Đông Anh (xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đông Anh, Đông Sơn)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đông Anh (xã)

Hành chính
TỉnhThanh Hóa
HuyệnĐông Sơn
Địa lý
Diện tích3,115 [1]
Dân số
Tổng cộng4.878 người (2005)[1]
Mật độ1.566
Khác
Mã hành chính16408[2]
Mã bưu chính44528

Đông Anh là một thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam, được biết đến với những làn điệu dân ca, dân vũ nổi tiếng như bài Đi cấy và tổ khúc Múa đèn

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý: Đông Anh nằm gọn trong huyện Đông Sơn

Toạ độ trung tâm[3]:

Xã Đông Anh nằm trải dài theo quốc lộ 47, cách thị trấn Rừng Thông (huyện lỵ Đông Sơn) khoảng 2 km về phía tây.

Theo Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ ban hành kèm theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT [3], xã Đông Anh có diện tích: 3,08 km²; dân số: 3421 người (năm 1999); mật độ dân số: 1110 người/km².

Theo thông tin từ website Chính phủ điện tử (www.chinhphu.vn), xã Đông Anh có diện tích: 3,115 km²; dân số: 3427 người; mật độ dân số: 1100 người/km²[4].

Theo Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Đông Anh (1930-2005)[1], xã Đông Anh có diện tích: 3,115 km² (năm 2005); dân số: 4878 người (năm 2005); mật độ dân số: 1566 người/km².

Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 230 ha, đất ao, hồ: 4,55 ha, đất ở: 34,57 ha, đất cồn, bãi: 4,86 ha, các loại đất khác: 37,54 ha[1].

Bản đồ xã Đông Anh và phụ cận

Sông Nhà Lê (kênh Nhà Lê) chảy qua vùng đất phía bắc của xã.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mã đơn vị hành chính: 16408[2]

Từ năm 1997, xã Đông Anh được chia thành 7 thôn như sau:

  1. Thôn Yên Hòa (các tên cũ là xóm Nhân, đội 1, thôn 1, thôn Tuyên Hoá 1). Mã bưu chính: 445281;
  2. Thôn Tuyên Hoá 2 (xóm Chính, đội 2, thôn 2). Mã bưu chính: 445282;
  3. Thôn Tuyên Hoá 3 (xóm Lợi, đội 3, thôn 3). Mã bưu chính: 445283;
  4. Thôn Thanh Oai (xóm Thanh, đội 4, thôn 4). Mã bưu chính: 445284;
  5. Thôn Viên Khê 1 (xóm Chùa, đội 5, thôn 5). Mã bưu chính: 445285;
  6. Thôn Viên Khê 2 (xóm Quý, đội 6, thôn 6). Mã bưu chính: 445286;
  7. Thôn Viên Khê 3 (xóm Thọ, đội 7, thôn 7). Mã bưu chính: 445287.

Từ năm 2018, các thôn được sáp nhập lại thành 4 thôn từ thôn 1 đến thôn 4.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng làng Viên Khê

Đông Anh là vùng đất có cư dân sinh sống từ rất lâu đời[1]. Thời bắc thuộc, khi Thanh Hoá bấy giờ còn là quận Cửu Chân, Đông Anh nằm không xa lỵ sở Cửu ChânĐông Phố (Đồng Pho), nay là xã Đông Hoà, huyện Đông Sơn.[6].

Làng Viên Khê được hình thành từ rất sớm. Theo truyền thuyết về Cao Hoàng thì cư dân đầu tiên đến Viên Khê khoảng trước năm 600[1]. Theo Hán tự, Viên là (gò đất) tròn, Khê là khe nước cạnh gò đất (ở vị trí sông Nhà Lê ngày nay). Làng thờ thành hoàng làng là Cao Hoàng (tức Lê Ngọc), thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lê Ngọc và Long thần (thần rắn cụt đuôi).

Làng Tuyên Hoá cũng ra đời từ khá sớm. Năm 981, ông Lê Đức Tú, tự là Lâm Khoan (họ Lê Văn) cùng một số người họ khác đến lập nghiệp tại đây[1]. Làng Tuyên Hoá xưa có tên là Đông Giáp[1], có các xóm nhỏ là Yên Hoà (thôn Yên Hoà ngày nay), Hương Trung (thôn Tuyên Hoá 2 ngày nay), Ngõ Nông, Cự Nông (2 xóm này sau là thôn Tuyên Hoá 3) và xóm Nghĩa (tên cũ là xóm Phúc Long).

