Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đông Lĩnh

Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhThanh Hóa
Thành phốThanh Hóa
Thành lập2012
Địa lý
Diện tích8,83 km² [1]
Dân số (1999)
Tổng cộng9.026 người[2]
Mật độ1.022 người/km²
Dân tộcKinh
Khác
Mã hành chính16396[3]
Mã bưu chính44521

Đông Lĩnh là một thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.

Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Đông Lĩnh có diện tích: 8,83 km²[1]. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, xã Đông Lĩnh có dân số 9.026 người[2].

Địa giới hành chính:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời nhà Nguyễn đến trước Cách mạng tháng Tám, xã Đông Lĩnh thuộc tổng Thọ Hạc, gồm các thôn: Bản Nguyên, Vân Nhưng, Hồ Thôn, Trường Sơn.[4].

Năm 1977, các xã hữu ngạn sông Chu thuộc huyện Thiệu Hóa sáp nhập với huyện Đông Sơn thành huyện Đông Thiệu, xã Đông Lĩnh thuộc huyện Đông Thiệu.

Năm 1982, huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn, xã Đông Lĩnh lại thuộc huyện Đông Sơn.

Tháng 2 năm 2012, xã Đông Lĩnh được chuyển từ huyện Đông Sơn về thành phố Thanh Hoá[5]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Đông Lĩnh ngày nay gồm các làng, xóm: Sơn Viện (xã Sơn Viện cũ), Vĩnh Ngọc, Bản Nguyên, Vân Nhưng, xóm Lợi, xóm Thắng, xóm Quyết, Mân Trung (giáp Mân Trung thuộc xã Đồng Hương cũ), Thọ Khang, xóm Quý, xóm Phú, xóm Nguyên, xóm Hạnh, xóm Tân, xóm Tiến, Tân Lương, Hồ Thôn. Các làng, xóm nêu trên thuộc 7 thôn sau đây: Trường Sơn, Vĩnh Ngọc, Bản Nguyên, Vân Nhưng, Mân Trung, Tân Lương, Hồ Thôn.

Di chỉ khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ Bái Man[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1975, tại cánh đồng cao xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Di chỉ này thuộc hậu kỳ đá mới. Tầng văn hoá từ 0,15 m đến 0,50 m. Hiện vật có: 37 đồ đá như rìu, khuyên tai, vòng tay, bàn mài, hạt chuỗi; 3881 mảnh gốm, có gốm thô và gốm mịn trang trí vặn thừng, chải dập, chấm oải…, có 62 mảnh chân chạc gốm thuộc hậu kỳ đồ đá mới.

Di chỉ Bái Tê[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1973, tại thôn Bản Nguyên, xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Tầng văn hoá dày từ 0,30 m đến 040 m phát hiện 3 ngôi mộ và 5 hố đất đen. Hiện vật có: 226 đồ đá như: bàn mài, hòn ghè, mảnh khuyên, lõi vòng, chì lưới; đồ đồng có lao, đục vũm và mảnh trống; đồ sắt có lao dài và thỏi sắt; hàng ngàn mảnh gốm vỡ và bi, chì lưới, dọi xe chỉ gốm, chạc gốm và mảnh gốm Hán. Di chỉ có niên đại thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.

Di chỉ Cồn Cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1976, tại xóm Tân, xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật trên diện tích đào 104m2. Tầng văn hoá dày 0m80, gồm 2 lớp: lớp dưới có đồ đá và gốm thô, lớp trên đồ đồng và gốm Hán. Hiện vật có: 157 đồ đá như búa rìu, rìu tứ giác, đục, hòn kê, bàn mài và hàng trăm mảnh vòng và phác vật, khuyên tai; đồ đồng có: 2 rìu xéo, mũi tên và 1 dùi sắt. Di chỉ thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn, từ các thế kỷ 2, 3 trước Công Nguyên đến các thế kỷ 2, 3 sau Công Nguyên.

Di chỉ Xóm Rú[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện những năm 1970, tại xóm Rú, xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Di chỉ có diện tích rộng hơn 2000m2, khai quật 175m2, tầng văn hoá dày từ 0,30 m đến 0,50 m. Hiện vật có hơn 40 đồ đá gồm rìu, bàn mài, chì lưới, chày, mảnh tước; ba đồ gốm nguyên là chân giò, đĩa, tượng đầu thú và 11.557 mảnh gốm. Di chỉ có niên đại thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.

Các di chỉ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các di chỉ nêu trên còn có các di chỉ: Bái Khuýnh, Bái Rắt, Gò Mả Chùa đều thuộc thời kì văn hóa Đông Sơn.[4]

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đình Phương Chính (thường gọi là đình Vuông) và Nhà thờ Họ Đàm (gốc họ Lê), nằm ở làng Vân Nhưng: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2015/VH-QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).[6]
  • Đền thờ Chiêu phúc Đại Vương: Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh[7]
  • Đình và đền làng Bản Nguyên thờ thành hoàng.[4]
  • Từ đường họ Ngô: thờ Ngô Văn Thông, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn 1508.[4]
  • Chùa Thái Lai ở thôn Sơn Viện.[4]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Đông Lĩnh 02 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ.
  2. ^ a ă Tổng điều tra dân số năm 1999, dẫn theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam.
  4. ^ a ă â b c Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập II. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2001. 
  5. ^ Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn và Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
  6. ^ “Danh sách di tích cấp quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hoá”. binhthuan.gov.vn. 
  7. ^ Quyết định số 255/QĐ-CT ngày 28 tháng 01 năm 2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]