Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đông Nam Á
Southeast Asia (orthographic projection).svg
Diện tích4.545.792 km2 (1.755.140 dặm vuông Anh)
Dân số641.775.797 [1]
Mật độ dân số135,6 /km2 (351 /sq mi)
GDP (PPP)$7,6 nghìn tỷ[2]
GDP (danh nghĩa)2,557 USD nghìn tỷ (tỷ giá hối đoái)[3]
GDP bình quân đầu người4,018 USD (tỷ giá hối đoái)[3]
HDI0,684
Các nhóm dân tộcNam Á, Nam Đảo, Melanesia, Negrito, Papua, Hán-TạngThái
Tôn giáoVật linh, Phật, Kitô, Nho, Hindu, Hồi, Satsana Phi, ĐạoTín ngưỡng Việt Nam
Tên gọi dân cưĐông Nam Á
Quốc gia
Ngôn ngữ
Múi giờ
Tên miền Internet.bn, .id, .kh, .la, .mm, .my, .ph, .sg, .th, .tl, .vn
Mã điện thoạiKhu vực 6 & 8
Thành phố lớn nhất
Mã UN M49035 – Đông Nam Á
142Châu Á
001Thế giới

Đông Nam Á (chữ Anh: Southeast Asia, viết tắt: SEA) ở vào phía đông nam của châu Á, bao gồm hai bộ phận lớn bán đảo Ấn - Trungquần đảo Mã Lai. Bán đảo Ấn - Trung vì nguyên do ở vào khoảng giữa Ấn ĐộTrung Quốc nên được đặt tên, bộ phận thon dài ở phía nam gọi là bán đảo Mã Lai. Quần đảo Mã Lai phân bố ở vùng biển rộng lớn giữa Thái Bình DươngẤn Độ Dương, là quần đảo lớn nhất thế giới, tổng cộng có hơn 20.000 đảo lớn và nhỏ, chia ra thuộc về các nước như Indonesia, Malaysia, Đông Timor, BruneiPhilippines.[4][5] Khu vực đó ở chỗ giáp giới các mảng kiến tạo cho nên động đất, núi lửasóng thần hoạt động dồn dập, nhưng mà khu vực ở xích đạo khá ít thiên tai.

Khu vực Đông Nam Á tổng cộng có 11 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, PhilippinesĐông Timor, diện tích chừng 4,55 triệu kilômét vuông. Trong đó Làonước nội lục duy nhất ở Đông Nam Á, Việt Nam, LàoMyanmar tiếp giáp với phần đất liền Trung Quốc, chỉ có Đông Timor không phải là thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á.[6]

Dân tộc Đông Nam Á lấy dân tộc Nam Đảodân tộc Mã Lai chiếm vị trí chủ đạo, cư dân trong khu vực phần nhiều tin thờ Hồi giáoPhật giáo, tôn giáo khác như Cơ Đốc giáo, Ấn Độ giáo và tôn giáo có liên quan đến thuyết phiếm linh cũng tồn tại ở bên trong khu vực đó. Indonesia là nước có người theo Hồi giáo nhiều nhất cả thế giới, Thái Lan là nước Phật giáo lớn nhất thế giới, Philippines là nước có tín đồ Công giáo Rôma nhiều nhất ở Đông Bán cầu.

Đông Nam Á nằm ở "ngã tư đường" giữa châu Áchâu Đại Dương, Thái Bình DươngẤn Độ Dương. Eo biển Ma-lắc-ca chính là "yết hầu" cùa giao lộ này, địa vị chiến lược trọng yếu vô cùng. Eo biển Ma-lắc-ca nằm ở giữa bán đảo Mã Laiđảo Sumatra, tổng chiều dài chừng 1.080 kilômét, chỗ hẹp nhất chỉ có 37 kilômét, đủ lưu thông tàu thuỷ tải trọng 250.000 tấn, các nước bờ tây Thái Bình Dương phần nhiều đi qua tuyến hàng hải này hướng tới Nam Á, Tây Á, bờ biển phía đông châu Phi và các nước đi sát bờ biển ở châu Âu. Các nước ven bờ eo biển Ma-lắc-ca có Thái Lan, SingaporeMalaysia, trong đó Singapore ở vào chỗ hẹp nhất của eo biển Ma-lắc-ca, vị trí giao thông đặc biệt trọng yếu, là "ngã tư đường" khai thông Ấn Độ DươngThái Bình Dương.