Cây đa, giếng nước làng Tuyên Hóa

Làng Thanh Oai do ông Lưu Ngạn Quang (đỗ Tiến sĩ) và ông Phan Doãn Chí (được phong Phẩm lục tướng quân) đến khai cơ lập nghiệp từ cuối thế kỉ 16 (thời Hậu Lê)[1]. Làng có tên cũ là Thanh Đàm, sau này ông Lưu Ngạn Quang là người có học trong làng đã đề nghị đổi tên làng theo tên làng Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì, Hà Nội), là một làng có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ tiến sĩ.

Năm 1572 (đời vua Lê Anh Tông), vùng đất Đông Anh lúc này thuộc xã Tuyên Hóa, tổng Tuyên Hóa, huyện Đông Sơn[7].

Đến đầu thế kỉ 19, vào đời vua Gia Long, vùng đất Đông Anh gồm các xã Lê Nguyễn, Thanh Oai, Viên Khê, thuộc tổng Lê Nguyễn[8]. Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), tổng Lê Nguyễn đổi thành tổng Thanh Hoa. Đến khoảng năm 1886-1887, nhà Nguyễn cho tách một phần tổng Thanh Hoa cùng với một phần tổng Thạch Khê để thành lập tổng Thanh Khê, phần còn lại của tổng Thanh Hoa (trong đó có các làng của xã Đông Anh ngày nay) đổi tên thành tổng Tuyên Hóa[9].

Theo ghi nhận trong các tài liệu Hán-Nôm[10][11], cho đến cuối thế kỉ 19 (những năm 1898-1899), chỉ có xã Tuyên Hóa thuộc tổng Tuyên Hóa. Như vậy, các xã Lê Nguyễn, Thanh Oai, Viên Khê trở lại thành các thôn Tuyên Hóa, Thanh Oai, Viên Khê của xã Tuyên Hóa.

Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi thành phủ, bao gồm 7 tổng, xã Tuyên Hóa thuộc tổng Tuyên Hoá, phủ Đông Sơn[1].

Cổng làng Tuyên Hóa

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng chia 7 tổng cũ của Đông Sơn thành 22 , trong đó có xã Tuyên Hoá, bao gồm địa giới của xã Đông Anh (xóm Nhân, xóm Chính, xóm Lợi, xóm Nghĩa, xóm Thanh, xóm Quý và xóm Thọ), xã Đông Thịnh, thị trấn Rừng Thông (xóm Nghĩa, thôn Nhuệ Sâm, Cáo Thôn, Xuân Lưu, Phúc Hậu). Xã Tuyên Hóa tương ứng với phần lớn diện tích của tổng Tuyên Hóa trước năm 1945. Năm 1948, do chủ trương sáp nhập các xã, số đơn vị hành chính của cấp xã thuộc huyện Đông Sơn lại được thay đổi từ 22 xã xuống còn 13 xã, đồng thời lấy tên mới có tiền tố Đông theo tên huyện. Xã Tuyên Hoá đổi thành xã Đông Anh tuy nhiên vẫn giữ nguyên địa giới[1].

Lá cờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng xã Đông Anh ngày 15-6-1950 do có thành tích cao nhất trong việc giúp bộ đội địa phương (đóng góp 3.800.000 đồng)

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân xã Đông Anh đã lập được nhiều thành tích xuất sắc. Ngày 15/6/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng khen cho đồng bào xã Đông Anh vì đã có thành tích giúp đỡ bộ đội địa phương nhiều nhất[1].

Năm 1953, huyện Đông Sơn chia 13 xã thành 22 xã, xã Đông Anh tách thành 3 xã là Đông Anh (mới), Đông Xuân, Đông Thịnh. Xã Đông Anh lúc này gồm 3 làng: Tuyên Hoá (gồm xóm Nhân, xóm Chính, xóm Lợi và xóm Nghĩa), Thanh Oai (xóm Thanh), Viên Khê (xóm Quý, xóm Thọ)[1].

