Sư đoàn 304, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đại đoàn 304)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sư đoàn 304
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đoàn 2


Chỉ huy
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg Phạm Hùng Quyết
từ 10/2017


Quốc gia Việt Nam
Thành lập10 tháng 3 năm 1950
Quân chủngVietnam People's Army insignia.png Lục quân
Phân cấpSư đoàn
Bộ phận củaQuân đoàn 2
Bộ chỉ huyhuyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tên khácĐoàn Vinh Quang
Chỉ huy
Sư đoàn trưởngVietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg Phạm Hùng Quyết
Chính ủyVietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg Nguyễn Thành Bắc
Chỉ huy nổi tiếngVietnam People's Army Colonel General Left.jpg Hoàng Minh Thảo
Vietnam People's Army Major General Left.jpg Hoàng Thế Thiện

Sư đoàn 304, mật danh là Đoàn Vinh Quang, là một sư đoàn bộ binh cơ giới của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thuộc biên chế của Quân đoàn 2. Sư đoàn thành lập ngày 10 tháng 3 năm 1950 từ các trung đoàn 9, 57, 66, 68. Hiện nay là các trung đoàn khung thường trực BB9, BB24, BB66 và PB68. Bộ Chỉ huy Sư đoàn hiện đóng tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sư đoàn trưởng hiện tại là Đại tá Phạm Hùng Quyết.

Tổ chức, biên chế[sửa | sửa mã nguồn]

1. Trung đoàn bộ binh 9: Mật danh "Đoàn Ninh Bình", bao gồm:

  • Tiểu đoàn 353
  • Tiểu đoàn 375
  • Tiểu đoàn 400

Trung đoàn đóng quân tại xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trung đoàn 9 được thành lập ngày 23/9/1947 tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa; là trung đoàn chủ lực cơ động của Sư đoàn 304, Quân đoàn 2.

2. Trung đoàn 57: Mật danh "Đoàn Nho Quan", bao gồm:

  • Tiểu đoàn 265
  • Tiểu đoàn 346
  • Tiểu đoàn 418

3. Trung đoàn bộ binh 66: tức "Đoàn Đông Sơn".

  • Đóng quân tại Thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.

4. Trung đoàn pháo binh 68: thành lập ngày 20-10-1955.

  • Đóng quân tại thôn Thắng Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

Sư đoàn trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sư đoàn trưởng đầu tiên: Hoàng Minh Thảo
  • Đại tá, Phạm Văn Nhệch: nay là Thiếu tướng, Phó giám đốc Học viện Chính trị Quân sự
  • Thiếu tướng Hoàng Kiện (1916 - 2000) sau này là Giam đốc Học viện hậu cần, phó Giam đốc Học viện quân sự cao cấp nay là Học viện quốc phòng
  • Thiếu tướng Hoàng Đan (1928 - 2003), sau này là Phó giám đốc Học viện quân sự cao cấp, tư lệnh Quân đoàn 5
  • Thiếu tướng Thái Dũng trước Hoàng Đan), sau này là Hiệu trưởng Trường sĩ quan lục quân 1.
  • Đại tá Phạm Hùng Quyết (10/2017 - đương nhiệm)

Chính ủy, Phó Sư đoàn trưởng chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính ủy đầu tiên (03-1950 - 05-1951): Trần Văn Quang
  • Chính ủy (05-1951 - 09-1955): Lê Chưởng
  • Chính ủy (10-1955 - 09-1959): Trương Công Cẩn
  • Chính ủy (10-1959 - 09-1963): Trần Huy
  • Chính ủy (02-1968 - 01-1969): Trần Nguyên Độ
  • Chính ủy (01-1969 - 07-1970): Hoàng Thế Thiện
  • Chính ủy (03-2017 - Đương nhiệm): Nguyễn Thành Bắc

Các chiến dịch, trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Pháp, đơn vị đã tấn công đại phá cụm Hồng Cúm trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Trong kháng chiến chống Mỹ, là đơn vị cấp sư đoàn bộ đội chủ lực đầu tiên hành quân vào nam và đánh Mỹ tại trận Ia Drang nổi tiếng tháng 11/1965. Trung đoàn 66 của Sư đoàn đã được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trao hai Huân chương Quân công hạng nhất và danh hiệu Đoàn Playme để kỷ niệm chiến thắng này.

Năm 1972, F304 Tham gia chiến dịch Quảng trị. Ngày 26/4/1972 mở màn tân công các cao điểm quanh sân bay Ái Tử.

Năm 1974, Sư đoàn đã phối hợp với sư đoàn 324 đánh chiếm Thượng Đức và đã có một cuộc chạm trán đầy máu lửa với sư đoàn Nhảy Dù (biệt danh là Thiên Thần Mũ Đỏ) Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đây cũng là trận đánh đầu tiên mà đơn vị này phải chịu những thiệt hại nặng nề nhất (mỗi bên đều tổn thất trên 50% lực lượng). Các lực lượng tham chiến bao gồm:

  • SĐ324B gồm các Trung đoàn 29, Trung đoàn 6 & Trung đoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh Quảng Nam.
  • SĐ304 Điện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê, Chính ủy là Trần Bình chỉ huy trực tiếp trận chiến. gồm 3 Trung đoàn 66, 24 & 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa tháng Năm đã bí mật di chuyển vào khu vực Thượng Đức.
  • Trung đoàn 31 thuộc SĐ2 tăng viện vào lúc cuối trận chiến.
  • 2 Tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà.
  • Một Trung đoàn Pháo và Trung đoàn Chiến Xa.

Lực lượng tham gia tác chiến chủ yếu ở Thường Đức là Sư đoàn 304 với Trung đoàn 66 được tăng cường Trung đoàn 29 (còn gọi là Trung đoàn 3) thuộc Sư đoàn 324, Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 219 Công Binh, một đại đội tên lửa A72 (SA-7) và một đại đội tên lửa B72 (AT-3), tất cả từ Quân đoàn 2 cùng hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà. Các đơn vị của Quân đoàn 2 đã được cơ giới trên con đường chiến lược mới mở Đông Trường Sơn từ thung lũng Ba Lòng (Quảng Trị) xuống. Riêng Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 vừa mới được cơ giới từ thung lũng A Shau (Thừa Thiên) xuống tham gia đánh trận Dak Pek, sau đó đã cơ động trở lại Quảng Nam để tham gia chiến dịch Thường Đức.

Năm 1975, Sư đoàn là đơn vị đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]