Phân chia[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á vào trước thế kỉ XX được người châu Âu gọi là Đông Ấn Độ. Trong lịch sử Trung Quốc thì gọi khu vực đó là Nam Dương. Bởi vì vị trí địa lí giữa Trung Quốc với á lục địa Ấn Độ và ảnh hưởng văn hoá của khu vực láng giềng cho nên bộ phận lục địa Đông Nam Á được nhà địa lí học châu Âu gọi là Indochina. Tuy nhiên, vào thế kỉ XX, lời nói này càng giới hạn ở lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp cũ (Campuchia, LàoViệt Nam). Về mặt biển ở Đông Nam Á cũng được gọi là quần đảo Mã Lai, nguồn gốc thuật ngữ này đền từ khái niệm ở châu Âu - người Mã Lai của nhóm ngữ hệ Nam Đảo (tức nhân chủng Mã Lai).[7] Một thuật ngữ khác ở Đông Nam Á hải dươngquần đảo Đông Ấn Độ, dùng cho miêu tả khu vực giữa bán đảo Ấn - TrungLiên bang Úc.[8]

Đến cả lời nói "Đông Nam Á" cũng do mục sư Hoa Kì Howard Malcolm sử dụng lần đầu tiên vào năm 1839 ở trong một quyển sách "Du lịch Đông Nam Á" của ông ấy. Định nghĩa của Malcolm chỉ bao gồm phần đất liền, đã loại trừ phần hải dương.[9] Vào thời kì Đại chiến thế giới lần thứ hai, quân Đồng Minh thành lập Bộ tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) vào năm 1943.[10] Lời nói "Đông Nam Á" vì nguyên do đó nên được sử dụng rộng khắp.[11] SEAC triển khai sử dụng thuật ngữ "Đông Nam Á", nhưng mà khái niệm cấu thành Đông Nam Á vào thời kì đầu vẫn không cố định, thí dụ Philippines và phần lớn Indonesia bị SEAC loại trừ ra ngoài. Đến cuối niên đại 70 thế kỉ XX, cách dùng tiêu chuẩn đại thể của chữ Đông Nam Á và lãnh thổ mà nó bao hàm đã xuất hiện. Dù nhìn từ góc độ văn hoá hoặc ngôn ngữ, định nghĩa hiện tại Đông Nam Á hay thấy nhất bao gồm vùng đất mà các nước (nước có chủ quyền và khu vực phụ thuộc) được liệt ra bên dưới đại diện.

Trong 11 nước ở Đông Nam Á có 10 nước là thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á, còn Đông Timor là một nước quan sát viên. Papua New Guinea tỏ rõ khả năng gia nhập ASEAN, trước mắt là quan sát viên.

Nước[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Diện tích

(km2)

Dân số(năm 2020)[12] Mật độ dân số

(/km2)

GDP (trên danh nghĩa),

USD (năm 2020)[13]

GDP bình quân đầu người (PPP),

Int$ (năm 2020)[13]

Chỉ số phát triển loài người

(năm 2018)

Thủ đô
 Brunei 5.765[14] 437.479 73 12.455.000.000 $85.011 0,845 Bandar Seri Begawan
 Campuchia 181.035[15] 16.718.965 87 26.730.000.000 $5.044 0,581 Phnôm Pênh
 Đông Timor 14.874[16] 1.268.671 85 2.938.000.000 $5.321 0,626 Dili
 Indonesia 1.904.569[17] 261.115.456 137 1.111.713.000.000 $14.841 0,707 Jakarta
 Lào 236.800[18] 6.758.353 29 19.127.000.000 $8.684 0,604 Viêng Chăn
 Malaysia 329.847[19] 31.187.265 95 365.303.000.000 $34.567 0,804 Kuala Lumpur *
 Myanmar 676.578[20] 52.885.223 78 65.994.000.000 $7.220 0,578 Naypyidaw
 Philippines 300.000[21] 103.320.222 344 356.814.000.000 $10.094 0,712 Manila
 Singapore 719,2[22] 5.622.455 7.818 362.818.000.000 $105.689 0,935 Thành bang Singapore
 Thái Lan 513.120[23] 68.863.514 134 529.177.000.000 $21.361 0,765 Băng Cốc
 Việt Nam 331.210[24] 94.569.072 286 261.637.000.000 $8.677 0,693 Hà Nội

* Trung tâm hành chính ở vào Putrajaya.

