tổng Giám đốc: Cao Anh Minh, Diệp Bửu Chi, Thái Thành Chung
Dịch vụ
Chủ sở hữuỦy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Số nhân viên
2.000
Chi nhánh
  • HTV Hà Nội
  • Phim trường HTV Củ Chi
Công ty con
WebsiteHTV HTV Online

Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh City Television, viết tắt: HTV) là đài truyền hình của Thành phố Hồ Chí Minh, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền thân của Đài là Đài Truyền hình Việt Nam (THVN9) dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, ra đời năm 1965, phát hình buổi đầu tiên vào ngày 7/2/1966, chấm dứt ngày 29/4/1975, một ngày trước khi chế độ VNCH sụp đổ. Khi đó, ngoài Sài Gòn, THVN9 còn có mặt tại nhiều tỉnh thành khác như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Pleiku, Quy Nhơn, Nha Trang, Cần Thơ... tạo ra mạng lưới phủ sóng rộng khắp miền Nam, trong lúc truyền hình ở miền Bắc chưa hết giai đoạn thử nghiệm và đến năm 1973 mới bắt đầu phát sóng.

HTV là tập đoàn truyền thông chủ lực, có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống truyền hình Việt Nam và dẫn đầu về lượng khán giả xem đài ở khu vực phía Nam. Hiện nay, Đài phát sóng 7 kênh truyền hình quảng bá và 10 kênh truyền hình trả tiền.

Lịch sử

Giai đoạn khai sinh của truyền hình tại Việt Nam, 1965-1966

Trụ sở đài THVN9 (trong ảnh ghi là Vietnamese TV station) và đài AFVN với tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam cao 128m xây dựng năm 1966. Đây là khu vực của trụ sở HTV ngày nay. Ảnh: Manh Hai.

Năm 1965, Đài Truyền hình đầu tiên của Việt Nam được thành lập là Đài Truyền hình Việt Nam (thuộc VNCH, không phải Đài THVN hiện nay), do Tổng cục Truyền thanh - Truyền hình và Điện ảnh điều hành dưới quyền Bộ Dân vận, Việt Nam Cộng Hòa. Đài phát hình trắng đen trên Kênh 9 nên cũng được gọi là Đài số 9 hay viết tắt là THVN9. THVN9 phát sóng thử nghiệm vào ngày 22/01/1966 và chính thức buổi đầu tiên vào ngày 07/02/1966.

Trong thời gian đầu, đài phát sóng bằng kỹ thuật stratosvision, nghĩa là dùng trực thăng mang theo máy phát sóng và anten bay trên không phận Sài Gòn cách mặt đất 3-6 km. Kỳ phát hình đó ghi hình ảnh của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ và đại sứ Mỹ Cabot Lodge. Khu vực phủ sóng từ trực thăng rất rộng, gồm cả Nam BộNam Trung Bộ, từ Phan Thiết đến Cần Thơ đều xem được, có lúc tận Phnom Pênh (Campuchia) cũng xem được. Lúc đầu phát hình 1 giờ/ngày, sau tăng thời lượng lên 2 giờ/ngày. Trụ sở thu hình của Đài lúc này dùng chung cơ sở của Trung tâm Điện ảnh Quốc gia số 9 trên đường Thi Sách. Giám đốc đầu tiên của THVN9 là Trung tá Đỗ Việt, Phó Giám đốc là ông Lê Hoàng Hoa.

Cùng lúc với việc thiết lập Đài Truyền hình Việt Nam là đài của Quân đội Mỹ phát bằng tiếng Anh, có đối tượng phục vụ chính là binh lính Mỹ. Đài này lúc đầu gọi là AFRTS (Armed Forces Radio Television Service), đến năm 1967 đổi thành AFVN (Armed Forces Vietnam Network), có trụ sở chính ở số 9 Hồng Thập Tự, Sài Gòn (nay là số 9 Nguyễn Thị Minh Khai).

Năm 1966, AFVN tiến hành xây đựng tháp truyền hình. Việc xây dựng diễn ra rất nhanh, các kết cấu thép được lắp ráp sẵn dưới đất theo từng đoạn và dùng máy bay trực thăng đưa lên. Chỉ sau một thời gian ngắn, ngày 25/10/1966, tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được hoàn thành và đưa vào sử dụng, thay thế cho việc phát sóng bằng máy bay trực thăng trước đó. Tháp cao 128m, là nơi đặt anten phát sóng của Kênh 9 (THVN9), Kênh 11 và FM 99.9 MHz (AFVN).

Năm 1967, Điện ảnh và Truyền hình tách riêng, Đài THVN vì vậy chuyển về số 9 Hồng Thập Tự - cùng địa chỉ với AFVN nhưng có tường ngăn.

Còn về AFVN, ngoài trụ sở chính tại Sài Gòn, Đài này còn có nhiều văn phòng và trạm phát sóng rải đều khắp Việt Nam Cộng Hòa: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, Pleiku, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Cần Thơ.

Ở giai đoạn này, truyền hình hoàn toàn chưa được nhắc tới tại miền Bắc.

Giai đoạn phát triển thời VNCH, 1967-1975

Hoàng Trọng và ban Tiếng Tơ Đồng trong một chương trình ca nhạc trên THVN9 năm 1968.

