Đài Truyền hình Trung ương Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đài Truyền hình Trung ương Triều Tiên
Logo of the Korean Central Television.svg
Lên sóng 3 tháng 3 năm 1963
Sở hữu Ủy ban Phát thanh Trung ương Triều Tiên
Định dạng hình 4:3 (576i, SDTV)
16:9 (1080i, HDTV)
Quốc gia Bắc Triều Tiên
Khu vực phát sóng Toàn quốc
Trụ sở Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên
Tên cũ Pyongyang Broadcasting Network
(1 tháng 9 năm 1953 – 1961)
Central Broadcasting Television System
(1961 – 3 tháng 1 năm 1973)
Kênh riêng
Mặt đất
Analog Kênh R12 (223.25 MHz tại Bình Nhưỡng)
Kỹ thuật số Chưa có kế hoạch chuyển đổi số chính thức
Vệ tinh
Thaicom 5 3696 H, SR 3367, FEC 2/3
Intelsat 21 3840 V, SR 27690, FEC 7/8
Truyền hình trực tuyến
SPTV MMS
RTSP rtsp://121.167.43.161/chosun

Đài Truyền hình Trung ương Triều Tiên (KCTV; Chosŏn'gŭl조선중앙텔레비죤; RomajaJoseon Jungang Tellebijyon; MRChosŏn Chungang T'ellebijyon) là một hệ truyền hình do Ủy ban Phát thanh Trung ương Triều Tiên điều hành, một kênh truyền thông do nhà nước sở hữu tại Bắc Triều Tiên. KCTV là nguồn tin truyền hình duy nhất cho người dân Bắc Triều Tiên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 9 năm 1953, Đài Truyền hình Trung ương Triều Tiên được thành lập sau Chiến tranh Triều Tiên, với tên gọi Mạng lưới phát sóng Bình Nhưỡng (Pyongyang Broadcasting Network). Chủ tịch Kim Nhật Thành đã hình dung rằng thời gian đã quá chín muồi cho việc phát sóng truyền hình ở Triều Tiên, nhưng điều đó chưa xảy ra thời bấy giờ. Như thế, Mạng lưới phát sóng Bình Nhưỡng bắt đầu giai đoạn chuẩn bị cho chương trình phát sóng đầu tiên với sự giúp đỡ của Chính phủ Triều Tiên.

Năm 1961, Mạng lưới phát sóng Bình Nhưỡng đổi thành Hệ thống Phát sóng truyền hình Trung ương (Central Broadcasting Television System). Ngày 1 tháng 9 cùng năm, Hệ thống Phát sóng truyền hình Trung ương phát sóng thử nghiệm chương trình đầu tiên.

Hệ thống Phát sóng truyền hình Trung ương được phát sóng chính thức kể từ 19:00 (giờ chuẩn Hàn Quốc) ngày 3 tháng 3 năm 1963, trụ sở tại Bình Nhưỡng và được phát sóng 2 giờ từ 19:00 đến 21:00 (giờ chuẩn Hàn Quốc) từ thứ 2 đến thứ 7, về sau tăng giờ phát sóng lên thành 4 giờ, và sau đó là 6 giờ.

Về sau, Hệ thống Phát sóng truyền hình Trung ương chính thức đổi tên thành Đài Truyền hình Trung ương Triều Tiên (KCTV) và chính thức phát sóng từ 17:00 (giờ địa phương) ngày 3 tháng 1 năm 1973 (ngày làm việc đầu tiên của năm 1973 ở Triều Tiên). Chương trình chỉ được phát sóng từ thứ 2 đến thứ 7 hằng tuần và tắt sóng vào các ngày chủ nhật và các ngày lễ lớn ở Triều Tiên.

Đài chính thức phát sóng truyền hình màu lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 7 năm 1974 và phát sóng chương trình màu trực tiếp đầu tiên để chuẩn bị cho Á vận hội 1974 tổ chức tại Tehran. Đài là đài truyền hình đầu tiên phát sóng chương trình màu trực tiếp chào đón năm mới vào ngày 31 tháng 12 năm 1974. Đài chính thức phát sóng vào các ngày cuối tuần vào năm 1975.