Phân khu hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Diện tích (km2) Dân số Mật độ dân số (/km2) GDP (trên danh nghĩa),

USD (năm 2020)

GDP bình quân đầu người (PPP),

Int$ (năm 2020)

Chỉ số phát triển loài người (năm 2014) Thủ đô
Ấn Độ Quần đảo Andaman và Nicobar 8.251 380.600[25] 46 0,778 Port Blair*

Lãnh thổ phụ thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Diện tích (km2) Dân số Mật độ dân số (/km2) Thủ đô
 Đảo Giáng Sinh 135[26] 1.402[26] 10,4 Flying Fish Cove
 Quần đảo Cocos (Keeling) 14[27] 596[27] 42,6 West Island (Pulau Panjang)

Phân chia địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á là chỉ khu vực phía đông nam ở châu Á. Nó chia làm hai bộ phận bán đảo Ấn - Trungquần đảo Mã Lai, tách ra gồm khu vực được liệt bên dưới:

Bán đảo Ấn - Trung bao gồm

Quần đảo Mã Lai bao gồm

Ngoài ra, về nghĩa rộng, nhìn từ góc độ địa lí tự nhiên, Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Phúc Kiến và phía nam Vân Nam cùng thuộc vùng đất Hoa Nam đều được coi là khu vực Đông Nam Á, những địa phương này đều thuộc về khí hậu á nhiệt đới; tuy nhiên, về phương diện lịch sử và văn hoá, ngôn ngữ mà nhóm dân tộc thiểu số ở Quảng TâyVân Nam sử dụng với ngôn ngữ mà các nước bán đảo Ấn - Trung sử dụng đều là cùng một ngữ hệ (ngữ hệ Kra-Dai, ngữ hệ Nam Á hoặc ngữ hệ H'Mông-Miền). Thổ dân Đài Loan cùng thuộc ngữ hệ Nam Đảo với các nước Đông Nam Á khác như Philippines, Indonesia, v.v, về phương diện nhân chủng thuộc nhân chủng Mã Lai, Đài Loan cũng là nơi bắt nguồn ngữ hệ Nam Đảo Đông Nam Á. Mặc dù nhóm dân tộc chủ yếu ở Đài Loanngười Hán, nhưng mà bởi vì số lượng nhiều thổ dân bị Hán hoá và kết thông gia với nó, vì thế thành phần máu khá tương cận với người Đông Nam Á;[28][29][30] về phương diện tôn giáo, người Tháitỉnh Vân Nam và không ít nước ở bán đảo Ấn - Trung đều tin thờ Phật giáo Thượng toạ bộ; về phương diện địa lí thì nằm ở vị trí trung tâm quần đảo hình vòng cung Đông Á - chỗ tiếp xúc lẫn nhau giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Vì vậy, có lúc sẽ được coi là một bộ phận của Đông Nam Á.[31] Quần đảo Andaman và Nicobar cũng theo đúng như đó, bang Manipur trong số Bảy bang Chị em có lúc cũng như thế. Song, Papua New Guinea có vị trí địa lí thuộc về châu Đại Dương cũng được coi là một trong những nước Đông Nam Á bởi vì văn hoá và phong tục đều tương tự với Indonesia. Trái lại, Việt Nam một trong những nước Đông Nam Á, vì nguyên do lịch sử và văn hoá đều bị văn hoá Trung Hoa ảnh hưởng, có lúc cũng sẽ đem nó liệt vào khu vực Đông Á.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước Đông Nam Á ra đời vào trước và sau Công nguyên, tức là sự xuất hiện các nước vào thời kì đầu ở Đông Nam Á đi cùng với sự xác lập thống trị của vương triều Tần Hán ở khu vực phía bắc Việt Nam, về cơ bản dừng quan hệ qua lại vào thế kỉ X và XI Công nguyên.