Chương trình phát hình của THVN9 bắt đầu từ lúc 18:00, bắt đầu bằng nhạc hiệu: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…" với hình ảnh các thắng cảnh Việt Nam. Một số chương trình tiêu biểu có nhiều người xem như: Hoa thế hệ (giới thiệu những diễn viên nhí cải lương, hồ quảng… Nghệ sĩ Phượng Mai xuất thân và nổi bật trong chương trình này), Ban thiếu nhi Tuổi Xanh của bà Kiều Hạnh, chương trình thiếu nhi Xuân Phát của nghệ sĩ Xuân Phát, chương trình thiếu nhi Hoa bách hợp của Hội Hướng Đạo Việt Nam, chương trình ca nhạc thiếu nhi Nguyễn Đức của nhạc sĩ Nguyễn Đức (các ca sĩ nữ có họ Phương đều xuất thân từ lò đào tạo Nguyễn Đức: Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế…), Ban thiếu nhi Gió Khơi chuyên biểu diễn hòa tấu đàn mandolin và các tiết mục múa về quê hương (do thầy Hưng và cô Phấn nhà ở đường Nguyễn Tiểu La, Quận 10 sáng lập), chương trình Đố vui để học do Vũ Khắc Khoan điều khiển, Đinh Ngọc Mô phụ trách. Sau đó là chương trình thời sự, tin tức. Lúc đó là thời chiến nên THVN9 thường phát các bản tin chiến sự ở 4 vùng chiến thuật. Các bản tin này được xen kẽ vào nội dung các chương trình giải trí: Cải lương (lúc đầu phát hình vào mỗi tối Thứ Ba, sau đó đổi qua Thứ Bảy) có các đoàn: Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Minh Tơ, Huỳnh Long… Ca vũ nhạc: Hoàng Thi Thơ, chương trình tạp lục Tùng Lâm… Kịch nói có các đoàn: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng, Vũ Đức Duy…

Điều rất bất ngờ và cũng có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người là chỉ sau hơn 1 năm hoạt động, THVN9 đã tổ chức cuộc thi tuyển lựa Hoa hậu truyền hình. Chi tiết này cho thấy sự năng động, sáng tạo: “nhằm mục đích góp phần linh động chương trình phát sóng hằng tuần của đài”; và nhanh nhạy tiếp thu cái mới: “như các đài ngoại quốc thường làm”. Thời gian cuộc tuyển lựa này diễn ra từ ngày 1/6 – 20/11/1967. Theo điều lệ là vậy, tuy nhiên sau 8 tuần thi, ban tổ chức thông báo cho biết “vì lý do kỹ thuật” nên vòng chung kết diễn ra vào tháng 9/1967.

Về thành phần ban tổ chức, có tất cả 52 người, đứng đầu là ông Đỗ Việt - Giám đốc Nha Vô tuyến truyền hình VNCH. Ngoài ra, còn có 10 người trong ban giám khảo, trong số đó, nay có vài người mà công chúng vẫn còn nhớ đến như nhà văn Bình Nguyên Lộc, tài tử Đoàn Châu Mậu, họa sĩ Lưu Đình Khải – Hiệu trưởng Trường cao đẳng Mỹ thuật… Ban giám khảo chấm 2 phần: “gương mặt” – khi thí sinh mặc áo dài, không đeo nữ trang, không mang tóc giả; “thân hình” - khi thí sinh mặc áo tắm, có thể trang điểm chút đỉnh…

Về phía thí sinh, phải có đơn xin và “Giấy cho phép của cha mẹ hay người giám hộ - nếu chưa chồng dù đã 21 tuổi; hoặc của chồng”. Gửi kèm theo 6 ảnh chân dung 4x6 chụp gương mặt; 6 ảnh 9x12 chụp nguyên người “mặc áo tắm một miếng che kín”. Khi thí sinh đến nộp đơn, các cô thư ký cuộc thi sẽ cân, đo chiều cao, vòng ngực, eo… để ghi vào đơn. Nay, nhìn qua ảnh các thí sinh, dễ dàng nhận ra áo dài thời ấy dài chấm gót, áo tắm 1 mảnh ôm sát.

Cần phải nói thêm một tính cách rất “chịu chơi” của ban tổ chức: những thí sinh trình diễn ghi hình, sau đó đều được nhận quà của đơn vị tài trợ. Ngay cả “các thí sinh được vào vòng phúc khảo sau khi trình diễn, dù vào chung kết hay không đều được đền bù số tiền là 700 đồng cho các sở phí linh tinh”. Về giải thưởng dành cho người đoạt giải cao nhất: “được cộng tác với Đài THVN9”; ngoài cúp vàng, bạc còn có máy vô tuyến truyền hình và các “tặng phẩm giá trị hàng trăm ngàn đồng”.

Thời lượng phát hình vào đầu thập niên 1970 của THVN9 là 6 giờ mỗi ngày vào buổi chiều. 80% dân chúng ở miền Nam có thể bắt sóng xem được. Tính bình quân cứ mỗi 50 người dân thì có một ti vi; tổng cộng hơn 350.000 máy trên toàn quốc. Ngân sách của THVN9 vào năm 1970 là 1,3 triệu Mỹ kim.

Cùng với sự phát triển của THVN9, năm 1972, Truyền hình Đắc Lộ cũng được thành lập. Đây là một hãng truyền hình tư nhân thuộc Giáo hội Công giáo VNCH, do các tu sĩ Dòng Tên tại điều hành và có trụ sở tại số 171 Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng). Truyền hình Đắc Lộ không có kênh phát sóng riêng mà chỉ sản xuất các chương trình khoa giáo để phát sóng trên THVN9, với nội dung tập trung vào việc truyền đạt kiến thức cơ bản để nâng cao cuộc sống và phẩm giá người nghèo.

Năm 1972, AFVN bắt đầu giảm hoạt động và ngày 22/03/1973, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, AFVN chấm dứt hẳn. Hầu hết cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật của AFVN được chuyển giao cho THVN9 quản lý. Mạng lưới của THVN9 vì thế đã mở rộng ra toàn Việt Nam Cộng Hòa.

23:58 ngày 29 tháng 4 năm 1975, THVN9 của Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt hoạt động sau 10 năm tồn tại bằng lời chia tay và Quốc ca. Đài Truyền hình Giải phóng kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất của Đài.

