Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
HCMUT official logo.png
Tên gọi khác Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh
Thành lập 27 tháng 10 năm 1957
Loại hình Đại học kỹ thuật
Hiệu trưởng GS. TS, Nhà giáo ưu tú Vũ Đình Thành
Địa chỉ 268 Lý Thường Kiệt, phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Vị trí Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại +84-8-38.647.256
Website www.hcmut.edu.vn

Trường Đại học Bách khoa là một trong những trường Đại học công lập có thương hiệu về đào tạo khối ngành kỹ thuật tại miền nam Việt Nam (tuy nhiên vẫn có chênh lệch chất lượng đào tạo giữa từng nhóm ngành).[1][2] Đồng thời cũng là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn của miền nam Việt Nam. Trường trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có 930 giảng viên. Trong đó có 9 giáo sư, 103 phó giáo sư, 276 tiến sĩ, 443 thạc sĩ và 98 giảng viên có trình độ đại học.[3]

Chất lượng đầu ra lý thuyết:[sửa | sửa mã nguồn]

Thái độ của người ra trường:

  • Có lòng yêu nghề mình học, yêu quê hương đất nước và con người Việt Nam.
  • Có ý chí dấn thân, lập nghiệp để làm giàu cho bản thân, từ đó có thể giúp xã hội Việt Nam phát triển hơn.
  • Có khả năng nhận định một vấn đề.
  • Có đạo đức và sự chính chắn của một người trí thức.
  • Có tư duy lớn để phát triển tốt sự nghiệp.
  • Có khả năng làm việc ở cường độ cao.

Kiến thức:

  • Có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực mình học.
  • Có trình độ anh văn tối thiểu TOEIC 500.

Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016[4]
Cấp bậc đào tạo Số lượng nhập học Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Tỉ lệ người học thu nhập trên 10 triệu VNĐ Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học Trường công khai thiếu số liệu 2703 5,31% 94,7%
Thạc sĩ 917 785 (16,9% người tốt nghiệp trễ) 100% 100%
Tiến sĩ 59 10 (83% người tốt nghiệp trễ) 100% 100%

Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 1 năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng sinh viên khởi nghiệp (có đăng ký thành lập công ty hoặc sáng tạo một mô hình kinh doanh mới, cần phân biệt với ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp).

* Tỉ lệ tốt nghiệp trễ tỉ lệ thuận độ tin cậy về cam kết siết đầu ra của trường, có thể nói lên độ tin cậy về khả năng làm việc của người đã tốt nghiệp.

* Thống kê không dành cho bậc Cao đẳng, nên có thể có khác biệt về chất lượng đào tạo ở hệ đào tạo này. Ở hệ này tuy tỉ lệ xin việc cao và thời gian đào tạo ngắn nhưng tổng số tiền người học hệ đào tạo này thường thấp vì tư duy người học ở hệ này thấp, không cầu tiến, thường nghĩ chuyện nhỏ mà bỏ qua chuyện lớn, người học cần thận trọng khi lựa hệ để học.

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học:[sửa | sửa mã nguồn]

* Người học có thể đăng ký chương trình đổi mới, chất lượng cao, tiên tiến hoặc liên kết để nâng cao chất lượng đào tạo.

* Lưu ý mỗi ngành đều có điểm hay riêng, người học không nên vì cái danh của một ngành nghề mà chọn hay định kiến của xã hội về một ngành nghề mà bỏ chọn nó, mà nên chọn dựa theo đam mê và năng lực của bản thân.

Chương trình đại trà

Chương trình chất lượng cao (người học có thể đăng ký chương trình đổi mới hoặc liên kết để nâng cao chất lượng đào tạo).

Kỹ sư tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Các sinh viên trong chương trình kỹ sư tài năng được tuyển chọn từ những sinh viên có điểm số cao nhất có nguyện vọng ở chương trình đào tạo chính quy bình thường sau năm I hoặc năm II và được sàng lọc qua từng học kỳ. Những sinh viên thuộc chương trình Tài năng được tách riêng thành 1 lớp (sĩ số khoảng 35 sinh viên/lớp) với điều kiện học tập tốt hơn lớp thường, do giảng viên đầu ngành trong Khoa giảng dạy, bài tập và đề thi đòi hỏi cao hơn, một số môn học và thi hoàn toàn bằng tiếng Anh. Bằng tốt nghiệp của các lớp này khác với chương trình chính quy thông thường.[5]

Hiện nay chương trình đào tạo kỹ sư tài năng bao gồm các ngành: Điều khiển tự động, Kỹ thuật Điện và Điện tử - Viễn thông (Khoa Điện-Điện tử); Cơ khí chế tạo máy, Cơ điện tử (Khoa Cơ khí); Khoa học và Kỹ thuật Máy tính (Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính); Xây dựng dân dụng công nghiệp, Xây dựng Cầu- Đường (Khoa Kỹ thuật Xây dựng); Kỹ thuật Hóa học (Khoa Kỹ thuật Hóa học).