Các nước thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời các nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trước và sau Công nguyên, lịch sử và văn hoá Đông Nam Á đã phát sinh một chuyển biến cấp tốc. Sức sinh sản ở Đông Nam Á vào thời kì sau của xã hội đồ đá mới đã có sự nâng cao từng bước một, dân số liên tục tăng trưởng, khiến cho Đông Nam Á đã có năng lực mở mang và phát triển vùng đất lưu vực sông lớn; một mặt khác là bởi vì quan hệ qua lại với phía bên ngoài đặc biệt là quan hệ qua lại với Ấn ĐộTrung Quốc đã đẩy mạnh phát triển khu vực dọc bờ biển, đã thu hút dân số tụ tập hướng về vùng đất dọc bờ biển, dưới ảnh hưởng nhân tố bên trong và ngoài đã sản sinh và phát triển các nước thời kì đầu. Trung tâm địa vực chủ yếu của hoạt động cư dân Đông Nam Á thời kì đầu, từ vùng núi chuyển hướng sát bờ biển, hoặc khu vực bằng phẳng rất rộng lớn của lưu vực sông cả. Thí dụ như khu vực hạ du sông Hồng, một ít khu vực trung và hạ du sông Ayeyarwaddy và khu vực hạ du sông Mê Kông.[32]

Văn hoá cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hoá các nước thời kì đầu ở Đông Nam Á vẫn bảo lưu một ít đặc điểm của văn hoá nguyên thuỷ. Một đặc điểm trọng yếu của loại văn hoá mới này là sự truyền nhập văn hoátôn giáo của Ấn ĐộTrung Quốc lại còn kết hợp với văn hoá nguyên thuỷ Đông Nam Á, thích ứng xã hội giai cấp rất phức tạp và nhu cầu phát triển của các nước thời kì đầu, đã xây đắp ý thức hệ Đông Nam Á và tôn giáo, văn hoá cổ đại của các nước thời kì đầu. Ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu là truyền nhập văn hoá Nho giáo; các nước như Chăm Pa, Phù Nam, Chân Lạp, thành bang Pyu, Dvaravatibán đảo Ấn - TrungSrivijaya ở hải đảo chủ yếu là văn hoá Ấn Độ, nhất là Ấn Độ giáoPhật giáo.

Tuy nhiên, các nước nhỏ Đông Nam Á vào thời kì này đông nhiều, chế độ nhà nước vẫn chưa chín muồi và đúng khuôn, dân tộcnhà nước gần như đều vẫn không có hình thành; về sau làm thành nước lớn cổ đại Đông Nam Á hoặc nhà nước chủ yếu, dân tộc chủ thể (như người Miếnngười Thái) vẫn chưa xuất hiện coi là chủ thể, hoặc vẫn chưa thiết lập nhà nước độc lập (như người Việt ở lưu vực sông Hồng); văn hoá Trung QuốcẤn Độ kết hợp với văn hoá Đông Nam Á, cũng vẫn không có sản sinh hình thức dân tộc xác định, hình thành đặc sắc và phong cách mới lạ. Do đó thời kì này là kì nguyên sơ của các nước thời kì đầu và văn hoá cổ đại ở Đông Nam Á.[33]

Đặc điểm văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì đặc điểm địa lí, văn hoá các nước thời kì đầu ở Đông Nam Á có sẵn đặc điểm của văn hoá hải vực và duyên hải rõ ràng. Các nước thời kì đầu chủ yếu ở vài lưu vực sông lớn và một ít khu vực duyên hải. Khu vực thuộc về lưu vực sông lớn chủ yếu có hạ du sông Hồng lúc đó đặt dưới sự thống trị của vương triều phong kiến Trung Quốc, vương quốc Phù Nam, vương quốc Chân Lạpvương triều Angkor thời kì đầu lấy hạ du sông Mê Kông làm trung tâm cùng với thành bang Pyu ở lưu vực sông Ayeyarwaddy; các nước thuộc về duyên hải thì chủ yếu có Chăm Pa, Dvaravativịnh Thái Lan cùng với Srivijaya ở bờ biển và eo biển Ma-lắc-ca.

Ở lưu vực sông Ayeyarwaddy, người Pyu đã phát triển văn hoá Pyu của họ, nhưng mà ở trung và hạ du sông Mê Kông lấy Phù Nam làm trung tâm đã phát triển văn hoá Phù Nam - Khmer, người Chăm ở phía tây của biển Hoa Nam nay là khu vực duyên hải miền trung Việt Nam đã phát triển văn hoá Chămpa, người Mã Lai ở biển và ven bờ eo biển Ma-lắc-ca đã phát triển văn hoá Srivijaya. Đặc điểm chung của mấy nhánh văn hoá này là đều bị ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, đến mức George Cœdès gọi nó là "quốc gia Ấn Độ hoá".[34]

