Đại biện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đại biện của triều đình Qajar và vợ của ông ấy thăm viếng Tổng thống Hoa Kì Woodrow WilsonNhà Trắng vào tháng 5 năm 1913.

Đại biện thường nhiệm (chữ Pháp : chargé d'affaires), gọi tắt đại biện, là đại biểu ngoại giao - một thứ bậc thấp nhất, do Bộ trưởng Ngoại giao của một nước sai khiến hướng về Bộ trưởng Ngoại giao của một nước khác, nhưng mà đại sứcông sứ thì do nguyên thủ quốc gia sai khiến hướng về nguyên thủ của nước trú ở, do đó sự đối xử và tiếp đãi về nghi lễ, cái mà nó hưởng thụ, thấp hơn đại sứcông sứ, nhưng mà đặc quyền và miễn trừ ngoại giao, cái mà nó hưởng thụ, tương đồng với đại sứcông sứ.[1] Đại biện lâm thời là nhân viên ngoại giao được sai khiến và giao phó để tạm thời đảm nhiệm chức vụ của người khác vào lúc đại sứ hoặc công sứ đại biểu ngoại giao để trống chỗ hoặc vì duyên cớ không thể chấp hành chức vụ.[2] Đại biện lâm thời do người có cấp bậc cao nhất trong nhân viên ngoại giao đảm nhiệm, ông ấy lấy danh nghĩa đại biện lâm thời thật thi chức quyền của thủ trưởng sứ quán.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Đại biện thường nhiệm (chữ Pháp : chargés d'affaires en pied, viết tắt : charge-D "e.p.") là đại biểu ngoại giao thường trú do Bộ trưởng Ngoại giao của một nước sai phái đi nước khác. Thứ bậc ở bậc dưới so với đại sứcông sứ ; đặc quyền và miễn trừ ngoại giao giống nhau với quan viên cấp đại sứ và công sứ.

Đại biện lâm thời (chữ Pháp : chargés d'affaires ad interim, viết tắt : charge-D "a.i.") là nhân viên ngoại giao tạm thời làm việc và lo liệu thay thế sứ tiết ngoại giao chủ trì việc sứ quán, vào lúc sứ tiết ngoại giao (đại sứ, công sứ và đại biện thường nhiệm) thôi chức về nghỉ ngơi hoặc rời khỏi chức vị (cách chức) hoặc vì duyên cớ không thể trông coi công việc. Đại biện lâm thời không phải là một cấp bậc của đại biểu ngoại giao.[3] Đại biện lâm thời thông thường do người có cấp bậc cao nhất trong số nhân viên ngoại giao của cơ quan đại biểu ngoại giao giữ trách nhiệm quản lí công việc mang tính sự vụ của chính phủ đảm nhiệm, sự uỷ nhiệm của nó, thông thường cần bản thân đại biểu ngoại giao báo cho Bộ trưởng Ngoại giao của nước trú ở biết sự việc bằng văn thư ngoại giao (chiếu hội) chính thức hoặc do cơ quan đại biểu ngoại giao chỗ đó báo cho Bộ trưởng Ngoại giao của nước trú ở biết sự việc, và theo phương thức đồng dạng mọi người đều biết cơ quan đại biểu ngoại giao của các nước khác cư trú nước đó.

Nếu lúc gặp phải bản thân đại biện lâm thời vì duyên cớ không thể chủ trì việc sứ quán, nhưng mà cần ra lệnh giao phó chức vụ mới lại một vị đại biểu ngoại giao khác làm đại biện lâm thời, đối với việc ra lệnh giao phó chức vụ của đại biện mới, giả như bản thân sứ tiết ngoại giao không thể đưa ra lời nói hoặc bản văn thông báo sự việc, có quốc gia thì yêu cầu Bộ trưởng Ngoại giao của nước sai khiến đưa ra lời nói hoặc bản văn thông báo sự việc, rồi mới có thể có hiệu lực.

