Đơn vị hành chính cấp huyện (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bản đồ toàn bộ 705 đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam hiện nay   Thành phố trực thuộc trung ương   Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương   Thành phố thuộc tỉnh   Thị xã
Bản đồ toàn bộ 705 đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam hiện nay
  Thành phố trực thuộc trung ương
  Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
  Thành phố thuộc tỉnh
  Thị xã
Bản đồ toàn bộ 705 đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam hiện nay
  Thành phố trực thuộc trung ương
  Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
  Thành phố thuộc tỉnh
  Thị xã

Cấp huyện, theo phân cấp hành chính Việt Nam, là cấp hành chính thứ hai tại Việt Nam, dưới cấp tỉnh và trên cấp xã.

Các đơn vị hành chính thuộc cấp huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay, cấp huyện bao gồm quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện là đơn vị hành chính nông thôn có cả ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Dưới huyện là thị trấn (có thể có một hoặc nhiều, hoặc không có thị trấn nào) và các xã. Một số huyện đảo không phân chia thành các đơn vị hành chính cấp xã do có diện tích quá nhỏ hoặc dân cư quá ít, thay vào đó chính quyền cấp huyện trực tiếp quản lý tất cả các mặt của huyện đó.

Đến ngày 1 tháng 1 năm 2021, Việt Nam có 528 huyện, trong đó có 11 huyện đảo.

Thị xã[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã là một đơn vị hành chính cấp huyện có cả ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Thị xã được chia thành các phường ở nội thị và các xã ở ngoại thị.

Đến ngày 10 tháng 4 năm 2022, Việt Nam có 49 thị xã. Trong đó có 48 thị xã thuộc tỉnh và 1 thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương (thị xã Sơn Tây thuộc thành phố Hà Nội).

Quận[sửa | sửa mã nguồn]

Quận là đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các thành phố trực thuộc trung ương. Các quận tạo nên nội thành của các thành phố. Mỗi một quận lại được chia thành các phường.

Đến ngày 1 tháng 1 năm 2021, Việt Nam có 46 quận thuộc 5 thành phố trực thuộc trung ương.

Thành phố thuộc tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố thuộc tỉnh là đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các tỉnh. Một thành phố thuộc tỉnh có thể là tỉnh lỵ của một tỉnh hoặc không phải là tỉnh lỵ. Thành phố thuộc tỉnh được chia thành các phường ở nội thành và các xã ở ngoại thành.

Đến ngày 10 tháng 4 năm 2022, Việt Nam có 81 thành phố thuộc tỉnh, trong đó có 58 thành phố là tỉnh lỵ và 23 thành phố không phải là tỉnh lỵ.

Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương là một đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các thành phố trực thuộc trung ương, được đặt ra để thí điểm mô hình chính quyền đô thị mới tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến ngày 1 tháng 1 năm 2021, Việt Nam có 1 thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương là Thủ Đức.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Một con đường nông thôn ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, phía xa là núi Ba Thê
Bãi biển Dốc Lết ở thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Đường Lê Hồng Phong tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Đường Lê Lợi tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Xa lộ Hà Nội trên địa bàn Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2009, Việt Nam có 697 đơn vị hành chính cấp huyện.[1]

Tại thời điểm 10 tháng 4 năm 2022, Việt Nam có 705 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: 1 thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, 81 thành phố thuộc tỉnh, 49 thị xã, 46 quận và 528 huyện.

Diện tích và dân số các đơn vị hành chính cấp huyện không đồng đều:

Về diện tích:

  • Trong số các thành phố thuộc tỉnh, thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh có diện tích lớn nhất với 1.119,12 km², thành phố Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa có diện tích nhỏ nhất với 44,94 km².
  • Trong số các thị xã, thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa có diện tích lớn nhất với 1.195,7 km², thị xã Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An có diện tích nhỏ nhất với 27,81 km².
  • Trong số các quận, quận Ô Môn thuộc thành phố Cần Thơ có diện tích lớn nhất với 125,4 km², quận 4 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích nhỏ nhất với 4,18 km².
  • Trong số các huyện, huyện Tương Dương thuộc tỉnh Nghệ An có diện tích lớn nhất với 2.812,07 km², huyện Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội có diện tích nhỏ nhất với 63,17 km² (nếu không tính 11 huyện đảo).
  • Trong số các huyện đảo, huyện Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh có diện tích lớn nhất với 551,3 km² (gấp gần 10 lần diện tích huyện Thanh Trì thuộc Thủ đô Hà Nội); huyện Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị có diện tích nhỏ nhất với chỉ 2,2 km², đồng thời là huyện có diện tích nhỏ nhất cả nước.

Về dân số:

Theo số dân:

Như vậy có thể thấy, các thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận và huyện đông dân nhất Việt Nam đều thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Theo mật độ dân cư:

  • Trong số các thành phố thuộc tỉnh, thành phố Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương có mật độ dân cư cao nhất với 7.711 người/km², thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh có mật độ dân cư thấp nhất với 209 người/km².
  • Trong số các thị xã, thị xã Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương có mật độ dân cư cao nhất với 2.628 người/km², thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên có mật độ dân cư thấp nhất với 98 người/km².
  • Trong số các quận, quận 4 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có mật độ dân cư cao nhất với 41.945 người/km², quận Ô Môn thuộc thành phố Cần Thơ có mật độ dân cư thấp nhất với 1.026 người/km².
  • Trong số các huyện, huyện Hóc Môn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có mật độ dân cư cao nhất với 4.967 người/km², huyện Ia H'Drai thuộc tỉnh Kon Tum có mật độ dân cư thấp nhất với 10 người/km² (nếu không tính 11 huyện đảo).
  • Trong số các huyện đảo, huyện Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có mật độ dân cư cao nhất với 2.134 người/km², huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng có mật độ dân cư thấp nhất với 0 người/km².

So với mật độ dân số trung bình ở Việt Nam (theo số liệu Điều tra dân số ngày 1/4/2019) là 290 người/km², một số thành phố thuộc tỉnh và thị xã có mật độ dân cư thấp hơn khá nhiều.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]