Giai đoạn sau thống nhất, 1975-1985

"Đây là đài vô tuyến truyền hình Sài Gòn giải phóng (SGGP), phát đi từ Sài Gòn. Kính chào đồng bào ruột thịt và yêu quý! Kể từ giờ phút lịch sử và xúc động này, hồi 11:30 ngày 30/04/1975, thành phố anh hùng và vinh quang của chúng ta đã được giải phóng…”. Phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh đã đọc những lời ấy lúc 19:00 ngày 1/5/1975, truyền đi những thông cáo lịch sử. Thời khắc ấy cũng là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Đài truyền hình TP.HCM.

Sau một đêm Sài Gòn không có truyền hình, đúng 19:00 ngày 1/5/1975, ông Lê Minh Hiền - nhà báo từ Hà Nội vào, đã phát lệnh cho Đài Truyền hình SGGP phát sóng chương trình phát hình đầu tiên. Trên màn ảnh nhỏ xuất hiện lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bay phấp phới trong tiếng quân thiều (bài Giải phóng miền Nam của Huỳnh Minh Siêng). Rồi hai phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh và Nguyễn Hữu Phước xuất hiện… Mỹ Hạnh cất giọng đọc: “Đây là Đài truyền hình Sài Gòn giải phóng…”.

Huyện Trìa (Thanh Điền) và Thị Hến (Thanh Kim Huệ) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến, do HTV ghi hình năm 1982. Đây là một trong những vở cải lương đặc sắc của Đoàn Cải lương Sài Gòn 1 và đã được phát đi phát lại rất nhiều lần trên HTV vào thập niên 1980.

Theo kỹ sư điện thanh – nhạc sĩ Vĩnh Lai thì sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 12/4/1975, Ban Tuyên huấn Trung ương đã quyết định thành lập một đoàn gồm 12 người đang làm việc tại Cục Kỹ thuật phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Lúc 15:45 ngày 30/04/1975, đoàn vào chiếm lĩnh THVN9.

Đêm tiếp quản Đài THVN9, đoàn tiếp quản phải nằm ngủ ngoài hành lang, không dám vào khu trung tâm vì bị cài bom. Sau khi kiểm tra thấy toàn bộ thiết bị, máy móc của đài vẫn còn nguyên vẹn nên báo cáo lên Ban Quân quản và lãnh đạo đài, được lệnh: “Cố gắng thực hiện chương trình phát sóng ngay trong đêm 01/05/1975”. Tuy nhiên, đội ngũ chuyên trách về kỹ thuật của đoàn tiếp quản khi ấy còn rất lạ lẫm với các máy móc thiết bị hiện đại của THVN9.

Rất may, trong buổi sáng hôm đó có một vài nhân viên cũ đến trình diện. Họ cùng các nhân viên cũ và đoàn tiếp quản vận hành máy móc, chuẩn bị ổn thỏa cho đêm phát hình đầu tiên thành công, ấn tượng.

Không được như Sài Gòn, truyền hình tại các tỉnh thành khác ở miền Nam ngưng hoạt động và chịu sự quản lý của đoàn tiếp quản Hà Nội. Nhiều máy móc, thiết bị tại các nơi này (và cả ở Sài Gòn) được vận chuyển ra Hà Nội sau đó để bổ sung cơ sở vật chất vốn rất nghèo nàn và lạc hậu cho Đài Tiếng nói Việt Nam (nơi được cho là đang phát sóng một kênh truyền hình từ năm 1973). Các cơ sở truyền hình tại Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Cần Thơ trở thành tài sản của Đài Truyền hình Trung Ương, còn lại được quản lý bởi các đài phát thanh - truyền hình địa phương.

Cùng thời điểm sau ngày thống nhất, Dòng Tên Sài Gòn đã chủ động hiến khu vực Đài Truyền hình Đắc Lộ, phim trường và toàn bộ trang thiết bị cho chính quyền mới tiếp quản, với danh xưng là cơ sở 2 của Truyền hình SGGP. Một số nhân viên của Truyền hình Đắc Lộ cũng theo đó được tiếp tục làm việc trong Truyền hình SGGP. Đoàn quản lý của Truyền hình SGGP khi đó rất vui mừng và hết sức ngạc nhiên khi kho băng video của Truyền hình Đắc Lộ không hề đề cập đến tôn giáo trong khi tất cả nhân sự sản xuất các chương tình đó đều là tu sĩ. Vậy là sau vài tháng gián đoạn, ngày 03/10/1975, các chương trình giáo dục quay trở lại trên sóng truyền hình SGGP.

Ngày 02/07/1976, Sài Gòn chính thức được đổi tên thành TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình SGGP cũng được đổi thành Đài Truyền hình TP.HCM (HTV).

Từ năm 1975 đến năm 1981, với vai trò là đài khu vực Nam Bộ, HTV đã giúp đỡ cho các đài phía Nam (mà thực chất là các chi nhánh của chính mình trước 1975) khôi phục lại cơ sở vật chất hoặc xây dựng thêm. Năm 1981, HTV được chuyển giao về UBND TP.HCM và hạ cấp thành Đài truyền hình địa phương. Cơ sở 2 của đài nằm trên đường Lý Chính Thắng được giao lại cho Đài Truyền hình Trung Ương quản lý.

Cũng như tình hình chung của xã hội bao cấp, trong giai đoạn này, HTV phải hoạt động trong sự thiếu hụt kinh phí triền miên. Biên chế có lúc lên đến hơn 1.200 người nhưng lao động thực tế lại thiếu trầm trọng, chính sách tiền lương bất cập, chế độ thù lao - nhuận bút lạc hậu... khiến nội bộ đài rất bức xúc. Nhiều người cũ của THVN9 không chịu nổi đã xin chuyển cơ quan hoặc về hưu sớm.