Văn hoá cận hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì thứ tư lịch sử và phát triển văn hoá Đông Nam Á, về cơ bản mở đầu vào giữa thế kỉ XIX, kéo dài liên tục đến năm 1945 Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Là thời kì chuyển hoá cấp tốc từ thời kì đầu tới cận đại về phương diện lịch sử phát triển Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á trừ Thái Lan ra đều bị thực dân thống trị. Bởi vì tính đa dạng về phương diện văn hoá nguyên thuỷ cộng thêm các nước bị thực dân thống trị theo cách thức không giống nhau cùng với ảnh hưởng của nhiều loại trào lưu tư tưởng vào thời kì này, văn hoá Đông Nam Á biến hoá rất đa đạng và phức tạp thêm.

Một là, động lực chủ yếu hình thành đổi dời và chuyển hoá văn hoá, đến từ xung đột của phương Tây. Hai là, văn hoá truyền thống bị xung đột chưa từng có tiền lệ, nhưng mà nó hoàn toàn không giống nhau giữa mỗi quốc gia. Ba là, sự truyền nhập văn hoá cận đại phương tây và truyền bà Cơ Đốc giáo khiến cho tính đa nguyên và đa dạng hoá từng bước một phát triển, hiện rõ bức tranh rất phức tạp. Bất luận dù là cả khu vực Đông Nam Á hay là mỗi nước Đông Nam Á, đều đúng như vậy. Bốn là bởi vì quy mô và số lượng Hoa kiều di cư đến Đông Nam Á chưa từng có tiền lệ, văn hoá Trung Quốc bao gồm văn hoá Trung Quốc cận đại và văn hoá truyền thống Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Mặc dù trong quá trình đổi dời và chuyển hoá lịch sự và văn hoá này Đông Nam Á có rất nhiều nước bị chiếm đóng làm thành thuộc địa của phương Tây cho nên đã đánh mất tính tự chủ trong tuyển chọn văn hoá ở rất nhiều phương diện, song, về tổng thể mà nhìn, văn hoá Đông Nam Á vẫn đạt được sự phát triển nhất định.

Văn minh Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Bạc, Campuchia

Trong quá trình phát triển lịch sử, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của các nền văn minh bên ngoài, song sự tác động ấy không vì thế mà biết vùng này thành khu vực "Ấn Độ hóa" hay "Hán hoá". Nó đã lựa chọn những gì thích hợp trong văn hóa Dravid, đồng thời phục tùng các đặc điểm của mình, chứ không phải tiếp thu tất cả những gì xa lạ với nó. [cần dẫn nguồn]

Theo một số nhà nghiên cứu thì cư dân Đông Nam Á có những nét chung thống nhất về mặt văn hóa, vì cư dân ở đây có chung một nền tảng văn hóa Đông Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chính. Đông Nam Á được coi là "cái nôi" của cây lúa nước và là một trong 5 trung tâm cây trồng lớn trên thế giới[cần dẫn nguồn]. Văn hóa Hòa Bình đã chứng minh cư dân ở đây đã thuần hóa nhiều giống lúa, thực vật khác nhau, xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai với các loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây có củ và bầu bí, các cây họ đậu ở vùng thung lũng chân núi. Có nhà nghiên cứu còn cho rằng chủ nhân văn hóa Hoà Bình là người biết trồng trọt đầu tiên trên thế giới[cần dẫn nguồn]; niên đại nông nghiệp ở đây có thể lên đến hơn 1 vạn năm TCN. Vì thế, Đông Nam Á đã là một trong những nơi có cuộc cách mạng nông nghiệp sớm nhất trên thế giới. Đến thời đại đồ đồng, trong điều kiện của vùng nhiệt đới, cư dân Đông Nam Á đã bước sang kinh tế trồng lúa khô ở nương rẫy và lúa nước ở vùng thung lũng hẹp châu thổ. Cây lúa đầu tiên được thuần dưỡng ở vùng vùng thung lũng theo chân núi dần dần được chuyển xuống vùng châu thổ thích nghi với vùng ngập nước. Cùng với việc trồng lúa nước, người ta đã thuần dưỡng trâu bò làm sức kéo, xuất hiện các nghề thủ công, đặc biệt là nghề sông biển. Từ đó, nông nghiệp lúa nước đã trở thành một cơ sở quan trọng của nền văn minh khu vực. Đó là một nền văn minh mang đủ các sắc thái của những nền văn minh đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp... cơ sở chung của nền văn minh này là nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa xóm làng.