Chương trình phát sóng đầu tiên nhận được bởi truyền thông trên truyền hình vệ tinh là Thế vận hội mùa hè 1980 vào ngày 19 tháng 7 năm 1980.

Người dân Bình Nhưỡng xem truyền hình công cộng của đài KCTV.

Đài chính thức phát sóng vào các ngày lễ lớn của Triều Tiên từ ngày 1 tháng 3 năm 1981 và có thời lượng phát sóng tương đương với các ngày cuối tuần.

Đài còn giữ bản quyền phát sóng chính thức của Đại hội Tuổi trẻ và Học sinh Thế giới lần thứ 13 tổ chức tại Bình Nhưỡng năm 1989.

Ngày 19 tháng 1 năm 2015, đài phát sóng chương trình đầu tiên dưới định dạng HD.

Ngày 4 tháng 11 năm 2017, đài chuyển sang định dạng 16:9 và đồng thời đổi thẻ thử nghiệm trước giờ lên sóng (testcard).

Lịch phát sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, đài phát sóng 8 giờ từ 14:30 đến 22:30 (giờ địa phương) từ thứ 2 đến thứ 7 và 14 giờ từ 8:30 đến 22:30 (giờ địa phương) vào các ngày chủ nhật và ngày lễ lớn ở Triều Tiên.

Sau đây là ví dụ về lịch phát sóng của đài vào các ngày làm việc ở Triều Tiên (từ thứ 2 đến thứ 7):

LỊCH PHÁT SÓNG
Giờ phát sóng Chương trình/nội dung Thời lượng
14:30-15:00 Thẻ thử nghiệm (Testcard) Philips PM5644 với đồng hồ điện tử, kèm theo nhạc cổ điển hoặc các bài hát yêu nước truyền thống. 30 phút
15:00-15:10 Lên sóng chính thức (quốc ca + lời chào lên sóng + các bài hát ca ngợi lãnh tụ + lịch phát sóng) 10 phút
15:10-16:20 Tổng kết các sự kiện đặc biệt 1 giờ 10 phút
16:20-17:00 Phim tài liệu 40 phút
17:00-17:20 Thời sự 20 phút
17:20-17:25 Báo chí toàn cảnh 5 phút
17:30-18:00 Chương trình thiếu nhi 30 phút
18:00-18:15 Thực thi pháp luật 15 phút
18:15-18:35 Chương trình quân sự 20 phút
18:35-19:10 Thể thao 35 phút
19:10-19:25 Thời sự 15 phút
19:25-19:30 Dự báo thời tiết 5 phút
19:30-20:00 Sitcom 30 phút
20:00-20:40 Hài kịch 40 phút
20:40-22:20 Phim truyện 1 giờ 40 phút
22:20-22:25 Tin cuối ngày 5 phút
22:25-22:30 Dự báo thời tiết 5 phút
22:30-22:35 Ca nhạc 5 phút
22:35-22:40 Chuẩn bị tắt sóng (lịch phát sóng ngày mai + lời chào tắt sóng + hình hiệu tắt sóng) 5 phút
22:40-14:30 Tắt sóng chính thức 14 giờ 10 phút

Thời sự[sửa | sửa mã nguồn]

Phát thanh viên của các bản tin thời sự của đài đều mặc trang phục giống nhau mỗi ngày và có thể thay đổi màu sắc (đen/xanh đối với nam và xanh lá cây/hồng đối với nữ) và những phát thanh viên có cùng giới tính sẽ có kiểu tóc chung. Các biên tập viên phải có giọng đanh thép và dõng dạc. Thông cáo báo chí thường bắt đầu bằng một trang trình bày màu đỏ hoặc màu xanh lá cây đậm. Khung nền phía sau có hình ảnh của thủ đô Bình Nhưỡng và sông Đại Đồng. Trước đây, hình ảnh núi Bạch Đầu được sử dụng làm khung nền cho các bản tin; tuy nhiên hiện nay một hệ thống trường quay mới đã được sử dụng từ tháng 9 năm 2012, bao gồm bảng điều khiển màn hình LCD (đầu tư bởi CCTV) hiển thị hình ảnh sống động (như hình tròn xoay hoặc quốc kỳ Triều Tiên). Sự tiến bộ này đã cho phép phóng sự trực tiếp, mặc dù không được sử dụng cho mục đích đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]