Giai đoạn đổi mới, 1986-1993

Tình hình HTV ngày càng bi đát, đến mức chỉ vì thiếu tiền cải tạo hệ thống điện đã quá cũ kỹ mà đêm 23/8/1987, trận hỏa hoạn lớn xảy ra thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu. Tuy nhiên, ngay đêm hôm sau, 24/8/1987, HTV chuyển qua phát hình màu và chấm dứt hệ đen trắng, tạo ra một bước ngoặt lịch sử mới cho ngành truyền hình Việt Nam.

Cũng khoảng năm 1986, đài cho lên sóng kênh FM 99.9 MHz, với tên gọi là đài "Tin tức - Ca nhạc và Báo giờ". Đây là kênh FM đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó, phát sóng từ 6 giờ sáng đến 24 giờ đêm. Nội dung của FM 99.9 MHz bao gồm báo giờ (chuông và phát thanh viên đọc "Bây giờ là ... giờ"), tiếp đến là tin tức đầu giờ (khoảng 5-10 phút), sau đó là các chương ca nhạc, ca cổ, nhạc hòa tấu và thính phòng (có giờ phát nhất định cho mỗi thể loại nhạc) cho đến đầu giờ tiếp theo. Nội dung ca nhạc, ca cổ Việt Nam do đài tự ghi âm hoàn toàn. Có khi đài cũng phát các vở cải lương dài nhưng cắt ra nhiều phần để phù hợp với cấu trúc phát sóng. Tuy cùng lúc quản lý cả truyền hình và kênh phát thanh FM nhưng đài chưa bao giờ dùng tên "Phát thanh - Truyền hình TP.HCM". Người nghe cũng sẽ không thể nhận ra mối liên hệ nào giữa FM 99.9 MHz với Kênh 9 của đài, trừ việc phát thanh viên truyền hình cũng là người đọc tin tức trên sóng FM 99.9 MHz.

Quay trở lại với truyền hình, kịch và ca nhạc là 2 thể loại nổi bật trên HTV từ đầu thập niên 1980, và phát triển rất mạnh trong giai đoạn này. Các vở chính kịch vào các ngày Thứ Bảy thu hút rất đông đảo khán giả. Đặc biệt, kịch hài Trong nhà ngoài phố mỗi tối Thứ Năm và Táo quân đêm giao thừa với sự dẫn dắt của hai đạo diễn Trần Văn Sáu và Thế Ngữ đã tạo hiệu ứng mạnh trong xã hội: Các văn nghệ sĩ nổi tiếng của miền Nam khi đó đều có điểm xuất phát từ đây, nhiều thuật ngữ, câu nói trong Trong nhà ngoài phố thành câu cửa miệng trong đời sống.

Năm 1986, bên cạnh Kênh 9 đang phát sóng, HTV bắt đầu phát thử nghiệm Kênh 7 (nay là HTV7). Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Kênh 7 đã lên sóng chính thức với chức năng là kênh Dịch vụ - Thông tin rao vặt của HTV. Cùng với sự ra đời của Kênh 7, lần đầu tiên quảng cáo đã chính thức quay trở lại trên sóng truyền hình kể từ sau năm 1975 và cũng là lần đầu tiên một đài truyền hình của Việt Nam phát 2 kênh có nội dung độc lập. HTV bắt đầu có nguồn thu từ đó.

Từ năm 1990, HTV bắt đầu chuyển hướng bằng việc đề xuất với cấp trên cho phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình. Tập thể lãnh đạo đài đã mạnh dạn thể nghiệm ứng dụng các chế độ nhằm kích thích tăng năng suất, điều tiết lao động, giảm biên chế, thí điểm xây dựng chế độ thù lao nhuận bút mới, triệt tiêu dần chế độ bình quân chủ nghĩa, đồng thời tập hợp được đông đảo lực lượng cộng tác viên có tay nghề cao. Chất lượng chuyên môn từ đó cũng ngày càng được nâng lên.

Thực tiễn sau nhiều năm đã chứng minh rằng phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình là chìa khóa đảm bảo cho sự phát triển. HTV cũng có bước đột phá vào lĩnh vực xã hội hóa, nổi bật là Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình TP.HCM từ năm 1989 và cuộc thi Tiếng hát Truyền hình từ năm 1991. Về nhân đạo xã hội, HTV đẩy mạnh phong trào xây nhà tình nghĩa - nhà tình thương.

Phim ảnh là nội dung được HTV rất quan tâm, như phim Cô Nhíp năm 1976 là một ví dụ. Tuy nhiên, vì thiếu kinh phí nên hoạt động này tạm ngưng. Đến năm 1991, HTV mới chính thức thành lập Hãng phim Truyền hình TFS, đưa việc sản xuất phim và phim tài liệu qua một giai đoạn mới. Ban đầu, TFS tập trung sản xuất các phim lẻ theo kiểu điện ảnh, mở màn là Giữa dòng và gặt hái một kỷ lục về giải thưởng. Sau đó, hãng bắt đầu làm các phim dài tập với sự mở màn của Người đẹp Tây Đô, tạo ra tiếng vang lớn và gắn "danh hiệu" này với nữ diễn viên Việt Trinh từ đó. Các bộ phim tiếp theo tiếp tục đưa tên tuổi TFS lên tầm cao như Xóm nước đen, Đất Phương Nam, Giã từ dĩ vãng, Đồng tiền xương máu, Ngọn nến hoàng cung, Blouse trắng...

Giai đoạn phát triển mạnh, 1994-2007

Năm 1994 là năm HTV thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ nhất, từ việc đưa ra biểu trưng HTV đầu tiên đến việc tăng mạnh thời lượng phát sóng lên 18 giờ/ ngày cho cả hai kênh HTV7 và HTV9. Cũng từ năm 1994, HTV bắt đầu tự chủ về tài chính, trở thành đơn vị đầu tiên trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình xóa bỏ hoàn toàn chế độ bao cấp.