Kỹ sư chất lượng cao Việt - Pháp (PFIEV)[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một chương trình đào tạo đại học được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Đại sứ quán Pháp. Chương trình mở khóa đầu tiên vào năm học 1999-2000 ở 4 trường đại học hàng đầu Việt Nam. Hiện nay, chương trình đang có 12 ngành đào tạo.

Khác với các chương trình khác của Trường, chương trình PFIEV đào tạo theo hệ niên chế với thời gian là 5 năm có số lượng ngành và sinh viên PFIEV nhiều nhất cả nước. Sinh viên muốn theo chương trình PFIEV phải đăng ký ngay sau khi trúng tuyển vào trường và được tuyển chọn dựa vào kết quả thi Đại học (Toán x3, Lý x2, Hóa x1). Kết quả đầu vào không yêu cầu tiếng Pháp nhưng trong quá trình học sinh viên phải học cả hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp. Chương trình PFIEV rất nặng so với chương trình đào tạo thông thường nên nếu sinh viên không thích nghi được với chương trình có thể xin rời khỏi lớp sau năm I và trở lại chuyên ngành đã đăng ký lúc tuyển sinh.

Hiện tại trường đang dạy 7 ngành: hệ thống năng lượng, viễn thông,xây dựng dân dụng và năng lượng, hàng không, cơ điện tử, vật liệu tiên tiến polyme và composit.[6]

Sau đại học:[sửa | sửa mã nguồn]

* Người học có thể đăng ký chương trình đổi mới, chất lượng cao, tiên tiến hoặc liên kết để nâng cao chất lượng đào tạo.

Đào tạo thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình đào tạo thạc sĩ được thiết kế trên 2 hình thức (hình thức nghiên cứu - research và hình thức ứng dụng - coursework). Để được tham gia khóa đào tạo thạc sĩ tại Trường, học viên phải đạt yêu cầu trình độ Anh văn cần thiết là TOEFL ITP 450, TOEFL iBT 45, TOEIC 500 hoặc IELTS 5,0.

Chương trình đào tạo của hệ thạc sĩ[7][sửa | sửa mã nguồn]

  • Với hình thức đào tạo thạc sĩ hệ nghiên cứu (research), chương trình đào tạo sẽ gồm 5 tín chỉ cho các khối kiến thức chung (Triết học và Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Nâng cao), 10 tín chỉ các môn học tự chọn và 30 tín chỉ thực hiện luận văn thạc sĩ.

+ Đối tượng: dành cho với những học viên thuộc đối tượng xét tuyển, đang làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu, … học tập trung toàn thời gian tại Trường, có nguyện vọng học tiếp trình độ tiến sĩ.

+Mục tiêu đào tạo: Đào tạo các nhà nghiên cứu. Chương trình cung cấp cho người học kiến thức chuyên sâu của ngành, chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp để có thể độc lập nghiên cứu, phát triển các quan điểm, luận thuyết khoa học, bước đầu có thể hình thành ý tưởng khoa học, phát hiện, khám phá và thử nghiệm kiến thức mới; có khả năng thực hiện công việc ở các vị trí nghiên cứu, giảng dạy; có thể tiếp tục tham gia chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ

  • Với hình thức ứng dụng (coursework), chương trình đào tạo gồm 7 tín chỉ cho khối kiến thức chung (Triết học, Kỹ năng lãnh đạo -Leadership và Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp -Innovation & Entreupreunership), 12 tín chỉ cho khối kiến thức bắt buộc và 13 tín chỉ khối kiến thức tự chọn và luận văn tốt nghiệp - 15 tín chỉ.

Đào tạo Tiến sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, Trường Đại học Bách khoa có 30 ngành đào tạo tiến sĩ. Các ứng viên phải đạt yêu cầu xét tuyển sinh được tổ chức 2 lần trong một năm cộng với trình độ Anh văn  TOEFL ITP 500, TOEFL iBT 61, TOEIC 600, IELTS 5,5 hoặc trình độ tương đương.

Để tốt nghiệp, nghiên cứu sinh phải hoàn tất luận án trong khoảng thời gian tối thiểu 3 năm nghiên cứu tập trung. Luận văn phải được bảo vệ thành công trước các  hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ.