Năm 1966, xóm Nghĩa (còn gọi là xóm Phúc Long) được chuyển về xã Đông Tiến[1], nay thuộc khu phố Hàm Hạ, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn.

Ngày 5-7-1977, theo Quyết định số 177/CP của Hội đồng Chính phủ, 16 xã hữu ngạn sông Chu của huyện Thiệu Hóa sáp nhập vào huyện Đông Sơn để thành lập huyện Đông Thiệu, xã Đông Anh thuộc huyện Đông Thiệu.

Năm 1982, theo Quyết định số 149/QĐ-HĐBT ngày 30/8/1982, huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn (vẫn gồm cả 16 xã của huyện Thiệu Hoá cũ), xã Đông Anh trở lại thuộc huyện Đông Sơn.

Từ năm 1997, hình thành thôn tương ứng với các đội sản xuất trước đây, được gọi từ thôn 1 đến thôn 7. Hiện nay tên các thôn là: Thôn Yên Hòa; thôn Tuyên Hoá 2; thôn Tuyên Hoá 3; thôn Thanh Oai; thôn Viên Khê 1; thôn Viên Khê 2; thôn Viên Khê 3 [1].

Từ năm 2018, các thôn được sáp nhập lại thành 4 thôn như sau:[5]

  • Thôn 1: 341 hộ, 1.192 nhân khẩu, diện tích 82 ha (được sáp nhập từ thôn Yên Hoà và thôn Tuyên Hoá 2).
  • Thôn 2: 280 hộ, 966 nhân khẩu, diện tích 74 ha (được sáp nhập từ thôn Tuyên Hoá 3 và thôn Thanh Oai).
  • Thôn 3: 286 hộ, 1.044 nhân khẩu, diện tích 60,25 ha (được sáp nhập từ thôn Viên Khê 1 và thôn Viên Khê 2).
  • Thôn 4: đổi tên từ thôn Viên Khê 3.

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các làng trước đây đều có nghèchùa, tuy nhiên hiện nay đều đã không còn nữa. Làng Tuyên Hoá thờ Quận công thời Lê; làng Viên Khê và Thanh Oai thờ thần Rắn cụt đuôi, Hoàng đế Lê Ngọc thời nhà Tuỳ (608-618); nghè Đông Giáp thờ ông Chế Nghiệp, là quan thái thú, con nuôi Lê Ngọc. Đền thờ Nguyễn Mộng Tuân ở làng Viên Khê[6].

Trước đây làng Tuyên Hoá còn có đình Phúc, hàng năm hai làng Tuyên Hoá và Tuân Hoá (làng Tuân Hoá nay thuộc xã Đông Minh, huyện Đông Sơn) tổ chức lễ cầu phúc rất lớn ở đình Phúc[1].

Dân ca dân vũ Đông Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Đông Anh được biết đến với một kho tàng đồ sộ với 12 trò diễn chính, gồm: Múa Đèn (bài Đi cấy là một trong 13 bài trong tổ khúc Múa đèn); Xiêm Thành; Tô Vũ; Tiên Cuội; Trống Mõ; Hà Lan; Trò Thiếp; Trò Thủy; Vân Vương; Trò Ngô; Trò Hùm; Tú Huần[12]. Làng Tuyên Hóa với Ngũ Trò, Trò Thủy, trò Bắt cọp..., Viên Khê với các trò Múa Đèn, Tiên cuội, Trống Mõ, Xiêm Thành, Trò Thiếp, Trò Ngô...[13].

Theo các cụ cao niên ở làng Viên Khê, xã Đông Anh, cho biết: Nguồn gốc hát múa dân ca, dân vũ Đông Anh (trước đây gọi là dân ca Đông Anh) đã có từ rất lâu đời. Trước đây được gọi là "ngũ trò", sau này các nghệ nhân sáng tác, du nhập thêm nhiều trò nữa nên hệ thống trò diễn Đông Anh rất phong phú, gồm có: trò Múa Đèn, trò Tiên Cuội, trò Tô Vũ, trò Trống Mỏ, trò Thiếp, trò Vằn Vương, trò Thủy, trò Leo Dây, trò Xiêm Thành, trò Hà Lan, trò Tú Huần, trò Ngô Quốc, trò Đại Thánh, trò Nữ Quan... Trong số các trò diễn này thì trò Xiêm Thành, trò Tô Vũ không có lời ca, còn lại đều có lời ca, điệu múa được lồng ghép, đan xen, hỗ trợ nhau tạo thành những làn điệu dân ca đặc sắc[14].

