Đại Chu hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiêu Huệ Chu hậu
昭惠周后
Lý Hậu Chủ nguyên hậu
Nam Đường Quốc hậu
Tại vị961 - 965
Tiền nhiệmQuang Mục Chung hậu
Kế nhiệmTiểu Chu hậu
Thông tin chung
Phu quânLý Hậu Chủ
Hậu duệ
Thụy hiệuChiêu Huệ
(昭惠)
Sinh936
Mất965
Dao Quang điện
An tángÝ lăng (懿陵)

Đại Chu hậu (chữ Hán: 大周后; 936 - 965), cũng gọi Chiêu Huệ Chu hậu (昭惠周后), họ Chu (周氏), tên không rõ, có thuyết tên Hiến (宪), biểu tự Nga Hoàng (娥皇)[1], là vợ đầu của Nam Đường hậu chủ Lý Dục.

Đại Chu hậu cùng em gái bà Tiểu Chu hậu, cũng chính là người vợ sau của Lý Dục, đều được xưng là mỹ nữ Tiền Đường.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Chu hậu tiểu tự Nga Hoàng, không rõ nguyên quán, là con gái của Tư đồ triều Nam Đường Nguyên Tông Lý Cảnh, tên là Chu Tông (周宗). Sau khi Chu Tông về hưu, thì dời nhà đến tại Kim Lăng. Từ nhỏ bà rất giỏi thi thơ, rất có khí chất, dung mạo được xem là quốc sắc, rất giỏi gảy đàn tỳ bà, từng biểu diễn trong lễ chúc thọ Nam Đường Nguyên Tông, được Nguyên Tông ban cho một cây tỳ bà quý[2].

Năm Bảo Đại thứ 13 (955), khi Chu Nga Hoàng 19 tuổi, Nguyên Tông vì muốn tán thưởng cha bà nên ban hôn cho bà với Ngô vương Lý Dục. Năm Kiến Long thứ 2 (961), Nguyên Tông băng, Lý Dục kế vị, Chu Nga Hoàng trở thành Quốc hậu. Sử sách kể rằng, hai vợ chồng bà tình cảm cực thâm hậu, lúc nào cũng hết sức ân ái[3]. Bà sinh ra Thanh Nguyên quận công Lý Trọng Ngụ (李仲寓), Kì Hoài Hiến vương Lý Trọng Tuyên (李仲宣) và Cao Dương công chúa.

Chu Nga Hoàng tinh thông âm luật. Chuyện truyền rằng khi cả hai đang say men tình, thì Nga Hoàng nâng chén mời Lý Dục múa một bài. Lý Dục nói: "Nếu muốn ta múa, trừ phi nàng có thể sáng tác cho ta một khúc.". Sau đó, Chu Nga Hoàng liền vung bút mà thành Yêu túy vũ phá (邀醉舞破), rồi lại phổ ra bài Hận lai trì phá (恨来迟破), khi đó rất lưu hành ở Nam Đường[4]. Khi đó, Nghê thường y vũ khúc (霓裳羽衣曲) là một điệu múa huyền thoại đã thất truyền. Lý Dục ái mộ Đường Huyền Tông, từng cho nhạc sư chỉnh sửa nhưng không vừa ý. Chu Nga Hoàng bèn tự mình chỉnh sửa, thêm bớt rất nhiều, lại phối thêm tỳ bà. Nội xá nhân Từ Huyễn thông hiểu âm luật, đem khúc nhạc mới của Chu hậu cho nhạc sư Tào Sinh xem, cảm thấy khúc nhạc mới quá dồn dập, e rằng không phải điềm lành[5].

Về sau, Lý Dục đam mê ca múa thành tật. Ngự sử Trương Hiến bởi vậy khuyên can, Lý Dục tuy có ban thưởng cho y có gan nói thẳng, nhưng tật mê ca múa không hề bỏ[6].

Hương tiêu ngọc tẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Càn Đức năm thứ 2 (964), Đại Chu hậu sinh bệnh, đem con thứ mới 4 tuổi là Lý Trọng Tuyên để ở biệt viện nuôi nấng. Tháng 10, Lý Tọng Tuyên ở trước tượng phật chơi đùa, chân đèn bị mèo làm đổ, ấu tử kinh sợ mà chết non[7]. Chu hậu thương cảm không thôi, bệnh càng nặng thêm, Lý Dục ngày đêm ở bên cạnh bà, thuốc cũng tự tay nếm để chăm sóc[8].