Đến khoảng nửa đầu thế kỷ XV, hầu hết các quốc gia tiền thân ở Đông Nam Á đã ra đời, và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ mà điển hình là nhà nước Đại Việt dưới triều nhà Lê. Đây là nhà nước hoàn thiện và hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á thời bấy giờ[cần dẫn nguồn]. Nhưng đến nửa đầu thế kỷ XVIII, các nhà nước trên bắt đầu suy yếu và rơi vào sự xâm lược hoặc lệ thuộc vào phương Tây, bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu.

Tự nhiên ảnh hưởng đến khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Rau Nhái, một loại hoa dại mọc rất nhiều ở Việt Nam và Indonesia.

Phải nói rằng gió mùa không chỉ đem lại thuận lợi cho con người mà còn là những yếu tố tự nhiên tác động và tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong vùng, với biên độ không lớn lắm. Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực tạo ra những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển, và đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kĩ thuật tinh tế, phức tạp. Ở đây không có những đồng bằng rộng lớn như vùng châu thổ sông Ấn, sông Hằng hay Hoàng Hà; cũng không có những đồng cỏ mênh mông như vùng thảo nguyên. Không gian sinh tồn ở đây tuy nhỏ hẹp nhưng lại rất phong phú, đa dạng. Con người có thể khai thác ở thiên nhiên đủ loại thức ăn để sinh tồn. Vì thế có người gọi Đông Nam Á là khu vực khai thác thức ăn theo nghĩa rộng. Những điều kiện đó rất thuận lợi cho cuộc sống con người trong buổi đầu, nhưng không khỏi ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của một nền sản xuất lớn, tạo nên một khối lượng sản phẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau này của khu vực. Đồng thời, sự đa dạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ trong văn hóa tộc người của cả khu vực và trong mỗi quốc gia.

Do điều kiện địa lý của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai muà tương đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm. Vì thế, Đông Nam Á còn được gọi là khu vực "Châu Á gió mùa". Nếu theo khái niệm này thì ranh giới địa lý khu vực Đông Nam Á còn bao gồm cả miền Nam Trường Giang và vùng Đông Bắc của Ấn Độ nữa. Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một số khu vực lục địa khác có cùng vĩ độ [35] đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đúc và thịnh vượng như Kuala Lumpur, Singapore, Jakarta... Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống và sản xuất hằng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương... và cây lương thực đặc trưng là lúa nước.

Các thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số quá khứ và trong tương lai (đơn vị: người)
Hạng Quốc gia Diện tích (km2) 1950 2000 2020 2050 2100
1  Indonesia 1.904.569 82.979.000 166.070.000 271.080.000 327.000.000 356.000.000
2  Myanmar 676.000 21.050.000 36.766.000 59.126.000 70.600.000 56.511.000
3  Thái Lan 513.120 23.342.000 51.759.000 68.978.000 66.064.000 64.800.000
4  Philippines 342.353 24.336.000 61.600.000 109.181.000 154.381.000 167.300.000
5 Việt Nam 331.210 25.000.000 80.285.000 98.156.000 112.783.000 105.000.000
6  Malaysia 329.847 7.312.000 15.650.000 32.653.000 42.929.000 51.000.000
7  Lào 236.800 2.078.000 4.211.000 7.448.000 10.900.000 23.800.000
8  Campuchia 181.035 5.211.000 9.368.000 16.927.000 22.400.000 56.511.000
9  Đông Timor 14.874 473.000 740.000 1.400.000 2.192.000 2.990.000
10  Brunei 5.765 45.000 254.000 465.000 639.000 721.000
11  Singapore 824 1.123.000 3.048.000 6.210.000 8.610.000 9.210.000
Total 4.536.397 192.949.000 429.751.000 671.624.000 818.498.000 '

[36]

Cơ quan lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan lập pháp tại các quốc gia Đông Nam Á được tổ chức theo 2 hệ thống: Hệ thống lưỡng viện gồm các quốc gia: Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Malaysia, IndonesiaPhilippines. Hệ thống đơn viện gồm các quốc gia: Việt Nam, Lào, Singapore, BruneiĐông Timor. Quốc hội Indonesia được xem là nghị viện có số đại biểu đông nhất Đông Nam Á, với 692 thành viên (132 ở thượng viện và 560 ở hạ viện). Quốc hội Brunei có số thành viên ít nhất, chỉ có 36 nghị sĩ.

