Đường sắt Xuyên Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đường sắt Xuyên Á (TAR) là một đề án xây dựng mạng lưới đường sắt xuyên qua châu Âu và châu Á. Dự án đường sắt Xuyên Á là một dự án của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (UNESCAP).

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án được bắt đầu vào những năm 1950, với mục tiêu là cung cấp hệ thống đường ray liên kết dài 8.750 dặm (14.080 km) giữa SingaporeIstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, xa hơn là châu Âuchâu Phi. Vào thời điểm mà vận chuyển bằng đường thủy và hàng không vẫn chưa được phát triển tốt, dự án là một công trình đầy hứa hẹn để lại dấu ấn khi giảm thời gian vận chuyển và chi phí giữa châu Âuchâu Á. Tiến trình phát triển dự án TAR bị cản trở bởi chính trị và khó khăn kinh tế vào những năm 1960, 1970 và đầu những năm 1980. Gần những năm 1990, vào cuối thời kỳ chiến tranh lạnh, khi sự bình thường hóa quan hệ giữa một số quốc gia với nhau đã giúp cải thiện khả năng tạo ra mạng lưới đường ray liên kết xuyên lục địa châu Á.

Dự án TAR được xem như là một cách để gia tăng khả năng trao đổi hàng hóa quốc tế với các quốc gia châu Âu cũng như tốc độ trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia với nhau. Dự án cũng được xem như là một cách để cải thiện nền kinh tế và sự kết nối đối với những quốc gia không có biển như Lào, Afghanistan, Mông Cổ, và các quốc gia thuộc khu vực Trung Á. Một số tuyến đường sắt đã tồn tại từ trước vì chúng thuộc đường sắt Á-Âu, mặc dù vậy, vẫn có nhiều tuyến chưa được xây dựng. Thử thách lớn nhất là sự khác nhau của kích thước khổ đường ray giữa các quốc gia. Bốn khổ đường ray thường được dùng ở các quốc gia là: đa số các quốc gia ở châu Âu, cũng như ở Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Trung Quốc, và các nước ở bán đảo Triều Tiên đều dùng khổ 1.435 mm (4 ft 8 12 in), được biết đến như là đường sắt khổ tiêu chuẩn; Nga, trước đây là Xô Viết dùng khổ đường ray 1.520 mm (4 ft 11 56 in); Phần Lan dùng khổ 1.524 mm (5 ft) ; đường ray ở Ấn Độ, Pakistan, BangladeshSri Lanka dùng khổ 1.676 mm (5 ft 6 in), được biết đến là đường sắt khổ Ấn Độ; và phần lớn các quốc gia Đông Nam Á dùng khổ 1.000 mm (3 ft 3 38 in) m. Dự án TAR không có khổ đường ray quốc tế, nên phải có các cơ quan làm nhiệm vụ chuyển container từ tàu sang tàu vào lúc chuyển khổ đường ray.

Vào năm 2001, bốn hành lang được đưa ra trong dự án bao gồm:

  • Hành lang phía Bắc kết nối châu Âu và Thái Bình Dương, qua Đức, Ba Lan, Belarus, Nga, Kazakhstan, Mông Cổ, Trung Quốc, và bán đảo Triều Tiên, với thời điểm chuyển khổ đường ray là ở biên giới Ba Lan-Belarusian từ khổ 1.435 mm (4 ft 8 12 in) thành khổ 1.520 mm (4 ft 11 56 in), và ở biên giới Kazakhstan-Trung Quốc cũng như ở biên giới Mông Cổ-Trung Quốc đều chuyển từ khổ 1.520 mm (4 ft 11 56 in) thành khổ 1.435 mm (4 ft 8 12 in). Đường sắt xuyên Sibir 5.750 dặm (9.250 km) bao gồm đa số những tuyến này và hiện tại là tuyến có số lượng hàng hóa nhiều nhất từ Đông Á tới Moskva và phần còn lại của châu Âu. Bởi vì có sự mâu thuẫn chính trị với Triều Tiên, hàng hóa từ Hàn Quốc phải được vận chuyển bằng tàu thủy đến cảng Vladivostok.
Mạng lưới đường ray ở Đông Nam Á, đã xây (màu đen) và dự án (màu vàng).

Thỏa thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Thỏa thuận mạng lưới đường sắt Xuyên Á là một thỏa thuận được ký kết vào ngày 10 tháng 11 năm 2006, bởi 17 quốc gia châu Á và những quốc gia này cũng là thành viên của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (UNESCAP) với nỗ lực là xây dựng mạng lưới đường sắt xuyên lục địa giữa châu Âu và các cảng Thái Bình Dương ở Trung Quốc.[1] Dự án cũng còn được gọi là "Con đường tơ lụa bằng thép" với việc đề cập tới con đường tơ lụa lịch sử.[2][3]

Thỏa thuận có hiệu lực từ ngày 11 tháng 6 năm 2009.[4]

Nước tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ giao thông vận tải và đường sắt từ bốn mươi mốt quốc gia tham gia vào cuộc hội nghị dài một tuần[5] được tổ chức tại Busan, Hàn Quốc, khi mà thỏa thuận được đưa ra. Dự án mạng lưới đường ray dài 80,900-km sẽ bắt đầu từ các cảng Thái Bình Dương của châu Á và kết thúc tại châu Âu. Các quốc gia thỏa thuận ký kết bao gồm:[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Countries sign agreement on Trans-Asian railway plan”. VietNamNet. ngày 11 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006.
  2. ^ 'Iron Silk Road' UN Treaty” (Thông cáo báo chí). UNESCAP (reprinted by National Union of Rail, Maritime & Transport Workers [RMT] Bristol Rail Branch). ngày 6 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006.
  3. ^ Chartier, Pierre, UNESCAP (ngày 1 tháng 11 năm 2005). “Trans-Asian Railway network nears agreement”. Railway Gazette International. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  4. ^ “Trans-Asian Railway Network Agreement comes into force”. Railway Gazette International. ngày 11 tháng 6 năm 2009.
  5. ^ “Nepal signs deal to build trans-Asian railway network”. The Rising Nepal. ngày 13 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]