Tháng 11, Chu hậu bệnh tình nguy kịch. Trước đó, bà từng vương vấn nói với Lý Dục:"Tiện thiếp may mắn gả vào cửa cung, đến nay đã có mười mấy năm, nữ tử chi vinh, cùng lắm cũng chỉ như thế này thôi. Duy nhất không đủ là ấu tử chết yểu, mà thiếp cũng sắp đi xa, chỉ sợ vô pháp lại báo đáp ân tình của ngài"[9]. Khi bệnh tình nguy kịch, Chu hậu đem ra cây tỳ bà cùng chiếc vòng tay bằng ngọc mà bà thường đeo, để vào tay Lý Dục, ý nói lời chia tay. Khoảng 3 ngày sau, Chu hậu ung dung gắng gượng thay xiêm y, ngậm ngọc hàm, nằm xuống và qua đời tại Dao Quang điện (瑶光殿), hưởng thọ 29 tuổi.

Năm Càn Đức thứ 3 (965), tháng giêng, táng ở Ý lăng (懿陵), thụy hiệu Chiêu Huệ quốc hậu (昭惠國后)[10][11].

Lý Dục thương tiếc người vợ mất khi còn trẻ, làm bài "Chiêu Huệ Chu hậu lụy" (昭惠周后诔), rồi "Vãn từ" (挽词), lời văn thống thiết không nguôi, khi làm lễ tang ông cứ như vậy thẫn thờ, đi đứng cũng phải có người đỡ[12].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 陆游《南唐书·昭惠传》:后主昭惠国后周氏,小名娥皇,司徒宗之女,十九歳来归。
  2. ^ 陆游《南唐书》卷十六:通书史,善歌舞,尤工琵琶。尝为寿元宗前,元宗叹其工,以烧槽琵琶赐之。至于采戏奕棋,靡不妙绝。
  3. ^ 陆游《南唐书》卷十六:后主嗣位,立为后,宠嬖专房。
  4. ^ 陆游《南唐书》卷十六:后(周娥皇)即命笺缀谱......俄顷谱成,所谓邀醉舞破也,又有恨来迟破,亦后所制。
  5. ^ 陆游《南唐书》卷十六:内史舍人徐铉闻之于国工曹生,铉亦知音,问曰:“法曲终则缓,此声乃反急,何也?”曹生曰:“旧谱实缓,宫中有人易之,非吉征也。”
  6. ^ 陆游《南唐书》卷十六:后主以后好音律,因亦躭嗜,废政事。监察御史张宪切谏,赐帛三十疋,以旌敢言,然不为辍也。
  7. ^ 陆游《南唐书》卷十六:仲宣才四岁,一日戏佛像前,有大琉璃灯为猫触堕地,哗然作声,仲宣因惊得疾,竟卒。
  8. ^ 马令《南唐书·昭惠周后传》 :后既病,仲宣甫四歳,保育于别院。忽遘暴疾数日,卒。后闻之,哀号颠仆,遂致大渐。后主朝夕视,食药非亲尝不进,衣不解带者累夕。
  9. ^ 马令《南唐书·昭惠周后传》 :后虽病,亟爽迈如,常谓后主曰:“婢子多幸,托质君门,冐宠乗华凡十载矣,女子之荣莫过于此。所不足者,子殇身殁,无以报徳。”
  10. ^ 陆游《南唐书》卷十六:未几,后卧疾,已革,犹不乱,亲取元宗所赐烧槽琵琶,及平时约臂玉环,为后主别。乃沐浴妆泽,自内含玉,卒于瑶光殿,年二十九,葬懿陵。
  11. ^ 马令《南唐书·昭惠周后传》 :遂以元宗所赐琵琶、及常臂玉环亲遗后主,又自为书请薄葬。越三日,沐浴正衣糚,自内含玉,殂于瑶光殿之西室,时干徳二年十一月甲戌也,享年二十九。眀年正月壬午迁灵柩于园寝
  12. ^ 陆游《南唐书》卷十六:后主哀甚,自制诛刻之石,与后所爱金屑檀槽琵琶同葬,又作书燔之与诀,自称鳏夫煜,其辞数千言,皆极酸楚。