Đô thị hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đô thị hoá)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.
Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,...

Các nước phát triển (như tại châu Âu, hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay Trung Quốc) (khoảng ~35%). Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển.

Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị. Do đó, sự tăng trưởng của đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm).

Các quá trình[sửa | sửa mã nguồn]

Theo khái niệm của ngành địa lí, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian. Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm:

  • Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn.
  • Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư đến đô thị
  • Sự kết hợp của các yếu tố trên.
  • ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (Do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa là cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao dẫn tới sử mở rộng các khu công nghiệp mới, khu đô thị mới).

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đến sinh tháikinh tế khu vực. Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hóa, tâm lí và lối sống của người dân thay đổi. Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị" (urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị. Những người chống đối xu thế đô thị hóa cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư các cơ sở hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đô thị. Quá trình này còn làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất đô thị và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và quốc gia.

Tích cực[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư. Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.

Tiêu cực[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đến thành phố. Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội ví dụ như thiếu việc làm sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đè như nghèo đói lạc hậu,mù chữ,tệ nạn như trộm cắp

Top 12 tỉnh thành có tốc độ đô thị hóa cao (tính đến 01/04/2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 01/04/2014, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đạt 33,08 %. Cả nước chỉ có 14 tỉnh thành có tỉ lệ đô thị hóa cao hơn cả nước. Nếu xét thêm top 14 tỉnh thành có dân số thành thị cao nhất nước thì sẽ xảy ra 2 điều kiện sau:

2 tỉnh có dân số thành thị cao nhưng tốc độ đô thị hóa vẫn còn thấp hơn cả nước:

1. Tỉnh Đồng Nai có dân số thành thị đạt 905.666 người (xếp thứ 4) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 32,09 % (thấp hơn cả nước 0,99%)

2. Tỉnh An Giang có dân số thành thị đạt 650.214 người (xếp thứ 9) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 30,17 % (thấp hơn cả nước 2,91%)

2 tỉnh có dân số thành thị thấp nhưng tốc độ đô thị hóa cao hơn cả nước:

1. Tỉnh Kon Tum có dân số thành thị 160.211 người (xếp thứ 48) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 33,27 % (cao hơn nước 0,19%)

2. Tỉnh Ninh Thuận có dân số thành thị 209.374 người (xếp thứ 35) nhưng tốc độ đô thị hóa đạt 35,54 % (cao hơn nước 2,46%)

Dưới đây là danh sách 12 tỉnh thành vừa có tốc độ đô thị hóa cao và vừa có dân số thành thị cao nhất nước

STT Tên tỉnh, thành phố Dân số thành thị (2014) Tốc độ đô thị hóa (đơn vị: %) Dân cư tập trung chủ yếu
01 Thành phố Hồ Chí Minh 6.533.707 82,13 19 quận của thành phố
02 Thành phố Hà Nội 3.435.166 48,61 12 quận của thành phố và thị xã Sơn Tây
03 Tỉnh Bình Dương 1.428.898 77,00 TP. Thủ Dầu Một và 4 thị xã Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên
04 Thành phố Hải Phòng 898.776 46,30 7 quận của thành phố
05 Thành phố Đà Nẵng 876.710 87,29 6 quận của thành phố
06 Thành phố Cần Thơ 823.528 66,66 5 quận của thành phố
07 Tỉnh Quảng Ninh 731.901 61,16 4 thành phố và 2 thị xã trực thuộc tỉnh Quảng Ninh
08 Tỉnh Thừa Thiên - Huế 549.263 48,60 Tp. Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà và thị trấn Thuận An
09 Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 533.555 50,59 Tp. Vũng Tàu, Tp. Bà Rịa và thị trấn Phú Mỹ
10 Tỉnh Khánh Hòa 514.176 42,98 Tp. Nha Trang, Tp. Cam Ranh, TX. Ninh Hòa và 2 thị trấn Diên Khánh, Vạn Giã
11 Tỉnh Lâm Đồng 496.311 39,51 Tp. Đà Lạt, Tp. Bảo Lộc và thị trấn Liên Nghĩa
12 Tỉnh Bình Thuận 473.089 39,20 Tp. Phan Thiết, TX. La Gi và thị trấn Phan Rí Cửa

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân tố đóng góp vào sự đô thị hóa:

Theo lịch sử:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]