Các khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Trường hiện có 11 khoa, đào tạo các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật:

Khoa Khoa học và Kỹ thuật máy tính[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học & Kỹ thuật Máy Tính - Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính được thành lập năm 1978 với tên là Bộ môn Điện toán thuộc khoa Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1985, khoa được tách ra thành Trung tâm điện toán và đến năm 1993 là Khoa Công nghệ Thông tin. Năm 2007, khoa được tái cơ cấu lại thành khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính.[8]

Khoa đào tạo ở các bậc đại học, cao học và tiến sĩ. Có hai ngành đào tạo ở bậc đại học là Khoa học Máy tính và Kỹ thuật Máy tính. Mục tiêu chính của chương trình đào tạo là cung cấp cho sinh viên các kiến thức cần thiết để có thể làm việc ở các trường đại học và các công ty.

Hiện tại khoa có hơn 80 giảng viên với hơn 25 tiến sĩ và được tổ chức thành 2 chuyên ngành với 5 bộ môn:

Khoa Điện - Điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Điện - Điện tử

Khoa Điện - Điện tử được thành lập từ năm 1957, Khoa Điện - Điện Tử thuộc Trường Đại học Bách Khoa – ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.[9]

Với đội ngũ gồm 140 giảng viên có năng lực chuyên môn cao, Khoa Điện - Điện Tử đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển nền kinh tế vùng phía Nam của đất nước bằng các kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các thế hệ sinh viên của Khoa sau khi tốt nghiệp đã và đang có nhiều cống hiến quan trọng. Nhiều người trong số họ hiện đang giữ các vị trí chủ chốt trong các khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân.

Cho đến nay, Khoa đào tạo 3 chuyên ngành với tất cả bảy bộ môn:

Khoa Điện - Điện tử hiện nay còn thành lập câu lạc bộ PIF dành cho các sinh viên làm quen với bộ môn Điện Điện tử.

Khoa Cơ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Cơ khí - Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Là một trong những khoa thành lập đầu tiên của trường (1956, trên nền trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ). Năm 1976, khoa có tên chính thức là Khoa Cơ khí. Các bộ môn của khoa gồm: Cơ điện tử, Chế tạo máy, Thiết kế máy, Công nghệ nhiệt lạnh, Cơ giới hoá xí nghiệp & Xây dựng, Kỹ thuật điều khiển tự động (nay là Cơ điện tử), Thiết bị & công nghệ vật liệu Cơ khí, Kỹ thuật hệ thống công nghiệp, Kỹ thuật dệt may.

Khoa Cơ khí là một trong những khoa có quy mô đào tạo lớn trong trường, với hệ thống thiết bị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học được quan tâm đầu tư hàng năm.

Hiện nay, số lượng sinh viên khoa Cơ khí (hệ đào tạo đại học chính quy), học viên cao học, nghiên cứu sinh khoảng 2.500. Trong những năm gần đây, khoa Cơ khí tuyển sinh khoảng 600 sinh viên hệ đại học chính quy, khoảng 40 học viên cao học. Số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm khoảng 500 sinh viên.

Nhiều cựu sinh viên của khoa hiện nay đang giữ những cương vị quản lý, lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan nhà nước, các sở ban ngành và các tập đoàn kinh tế mạnh ở miền nam Việt Nam.

Khoa Kỹ thuật Hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kỹ thuật Hoá học tiền thân là Trường Cao đẳng Hoá học thuộc Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia Phú Thọ, được thành lập từ năm 1962. Sau tháng 4 năm 1975 được đổi tên là Khoa Kỹ thuật Hoá học thuộc Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG Tp. HCM. Khoa đào tạo nguồn nhân lực đại học, sau đại học cho các ngành thuộc lĩnh vực Hoá học, Thực phẩm, Sinh học.[10]

Sau nhiều năm hoạt động và phát triển đến nay với đội ngũ hiện nay gồm: 96 CBGD, trong đó có 01 GS, 04 PGS, 25 TS, 49 ThS. Hằng năm Khoa đảm nhận đào tạo gần 400 kỹ sư trong 3 chuyên ngành chính gồm 7 bộ môn và 1 PTN trung tâm:

Khoa Kỹ thuật Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập năm 1957, trong trường Cao đẳng Công chánh thuộc khuôn viên Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ. Năm 1976, chính thức trở thành khoa Kỹ thuật Xây dựng. Hiện nay, khoa có 7 chuyên ngành: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Xây dựng Cầu Đường, Cảng và công trình biển, Vật liệu xây dựng, Thủy lợiThủy điệnCấp thoát nước, Trắc địaĐịa chính, Kiến trúc.[11]