Về doanh thu, năm 1994 là năm đầu HTV có lợi nhuận gần 72 tỷ đồng. Tới năm 2004 là 600 tỷ đồng. Tổng doanh thu từ năm 1994-2004 (11 năm) là trên 3.000 tỷ đồng, đóng thuế gần 1.500 tỷ đồng. Về mặt đầu tư trang thiết bị, từ năm 1997-2004, HTV đã chi trên 400 tỷ đồng thay thế 100% thiết bị cũ không đồng bộ, phát triển hệ thống kỹ thuật hoàn thiện ngang tầm với các nước trong khu vực, tạo ra khả năng hợp tác trên lĩnh vực sản xuất chương trình với khu vực và quốc tế. Tòa nhà Trung tâm Truyền hình 16 tầng với kinh phí xây dựng gần 150 tỷ đồng được khánh thành năm 2006 và trở thành một trong những kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM. Ngoài ra, HTV đã đầu tư vào trường quay truyền hình rộng gần 50 ha ở Xã Hòa Phú, huyện Củ Chi với riêng tiền bồi thường giải tỏa đã trên 100 tỷ đồng.

Năm 1997, máy phát sóng FM 99.9 MHz được chuyển giao cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM theo kế hoạch tái cấu trúc của thành phố. Nhân sự cũ của FM 99.9 MHz vẫn thuộc biên chế của đài và chuyển sang phục vụ cho truyền hình.

Về nhân lực, HTV đã tiến hành trẻ hóa đội ngũ nhân viên và hoàn thành trong năm 2000. Nhờ đó việc sản xuất chương trình đã phát triển mạnh mẽ. Cuối 2003 - năm 2004, lần đầu tiên HTV cho ra đời cùng lúc 4 kênh kỹ thuật số (digital) là HTV1, HTV2, HTV3, HTV4 (nay là HTV Key) ngoài hai kênh chủ lực là HTV7 và HTV9 đang phát analog.

Về ảnh hưởng, trong giai đoạn này HTV là một đài truyền hình rất mạnh, hoàn toàn không có đối thủ. Ngay cả VTV cũng chỉ là người đứng ngoài cuộc chơi và "không có cửa" để cạnh tranh với HTV về các mảng thể thao, giải trí. HTV mạnh đến mức, có thời điểm VTV mua bản quyền World Cup và phải năn nỉ HTV tiếp sóng hoặc cùng khai thác để có chỉ số rating cao nhằm thu hút quảng cáo.

Về lĩnh vực truyền hình trả tiền, năm 2003, HTV thành lập Trung tâm Truyền hình Cáp HTVC. Sau một năm hoạt động, HTVC đã có 700.000 thuê bao tại TP.HCM, trở thành đơn vị truyền hình trả tiền lớn thứ hai tại Việt Nam ở thời điểm đó.

Người có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của HTV trong giai đoạn này là ông Phạm Khắc - Tổng Giám đốc của HTV 1996-2003.

Giai đoạn khủng hoảng lần 2, 2008-2016

Vị trí thống trị thị trường truyền hình của HTV ở miền Nam bắt đầu bị lung lay từ năm 2008, được đánh dấu bằng sự kiện HTV bị UBND TP.HCM từ chối lên sóng chương trình Vietnam Idol sau mùa đầu rất thành công. Đây là điều lạ vì Vietnam Idol 2007 khi phát trên HTV9 đã có lượng khán giả theo dõi kỷ lục thời điểm đó và không có vấn đề về nội dung. Càng lạ hơn khi sau đó, VTV chính là nơi tiếp tục phát sóng chương trình này.

Trong giai đoạn này, Ban lãnh đạo TP.HCM đã "cơ cấu" lại HTV bằng việc chuyển công tác hoặc sa thải các vị trí chủ chốt của đài, dẫn đến hệ lụy nhiều nhân viên HTV nghỉ việc và lập các công ty truyền thông riêng hoặc làm việc cho các đơn vị truyền thông khác. Các đơn vị truyền thông tư nhân này sau đó hợp tác với VTVTHVL. Cùng lúc đó, các đơn vị đang hợp tác với HTV cũng chuyển hướng: Nơi thì mở kênh truyền hình riêng, nơi thì quay sang hợp tác với VTV bằng những chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng thế giới và giật gân... Tiếp đến, tần số phát sóng & nội dung các kênh xã hội hóa của HTV bị thanh tra: Máy tiếp sóng HTV7 và HTV9 đặt tại nhiều tỉnh thành đã bị dừng hoạt động; Các kênh HTV2, HTV3, HTV4 bị buộc ngừng sóng analog tại TP.HCM; Dừng phát sóng nhiều chương trình giải trí trên HTV3 vì không đúng tiêu chí kênh; Chuyển đổi HTV2 về với chức năng kênh Thể thao trong hơn một năm để bổ sung giấy phép... Những biến động dồn dập liên tiếp đến với HTV khiến chất lượng chương trình của đài giảm sút trầm trọng, khán giả bắt đầu chuyển qua các kênh khác. Và VTV giành vị trí số 1 của HTV từ thời điểm này.

Chưa dừng lại ở đó, tháng 07/2009, Truyền hình cáp HTVC bị xử lý vì phát "lậu" 34 kênh truyền hình. Báo chí khi đó đưa tin đều để chữ "lậu" trong ngoặc kép vì thực tế, đây không phải là phát lậu như cách hiểu thông thường. Vụ việc xảy ra đúng ngay thời điểm truyền hình K+, con của VTV, vừa chính thức ra mắt dịch vụ.