STT Quốc gia Tổng số ghế Số ghế thượng viện Số ghế hạ viện Tuổi bầu cử Đứng đầu Quốc hội Nhiệm kỳ
1  Campuchia 184 ghế 61 ghế 123 ghế 18 tuổi trở lên Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện 5 năm tại Thượng viện và 5 năm tại Hạ viện
2  Thái Lan 650 ghế 150 ghế 500 ghế 18 tuổi trở lên Phát ngôn viên Thượng viện và Phát ngôn viên Hạ viện 5 năm tại Thượng viện và 5 năm tại Hạ viện
3  Myanmar 664 ghế 224 ghế 440 ghế 18 tuổi trở lên Chủ tịch Thượng viện và Phát ngôn viên Hạ viện 5 năm tại Thượng viện và 5 năm tại Hạ viện
4  Malaysia 292 ghế 70 ghế 222 ghế 21 tuổi trở lên Chủ tịch Thượng viện và chủ tịch Hạ viện 3 năm tại Thượng viện và 5 năm tại Hạ viện
5  Indonesia 692 ghế 132 ghế 560 ghế 17 tuổi trở lên Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện 5 năm tại Thượng viện và 5 năm tại Hạ viện
6  Philippines 310 ghế 24 ghế 286 ghế 18 tuổi trở lên Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện 6 năm tại Thượng viện và 3 năm tại Hạ viện
7  Việt Nam 498 ghế Không chia viện Không chia viện 18 tuổi trở lên Chủ tịch Quốc hội 5 năm
8  Lào 115 ghế Không chia viện Không chia viện 18 tuổi trở lên Chủ tịch Quốc hội 5 năm
9  Singapore 99 ghế Không chia viện Không chia viện 21 tuổi trở lên Phát ngôn viên Quốc hội 5 năm
10  Brunei 36 ghế Không chia viện Không chia viện 18 tuổi trở lên Chủ tịch Quốc hội Không cố định
11  Đông Timor 65 ghế Không chia viện Không chia viện 17 tuổi trở lên Chủ tịch Quốc hội 5 năm

Đặc điểm xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á có các biển, vịnh biển ăn sâu vào đất liền, tạo điều kiện cho các luồng di dân giữa đất liền và các đảo, cho sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc. Người Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng trong sinh hoạt, sản xuất, như cùng trồng lúa nước, dùng trâu làm sức kéo, dùng gạo làm nguồn lương thực chính... Tuy vậy mỗi nước vẫn có những phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của cả khu vực. Ví dụ sự đa dạng về tín ngưỡng: đa số người Malaysia, Indonesia theo đạo Hồi; người Myanmar, Thái Lan, CampuchiaLào theo đạo Phật; ở Philippines, đạo Ki-tô và đạo Hồi có số người theo đông nhất. Ở Việt Nam cùng với đạo Phật, đạo Ki-tô, người dân còn có các tín ngưỡng địa phương.

Vị trí cầu nối và nguồn tài nguyên giàu có của Đông nam Á đã thu hút sự chú ý của các nước đế quốc. Cho tới trước chiến tranh thế giới thứ hai, ba nước Campuchia, Lào, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm chiếm; Myanmar, Malaysia trở thành thuộc địa của Anh; Indonesia là thuộc địa của Hà Lan; Philippines bị Tây Ban Nha và sau đó Hoa Kỳ chiếm đóng. Ngoại lệ, Thái Lan giữ được nền độc lập nhưng lệ thuộc phương Tây nhiều mặt. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á bị phát xít Nhật xâm chiếm. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đã lần lượt giành lại được độc lập. Hiện nay đa số các quốc gia trong khu vực theo chế độ cộng hòa, bên cạnh đó là một số quốc gia theo chính thể quân chủ lập hiến. Các nước trong khu vực đều mong muốn hợp tác phát triển. Các nước Đông Nam Á có những nét tương đồng trong nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và đang cùng nhau xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện, cùng nhau phát triển đất nước và khu vực.