Các dòng họ[sửa | sửa mã nguồn]

Họ (Lê Văn, Lê Thọ, Lê Sỹ, Lê Quang, Lê Niên, Lê Thế, Lê Mậu...) tập trung ở làng Tuyên Hoá, họ Nguyễn tập trung ở làng Viên Khê, họ Phan Doãn và họ Lưu ở làng Thanh Oai...

Từ đường các dòng họ: họ Nguyễn thờ Quận công Nguyễn Đăng Tuyển (thời Lê); họ Lê (Lê Văn) thờ bà Mai Hoa công chúa; họ Lê Thọ thờ Tổng binh xứ tứ Kim Sơn Lê Cương Đoán (thời Lê); họ Lưu thờ Lưu Ngạn Quang (thế kỉ 17) [6].

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Anh hùng Lưu Huy Chao, người bắn rơi 6 máy bay Mỹ

Giáo dục, y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Đông Anh có 01 trạm y tế cấp xã. Hệ thống giáo dục gồm 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học và trung học cơ sở.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, Đông Anh là một trong những xã nghèo của huyện Đông Sơn, do người dân thuần nông, không có nghề phụ. Hiện nay, với ưu thế nằm cạnh quốc lộ 47, kinh tế của xã đã có bước phát triển. Một số ngành nghề mới đã đem lại nguồn thu đáng kể như nghề trồng hoa, trồng rau màu. Theo quy hoạch của huyện Đông Sơn, tại Đông Anh sẽ phát triển cụm nghề tiểu thủ công nghiệp[15].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r Ban chấp hành Đảng bộ xã Đông Anh. Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Đông Anh (1930-2005). Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2006. 
  2. ^ a ă Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam. 
  3. ^ a ă Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ. Công báo số 163+164, ngày 01/3/2007. 
  4. ^ Website. chinhphu.vn. 
  5. ^ a ă “Quyết định số 3110/QĐ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc đổi tên; chuyển thôn thành khu phố; sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018. 
  6. ^ a ă â b Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập II. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2001. 
  7. ^ Thanh Hóa tỉnh Thiệu Hóa phủ Đông Sơn huyện Tuyên Hóa tổng các xã thần tích (trích yếu). Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012.
  8. ^ Dương Thị The, Phạm Thị Thoa (dịch và biên soạn). Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra (Các tổng trấn xã danh bị lãm). H: Khoa học xã hội, 1981. tr. 112. 
  9. ^ Nguyễn Văn Nhật (chủ biên). Địa chí huyện Đông Sơn. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2006. 
  10. ^ Thanh Hóa tỉnh Thiệu Hóa phủ Đông Sơn huyện Tuyên Hóa tổng các xã tục lệ (trích yếu). Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012.
  11. ^ Thanh Hóa tỉnh Thiệu Hóa phủ Đông Sơn huyện Tuyên Hóa tổng các xã địa bạ (trích yếu). Website Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012.
  12. ^ QH. Khôi phục hai trò diễn dân ca Đông Anh -Thanh Hóa. Báo Thanh Hoá, 2006. 
  13. ^ Ngô Đức Thịnh. Tiểu vùng văn hoá xứ Thanh. Tạp chí Văn hoá Dân gian, Số 1(91)/04. 
  14. ^ Bước đầu khôi phục làn điệu dân ca, dân vũ Đông Anh. website cinet.gov.vn. 
  15. ^ Huyện Đông Sơn đầu tư phát triển toàn diện nền kinh tế. website thanhhoa.gov.vn. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Đông Thanh
Đông Khê
Đông Tiến Đông Tiến Biểu đồ gió
Đông Minh B Rừng Thông
T    Đông Anh    Đ
N
Đông Minh Đông Minh Đông Thịnh
Enclave: {{{enclave}}}