Dưới sức ép "tổng lực" của các cơ quan quản lý trong các năm 2008-2010 và tiếp tục bị quản lý chặt các năm sau đó, HTV dường như chỉ hoạt động cầm chừng: Tất cả các chương trình đều phải thực hiện theo đúng "đường lối, chủ trương" trong khi VTV lại mặc sức tung hoành với các chương trình gây sốc, trong đó có cả Vietnam Idol với cách làm hoàn toàn khác so với thời phát sóng ở HTV; Hãng phim TFS gần như mất hút một cách khó hiểu sau khi đạt đỉnh cao, ngay cả khi đã sở hữu phim trường rộng gần 50ha ở Củ Chi; các giải bóng đá lớn thưa dần...

Từ phía khán giả, sự khủng hoảng của HTV được cảm nhận rất rõ bằng cái "nhạt" ở tất cả chương trình, nhất là mảng giải trí. Từ vị trí của một Đài truyền hình đứng đầu Việt Nam, HTV đã rớt hạng thê thảm trên bảng tổng sắp rating ngay tại thị trường chủ lực là TP.HCM & Đông Nam Bộ. Nhưng trong cơn bão khủng hoảng đó, có một thực tế đáng ghi nhận ở HTV là đài vẫn không câu khách bằng xì-căng-đan.

Như một cách vượt lên chính mình, ngay chính trong giai đoạn này, HTV đã tạo đột phá ở thể loại tin tức và chính luận. Theo đó, trong năm 2009, HTV9 đã lên sóng một loạt chương trình cầu truyền hình trực tiếp với Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo & Phú Quốc. Đỉnh điểm là cầu truyền hình ngày 17/10/2009 kết nối với đảo Trường Sa Lớn giữa lúc xã hội đang sục sôi vì các diễn biến ngoài Biển Đông. Tiếp nối thành công này, ngày 29/6/2013, cầu truyền hình với đảo Song Tử Tây được thực hiện. Đó là những lần khán giả được xem trực tiếp hình ảnh từ Trường Sa, điều mà vẫn chưa có đài truyền hình nào khác làm được. Ngoài chủ đề biển - đảo, các cầu truyền hình về biên giới trên đất liền cũng được đài quan tâm, điển hình là "Âm vang biên giới" kết nối giữa Lai Châu, Kon Tum, An Giang và TP.HCM vào ngày 14/12/2013... Một chương trình khác cần nhắc đến là 60 giây. Lên sóng từ đầu tháng 01/2012, 60 giây tập trung vào những sự kiện, vấn đề gắn bó mật thiết với đời sống bằng cách trình bày nhanh, gọn, trẻ trung. Ngay sau khi ra mắt không lâu, 60 giây đã thống trị rating mảng tin tức và dẫn đến nhiều thay đổi tương tự trong cách đưa tin ở các đài khác, bao gồm cả VTV.

Giai đoạn khủng hoảng của HTV khép lại sau khi TP.HCMBí thư Thành ủy mới.

Giai đoạn hồi phục, từ năm 2016 đến nay

Ngay sau khi TP.HCM thay đổi người đứng đầu, HTV cũng có Tổng Giám đốc mới từ tháng 4/2016 là ông Dương Thanh Tùng. Sau đó, tháng 12/2016, ông Thái Thành Chung - Trưởng ban Chương trình và bà Diệp Bửu Chi - Trưởng ban Ca nhạc, được bổ nhiệm làm Phó Tổng Giám đốc HTV. Từ đó, nhiều đổi mới về kết cấu và nội dung chương trình đã bắt đầu trên các kênh HTV. Hàng loạt gameshow và chương trình ăn khách xuất hiện, kéo khán giả quay trở lại với HTV. Phần lớn các chương trình tập trung vào đối tượng khán giả trẻ, cách dẫn năng động và tươi mới, khác hẳn phong cách các thế hệ HTV trước đây.

Cùng với sự thay đổi quan trọng trên, việc triển khai số hóa truyền hình tại khu vực Nam Bộ bắt đầu chuyển sang giai đoạn nước rút. Thông qua SDTV, công ty con của HTV có chức năng phát sóng DVB-T2, vùng phủ sóng mặt đất của HTV đã mở rộng ra toàn khu vực Nam Bộ và được khán giả miền Tây đón nhận nồng nhiệt.

Năm 2018 là dấu mốc quan trọng đối với HTV trong việc phục hồi thị phần và lấy lại vị trí dẫn đầu ở miền Nam. Đặc biệt, mảng thể thao được đầu tư nhiều hơn sau thời gian dài trì trệ. Lần đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng các giải thể thao lớn - đặc biệt là bóng đá, HTV đã mạnh dạn mua bản quyền World Cup 2018, chấm dứt việc độc quyền gây nhiều bức xúc từ VTV.

Về kỹ thuật truyền hình, ngày 3/4/2018 đi vào lịch sử ngành truyền hình Việt Nam khi HTV lần đầu tiên trực tiếp toàn chặng không gián đoạn cho chặng đua Thanh Hóa – Nghệ An ở cúp xe đạp truyền thống của mình. Sự tiến bộ về kỹ thuật trực tiếp và cách thức tổ chức đã gây rất nhiều bất ngờ cho khán giả, từ đó kéo theo lượng lớn người yêu xe đạp đồng hành cùng đoàn đua qua sóng truyền hình cũng như mạng xã hội. Với sức lan tỏa mạnh ngoài dự kiến, HTV đã trực tiếp hầu hết các chặng đua còn lại thay vì chỉ 21/30 chặng như kế hoạch ban đầu. Đỉnh điểm là chặng Huế – Đà Nẵng (qua đèo Hải Vân trong mưa lớn) và chặng Nha Trang – Đà Lạt (qua đèo Ngoạn Mục với địa hình đồi núi phức tạp), tín hiệu trực tiếp vẫn rất ổn định, mở ra giai đoạn mới của truyền hình thể thao tại Việt Nam.