Đặc điểm dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á có nhiều chủng tộc Môn-gô-lô-ítÔ-xtra-lô-it cùng chung sống. Dân cư đông đúc, dân số trẻ chiếm số đông nên Đông Nam Á vừa là nơi có nguồn lao động dồi dào vừa là một thị trường tiêu thụ lớn. Đó là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của khu vực.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “World Population Prospects: The 2017 Revision”. ESA.UN.org (custom data acquired via website). United Nations Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2017. 
  2. ^ ASEAN Community in Figures (ACIF) 2013 (PDF) (ấn bản 6). Jakarta: ASEAN. Tháng 2 năm 2014. tr. 1. ISBN 978-602-7643-73-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên IMF
  4. ^ O. W. Wolters. "Lịch sử, văn hoá và khu vực dưới góc nhìn Đông Nam Á".
  5. ^ Anthony Reid. "Thời đại thương nghiệp của Đông Nam Á".
  6. ^ “Abe Shinzo cân nhắc viện trợ một khoản tiền cấp cho Đông Timor, thúc đẩy nó gia nhập ASEAN”. http://news.sina.com.cn/. Mạng Sina. 16 tháng 03 năm 2016. 
  7. ^ Wallace, Alfred Russel (1869). The Malay Archipelago. London: Macmillan and Co. tr. 1. 
  8. ^ Lach; Van Kley, Donald F.; Edwin J (1998). Asia in the Making of Europe, Volume III. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 9780226467689. 
  9. ^ Eliot, Joshua; Bickersteth, Jane; Ballard, Sebastian (1996). Indonesia, Malaysia & Singapore Handbook. New York City: Trade & Trade & Travel Publications. 
  10. ^ Park; King, Seung-Woo; Victor T. (2013). The Historical Construction of Southeast Asian Studies: Korea and Beyond. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 9789814414586. 
  11. ^ Park; King, Seung-Woo; Victor T. (2013). The Historical Construction of Southeast Asian Studies: Korea and Beyond. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 9789814414586. 
  12. ^ “South-Eastern Asia Population (LIVE)”. worldometers/. 6 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2020. 
  13. ^ a ă “World Economic Outlook Database, October 2019”. IMF.org. International Monetary Fund. 15 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019. 
  14. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Brunei — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  15. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Cambodia — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  16. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Timor-Leste — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  17. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Indonesia — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  18. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Laos — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  19. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Malaysia — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  20. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Burma — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  21. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Philippines — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  22. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Singapore — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  23. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Thailand — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  24. ^ “East Asia/Southeast Asia :: Vietnam — The World Factbook - Central Intelligence Agency”. www.cia.gov. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  25. ^ Population data as per the Indian Census.
  26. ^ a ă “Christmas Islands”. CIA World Factbook. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2009. 
  27. ^ a ă “Cocos (Keeling) Islands”. CIA World Factbook. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2009. 
  28. ^ Uỷ ban Người bản địa (5 tháng 7 năm 2010). “Tóm tắt nhóm dân tộc ngữ hệ Nam Đảo”. www.apc.gov.tw. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2013. 
  29. ^ Mẹ của ngành huyết học ở Đài Loan Lâm Ma Lợi một giọt máu giúp bạn tìm kiếm tổ tiên Lưu trữ 2013-12-23 tại Wayback Machine, Báo mạng Liên hợp, ngày 15 tháng 11 năm 2011.
  30. ^ 85% nhóm người Phúc Kiến - Khách Gia có huyết thống thổ dân Lưu trữ 2012-10-14 tại Wayback Machine, Thời báo Tự do, ngày 18 tháng 11 năm 2007.
  31. ^ “台雪山隧道 世界第四東南亞第一長公路隧道”. 大紀元. 15 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2016. 
  32. ^ Bao Mậu Hồng, Lí Nhất Bình, Bạc Văn Trạch chủ biên. "Sưu tập nghị luận nghiên cứu văn hoá lịch sử Đông Nam Á". Nhà xuất bản Đại học Hạ Môn, năm 2014, trang 4 - 5.
  33. ^ Lí Khánh Tân chủ biên. "Nghiên cứu lịch sử hải dương, tập thứ 5". Bắc Kinh: nhà xuất bản văn hiến khoa học, năm 2013, trang 347.
  34. ^ Hạ Thánh Đạt. "Lịch sử và phát triển văn hoá Đông Nam Á", mục "phân chia thời kì và đặc điểm", năm 2011.
  35. ^ lịch sử trung đại thế giới phần phương đông. GS Lương Ninh. trang 9
  36. ^ https://danso.org/dong-nam-a/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)