Nếu sau khi sứ tiết ngoại giao rời khỏi chức vị, lúc cơ quan đại biểu ngoại giao đang trú ở trong nước không có quan viên ngoại giao, căn cứ vào "Công ước Quan hệ ngoại giao Viên" quy định, nước sai khiến sau khi thu được sự đồng ý của nước trú ở, có thể sai phái đi một nhân viên nào đó chủ trì công việc hành chính thường ngày, nhưng mà loại người chủ trì việc sứ quán mà không phải là nhân viên ngoại giao, không thể gọi là đại biện lâm thời.[1]

Sau khi hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao, trước lúc sứ tiết ngoại giao đầu tiên tới làm chức phận của mình, nhân viên ngoại giao tối cao mà được phái đi nước trú ở để trông coi và sắp đặt thủ tục cất sứ quán cũng gọi là đại biện lâm thời. Bởi vì nước sai khiến vẫn không có đại biểu ngoại giao cư trú ở nước đó, cho nên được Bộ trưởng Ngoại giao của nước sai khiến đưa ra đơn giới thiệu đại biện lâm thời hướng về Bộ trưởng Ngoại giao của nước tiếp nhận, và lại do sứ quán dùng chiếu hội phổ thông khiến cho mọi người đều biết sứ quán của các nước khác. Có cách làm của quốc gia không có đưa ra đơn giới thiệu, thì do Bộ trưởng Ngoại giao dùng hình thức điện báo báo cho đối phương biết sự việc.

Nhân viên ngoại giao được ra lệnh giao phó chức vụ làm đại biện lâm thời tất cả đều không cần phải thu được sự đồng ý của nước trú ở trước khi xảy ra sự việc.

Quan hệ ngoại giao cấp đại biện một khoảng thời gian dài[sửa | sửa mã nguồn]

Một ít quốc gia vào lúc mức độ quan hệ ngoại giao chuyển thành xấu kém nhưng mà chưa đến đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao, sẽ triệu hồi đại sứ, chỉ phái đi đại biện dùng làm phương thức phản đối ý kiến sai lầm. Thí dụ năm 1989 một loạt đồ quý giá của triều đình Arabi Saudi bị ăn cắp ở Thái Lan, quan viên điều tra của nước Arabi Saudi bị sát hại ở Thái Lan, hình thành quan hệ ngoại giao hai nước xuống cấp, do đó nước Saudi chỉ sai khiến đại biện cư trú Thái Lan, cho tới nay Sự kiện Kim cương Xanh còn chưa kết thúc.[4] Niên đại 1980, chính phủ Trung Hoa dân quốc chấp hành chuyên án "Tàu ngầm cấp Kiếm Long", Hải quân Trung Hoa dân quốc tính toán mua sáu chiếc tàu ngầm cấp Kiếm Long hướng về Hà Lan, song nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành can thiệp ngoại giao với Hà Lan, chỉ hoàn thành hai chiếc hiệu Hải Long và hiệu Hải Hổ, tiếp theo sau đó bốn chiếc chưa thể xong thủ tục mua bán. Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bắt đầu vào tháng 5 năm 1981 vì hồ sơ bán vũ khí quân sự mà đem quan hệ ngoại giao với Hà Lan giáng xuống làm cấp đại biện,[5]:p40 mãi đến bắt đầu ngày 1 tháng 2 năm 1984 thì mới khôi phục làm cấp đại sứ.[6][7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Đại biện”. https://www.un.org/zh. Ngày 18 tháng 04 năm 1961. Truy cập Ngày 09 tháng 11 năm 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ (tiếng Anh)Vienna Convention on Diplomatic Relations (PDF), United Nations (UN Office of Legal Affairs), 18 tháng 4 năm 1961: 7, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2018 
  3. ^ Boczek, Boleslaw Adam (2005). International Law: A Dictionary. Scarecrow Press. tr. 48. ISBN 978-0810850781. 
  4. ^ “Embassy issues another angry statement”. nationmultimedia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. Mr. Nabil Ashri said that "The Kingdom of Saudi Arabia's goal on this issue stems directly from its firm and clear foreign policy of non-interference, and seeking closer cooperation and developing friendly international relations, as its relations with the Kingdom of Thailand suffered because of the appalling unsolved crimes currently pending and which have resulted in the downgrading of bilateral relations affecting both the people of Saudi Arabia and Thailand for more than 20 years", adding "it is my duty to try to negotiate this issue with the Thai Government, in order to avoid any further tension or undesirable complications in bilateral relations". 
  5. ^ (Trung văn giản thể)科兰 (1998). 大使馆和外交官:机构设置·分工·职责. 外交外事知识丛书. 北京: 世界知识出版社. ISBN 7-5012-1007-1. 
  6. ^ Quan hệ ngoại giao Trung Quốc và Hà Lan
  7. ^ China and the Netherlands