Những dấu mốc quan trọng

  • 22/01/1966: THVN9 phát sóng thử nghiệm bằng máy bay trực thăng.
  • 7/2/1966: THVN9 phát sóng chính thức, khai sinh truyền hình tại Việt Nam.
  • 25/10/1966: Tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được xây dựng, cao 128m, tại số 9 Hồng Thập Tự.
  • 22/3/1973: Đài AFVN chấm dứt hoạt động tại VNCH, chuyển giao cơ sở vật chất và thiết bị cho THVN9.
  • 29/4/1975: THVN9 phát sóng buổi cuối cùng, trước ngày Sài Gòn sụp đổ, kết thúc lúc 23:58.
  • 1/5/1975: Đổi tên thành Đài Truyền hình SGGP, phát sóng Kênh 9, buổi đầu tiên bắt đầu lúc 19:00.
  • 2/7/1976: Đổi tên thành Đài Truyền hình TP.HCM, là đài khu vực Nam Bộ thuộc Ủy ban PT-TH Việt Nam.
  •  ??/??/1981: Được chuyển giao về UBND TP.HCM, hạ cấp thành đài truyền hình địa phương.
  • ??/??/1986: FM 99.9 MHz lên sóng lần đầu tiên sau năm 1975.
  • ??/??/1986: Kênh 7 ra mắt. Lần đầu tiên, một đài truyền hình của Việt Nam phát sóng 2 kênh song song với nội dung riêng biệt.
  • 23/8/1987: Xảy ra cháy lớn, thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu.
  • 24/8/1987: Chấm dứt hệ đen trắng, chuyển qua phát hình màu lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 1/1/1990: Nâng thời lượng phát sóng cho cả hai Kênh 7 và 9 lên 12 giờ/ ngày, lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 18/10/1991: Thành lập Hãng phim Truyền hình TP.HCM (TFS), hãng phim trực thuộc đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam.
  •  ??/??/1994: Đưa ra biểu trưng chính thức là HTV. Kênh 7 & Kênh 9 lần lượt có logo là HTV7 và HTV9.
  • 01/09/1997: Chuyển giao FM 99.9 MHz cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM.
  • 01/06/2005: HTV7 - cũng là kênh đầu tiên tại Việt Nam chính thức phát sóng 24/24.
  • ??/??/2005: Phát sóng quảng bá HTV7, HTV9 từ vệ tinh Vinasat 1, chuẩn phát sóng DVB-S, chuẩn hình ảnh SD.
  • 27/4/2006: Khánh thành tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV.
  • 06/08/2008: HTVC ra mắt kênh FBNC, kênh truyền hình đầu tiên tại Việt Nam phát sóng chuẩn full HD.
  • 29/4/2009: Chuyển nhóm kênh band KU từ vệ tinh Vinasat 1 sang Vinasat 2, chuẩn DVB-S2.
  •  ??/??/2010: Khánh thành tháp ăng-ten mới cao 254m, tháp truyền hình cao nhất Việt Nam tính đến nay.
  • 19/5/2013: HTV7, HTV9 phát sóng chuẩn HD, lần thứ hai trong các kênh truyền hình quảng bá tai Việt Nam.
  • 03/04/2018: Trực tiếp toàn chặng đua xe đạp đường trường (Cúp HTV 2018), lần đầu tiên trên HTV và tại Việt Nam.
  • 30/01/2019: Hai kênh HTV7, HTV9 trên vệ tinh Vinasat 2, band KU được nâng chuẩn hình ảnh lên HD.

Những chương trình nổi bật

  • Cuộc thi Hoa hậu truyền hình (1967): THVN9 tổ chức Cuộc đầu tiên của Việt Nam & Đông Nam Á.
  • Táo quân (1982 - nay): Chương trình hài kịch phát sóng trong đêm cuối năm âm lịch và kết thúc đúng vào thời khắc giao thừa, với nhân vật chính là Táo quân - người tổng hợp những sự việc chính xảy ra trong năm. Táo quân ra mắt lần đầu tiên tại Việt Nam trên HTV9 vào đêm giao thừa Nhâm Tuất, 24/1/1982 và trở thành chương trình được mong đợi nhất vào đêm giao thừa trong hai thập kỷ 1980-1990.
  • Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình (1989 - nay): Cuộc đua xe đạp đầu tiên của một đài truyền hình tại Việt Nam tổ chức, với mục đích đẩy mạnh phong trào xã hội hóa thể thao và kỷ niệm ngày thống nhất đất nước. Ra mắt lần đầu vào tháng 04/1989 với lộ trình rất ngắn (TP.HCM - Đà Lạt và quay ngược lại), nhưng chỉ sau đó 2 năm (năm 1991) Cúp Truyền hình đã được Tổng cục Thể dục Thể thao Việt Nam công nhận nằm trong hệ thống thi đấu quốc gia. Từ lần đua thứ năm (1993), Cúp Truyền hình lần đầu tiên có lộ trình xuyên Việt. Cho đến nay, Cúp Truyền hình đã trở thành một sự kiện quan trọng được mong đợi mỗi tháng Tư về, đặc biệt đối với khán giả Nam Bộ, nơi bộ môn xe đạp thể thao phát triển rất mạnh.
  • Tiếng hát Truyền hình (1991 - 2015): Cuộc thi ca hát đầu tiên trên truyền hình Việt Nam được tổ chức mỗi năm 1 lần. Các giọng ca đoạt giải từ cuộc thi này, đặc biệt là ở 15 năm đầu, đều trở thánh những ca sĩ nổi tiếng sau cuộc thi. Những gương mặt điển hình xuất phát từ cuộc thị này có Như Quỳnh, Mai Thiên Vân (hiện đang sống ở Mỹ), Đàm Vĩnh Hưng,
  • Nhịp cầu âm nhạc (05/1999 - 2016): Chương trình ca nhạc theo yêu cầu phát trực tiếp đầu tiên tại Việt Nam. Chương trình có 1 số điện thoại với 6 lines để tiếp nhận yêu cầu trực tiếp từ khán giả, lên sóng mỗi tháng 1 lần trên kênh HTV7.
  • Vầng trăng cổ nhạc (01/2001 - nay): Chương trình ca cổ & trích đoạn cải lương lên sóng mỗi tháng 1 lần.
  • Chuông vàng Vọng cổ (2006 - nay): Cuộc thi tuyển chọn những nhân tố mới, đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật cải lương.
  • Ngân mãi chuông vàng
  • Vượt lên chính mình
  • Ngôi nhà mơ ước: Chương trình xây nhà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên khắp cả nước.
  • Thay lời muốn nói (2000 - nay)
  • Cầu truyền hình trực tiếp trực tiếp với quần đảo Trường Sa, lần đầu tiên trê sóng truyền hình 17/10/2009.
  • Thử thách cùng bước nhảy (2012 - 2016): Chương trình thi tài về nhảy múa, dực theo format của So you think you can dance.
  • 60 giây (17/01/2012 - nay): Chương trình tin tức tổng hợp phát sóng trực tiếp trong 2 khung giờ 06:30-07:00 và 18:30-19:00 trên HTV7 và HTV9.
  • Tiếng hát mãi xanh


Các dịch vụ

Truyền hình cáp

HTV có dịch vụ truyền hình cáp riêng với thương hiệu là HTVC. Đặc biệt, HTV đã phối hợp với VNPT để cung cấp các kênh truyền hình HTV và gói dịch vụ của HTVC trên đường cáp quang của VNPT (HTV-Fiber VNN). Ngoài ra, HTV cũng mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ truyền hình của mình thông qua tất cả các dịch vụ truyền hình trả tiền khác trên toàn quốc. Vùng phủ sóng tính tới 10/2018 của SDTV - công ty con của HTV chịu trách nhiệm phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất DVB-T2.

Truyền hình số mặt đất

Công ty con của HTV là SDTV có chức năng phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất theo chuẩn DVB-T2 cho toàn khu vực miền Nam Việt Nam từ Đà Nẵng trở vào (trừ 2 tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Năm 2017 đánh dấu việc SDTV đã hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho 20 tỉnh khu vực Nam Bộ, đi trước một năm so với lộ trình do chính phủ đề ra. Hiện nay, trên 85% dân số khu vực Nam Bộ đã có thể thu sóng của SDTV dễ dàng.

Năm 2018, SDTV tiếp tục mở rộng mạng phát sóng DVB-T2 ra khu vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên (trừ hai tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Theo lộ trình, đến tháng 03/2019, SDTV sẽ hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho khu vực này.

Quảng cáo và phát hành chương trình truyền hình

HTV là đài truyền hình đầu tiên trong cả nước phát sóng quảng cáo sau 1975. Việc quản lý các chương trình quảng cáo được đảm nhiệm bởi Trung tâm Dịch vụ Truyền hình (HTVS). Bên cạnh chức năng chính là làm quảng cáo, HTVS còn là đơn vị chịu trách nhiệm phát hành các chương trình truyền hình, bán bản quyền truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

Truyền hình vệ tinh

Từ những năm 2000, HTV đã bắt đầu đưa các chương trình của mình lên vệ tinh Measat-2 và chính thức trở thành nhà phát sóng vệ tinh cho các kênh địa phương khác khi Vinasat 1 lên quỹ đạo. Thực tế, HTV gần như không quảng bá việc mình phát sóng qua vệ tinh mà chỉ làm rất âm thầm. Người xem tự dùng chảo parabol thu sóng từ vệ tinh Vinasat 1, Vinasat 2 và tự thông báo trên các diễn đàn. HTV chưa từng công bố chính thức về các tần số phát sóng vệ tinh của các kênh HTV, HTVC và các kênh địa phương do HTV làm dịch vụ phát sóng.

Tình đến thời điểm 03/2019, HTV đã sử dụng Vinasat 1, band C để phát 2 kênh HTV7, HTV9 và Vinasat 2, band KU cho nhóm kênh HTV, HTVC và nhiều kênh truyền hình địa phương khác.

Truyền hình Internet, OTT

HTV đã triển khai hai dịch vụ OTT là HTV OnlineHTVC hoạt động trên iOS, Android, các smart TV, smart box… HTV TMS cũng đã hợp tác với công ty VNPT Technology để ra mắt gói dịch vụ HTVC tvod, với smartbox hoạt động trên mạng Internet… Bộ phận nội dung số của Đài tiếp tục triển khai việc cung cấp nội dung chương trình HTV trên Youtube và cho một số đơn vị kinh doanh nội dung số như: FPT Play, ZingTV, Viettel, HD Việt. Trong thời gian tới, Đài sẽ tiếp tục đẩy mạnh hình thức kết hợp phân phối nội dung trên online và sóng truyền hình, tiến đến việc sản xuất nội dung phù hợp nhiều nền tảng, nhiều đối tượng cho nhiều môi trường phân phối.

Phát hành chương trình trên Youtube

Hiện nay, HTV đang có nhiều kênh Youtube chính thức: HTV Entertainment, HTV Life, HTV Music, HTV Sports, HTV Films, 60 giây, HTVC Phim, HTVC Teen, HPlus... Khán giả có thể xem lại nhiều (không phải tất cả) chương trình ngay sau khi phát sóng trên truyền hình. Việc quản lýkinh doanh nội dung các chương trình của HTV trên Youtube được phụ trách bởi công ty HTV TMS.

Hoạt động thương mại

Công ty TNHH MTV Dịch vụ Kỹ thuật Truyền thông HTV (HTV TMS) là công ty con của HTV, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực: Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông; Kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền; Tổ chức sản xuất và phát hành các chương trình truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

Liên kết ngoài