Khoa Công nghệ Vật liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Công nghệ Vật liệu được thành lập năm 2001 với các chuyên ngành đào tạo: công nghệ Vật liệu Kim loại và Hợp kim, công nghệ Vật liệu polyme và công nghệ Vật liệu silicat.[12]

Khoa Khoa học Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học Ứng dụng được thành lập vào năm 2003, hiện có 4 bộ môn: Vật lý Kỹ thuật y sinh, Vật lý Ứng dụng, Toán Ứng dụng, Cơ Kỹ thuật, đào tạo 2 chuyên ngành: Vật lý kỹ thuật, Cơ kỹ thuật.[13]

Khoa Quản lý Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập năm 1990. Hiện nay khoa này có 2 ngành là Quản lý Sản xuất & Dự án và Quản trị Kinh doanh với 4 bộ môn: Hệ thống Thông tin Quản lý và Khoa học Ra quyết định, Quản lý Sản xuất và Điều hành, Tiếp thị và Quản lý, Tài chính.[14]

Khoa Môi trường và Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Khoa Môi trường hiện nay là Bộ môn Kỹ thuật môi sinh thuộc Khoa Xây dựng được thành lập vào năm 1981. Đến ngày 28 tháng 9 năm 1999, Bộ môn chính thức trở thành Khoa Môi trường. Năm 2014, khoa được đổi tên thành khoa Môi trường và Tài nguyên.

Hiện nay, Khoa là một trong những trung tâm chủ chốt đào tạo đội ngũ kỹ sư, nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc môi trường như quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm không khí, xử lý nước thải… cho toàn khu vực miền Nam Việt Nam.

Khoa hiện có 36 nhân sự bao gồm 3 phó giáo sư, 14 tiến sĩ, 9 thạc sĩ và 8 kỹ sư. Bên cạnh đội ngũ giảng viên chính, Khoa còn mời các giáo sư đầu ngành, các chuyên gia trong nước về kỹ thuật môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên, quản lý đô thị, kinh tế môi trường, viễn thám, GIS... tham gia giảng dạy và nghiên cứu.

Để phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ, Khoa đã không ngừng nâng cấp 3 phòng thí nghiệm (PTN) cơ bản: PTN phân tích, PTN mô hình, PTN GIS với những trang thiết bị tiên tiến hiện nay, đặc biệt là PTN GIS với các trang thiết bị Special database, Remote Sensing analysis, GIS data acquisition and data workshop.

Khoa Môi trường và Tài nguyên hiện nay gồm 5 bộ môn:

  • Bộ môn Kỹ thuật Môi trường
  • Bộ môn Quản lý Môi trường
  • Bộ môn Hệ thống Thông tin Môi trường và Tài nguyên
  • Bộ môn An toàn, sức khỏe và môi trường
  • Bộ môn Khoa học và Công nghệ nước.[15]

Khoa Kỹ thuật Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, khoa Kỹ thuật Giao thông được thành lập do sự hợp nhất của 3 ngành: Kỹ thuật Ô tô - Máy động lực, Kỹ thuật Tàu thủyKỹ thuật Hàng không.[16]

Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân là khoa Địa chất, được thành lập năm 1978. Qua nhiều năm phát triển và thêm nhiều chuyên ngành, năm 2004, khoa có tên chính thức là Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí. Khoa đào tạo các chuyên ngành: Địa chất môi trường, Địa kỹ thuật, Địa chất dầu khí, Địa chất khoáng sản, Khoan và khai thác dầu khí.[24]

Từ ngày thành lập đến nay Khoa đã đào tạo hơn 500 Kỹ sư địa chất, Địa kỹ thuật, Địa chất môi trường, Địa chất dầu khí và khoảng 300 kỹ sư Công nghệ khoan và khai thác dầu khí.

Số cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí là 33 người, trong đó có 5 PGS, 14 TS, 19 ThS (trong đó có 6 CB đang làm NCS), 4 Kỹ sư (trong đó có 3 đang theo học Cao học trong và ngoài nước).

Ngoài ra, Khoa còn mời nhiều cán bộ thỉnh giảng là các chuyên gia đầu ngành của các công ty dầu khí, công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí, các Liên đoàn Địa chất, các Viện nghiên cứu và Trường đại học khác.

Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu Khí hiện tại có 4 bộ môn:

  • Bộ môn Địa kỹ thuật
  • Bộ môn Tài nguyên Trái đất và Môi trường
  • Bộ môn Địa chất Dầu Khí
  • Bộ môn Khoan và Khai thác dầu khí

Trung tâm trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Kỹ thuật xây dựng;
  • Trung tâm Thiết bị nhiệt và năng lượng mới;[25]
  • Trung tâm Nghiên cứu lọc hóa dầu;[26]
  • Trung tâm Bồi dưỡng Kỹ thuật Văn hóa Bách Khoa;[27]
  • Trung tâm Ngoại ngữ[28];
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Silicat;
  • Trung tâm Kỹ thuật điện toán;[29]
  • Trung tâm Du học;[30]
  • Trung tâm Đào tạo bảo dưỡng công nghiệp;[31]
  • Trung tâm Công nghệ thông tin địa lý[32];
  • Trung tâm Chuyển giao công nghệ;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mới;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Polymer;
  • Trung tâm BR&T;[33]
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mài cao cấp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Logo kỷ niệm 50 năm thành lập trường Phú Thọ - Bách Khoa (1957-2007)
Xem thêm về nội dung này tại Trường Cao đẳng Công chánh.
Các cột mốc quan trọng của trường[34]
1957 Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia Phú Thọ được thành lập, gồm 4 trường thành viên: Cao Đẳng Công Chánh, Cao Đẳng Điện Lực, Quốc  Gia Kỹ Sư Công Nghệ và Việt Nam Hàng Hải.
1972 Trung tâm được đổi tên thành Học Viện Kỹ Thuật Quốc Gia.

Khoa Kỹ thuật và Khoa Khoa học Cơ bản được thành lập.

1973 Học viện được đổi tên thành Trường Đại học Kỹ Thuật.
1976 Trường được mang tên Đại học Bách Khoa với 5 khoa chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Điện, Kỹ thuật Thủy lợi, Kỹ thuật Cơ khí và Kỹ thuật Hóa học.
1978 Khoa Địa chất được thành lập.
1990 Chương trình đào tạo sau Đại học được hình thành.
1991 Khoa Kỹ thuật Thủy lợi và Xây dựng được sát nhập thành khoa Kỹ thuật Xây dựng.
1992 Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập.
1993 Hệ thống đào tạo theo tín chỉ được áp dụng.

Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính được thành lập.

1996 Trường Đại học Bách Khoa trở thành thành viên của Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
1999 Khoa Kỹ thuật Môi trường được thành lập.
2000 Khoa Kỹ thuật Giao thông được thành lập.
2001 Khoa Công nghệ Vật liệu được thành lập.
2003 Khoa Khoa học Ứng dụng được thành lập.
2005 Trường Đại học Bách Khoa được chính phủ trao tặng danh hiệu “ Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới”.
2007 Trường Đại học Bách Khoa được chính phủ trao tặng “Huân chương Độc lập’

Thành tích đạt được[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Bách Khoa đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập hạng Ba (2002), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007) và Huân chương Độc lập hạng Nhất (2012) cùng với nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành, đoàn thể.

Đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Trong 10 năm gần đây đã đạt 208 giải Olympic trong đó có 31 giải nhất, 29 giải nhì, 72 giải ba. Đặc biệt sinh viên trường Đại học Bách khoa đã ba lần đạt chức vô địch Robocon châu Á - Thái Bình Dương năm 2002 (Nhật Bản), 2004 (Hàn Quốc) và 2006 (Malaysia).[35]

Năm 2017, trường đạt tiêu chuẩn AUN-QA do Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) đánh giá. Bộ tiêu chuẩn đánh giá cấp trường của AUN-QA được các chuyên gia hàng đầu trong ASEAN xây dựng gồm 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí, bao quát tất cả các lĩnh vực của một trường đại học như quản lý chiến lược, hệ thống, chức năng và kết quả hoạt động. Bộ tiêu chuẩn này tương thích với bộ tiêu chuẩn của Hoa Kỳchâu Âu. Đây là trường đại học thành viên đầu tiên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và là trường thứ hai trong cả nước được đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn AUN-QA, trường thứ tư được đánh giá trong toàn khu vực Đông Nam Á.[36]

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật nổi tiếng từng học tập và làm việc tại ĐH Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Nguyễn Thiện Nhân, Giáo sư, Tiến sĩ, Chính trị gia, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo từng là Phó Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh
  • Trương Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam
  • Lâm Du Sơn, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực Việt Nam
  • Trần Bá Dương, Chủ tịch Tập đoàn Ô tô Trường Hải Thaco
  • Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TpHCM
  • Nguyễn Thanh Mỹ, Tiến sĩ, Nhà phát minh, Doanh nhân, Chủ tịch Hãng American Dye Source, Inc., Chủ tịch Tập đoàn Mỹ Lan[37][38].
  • Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học Quốc gia TpHCM
  • Trần Quí Thanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Điều hành Tập đoàn Tân Hiệp Phát
  • Lê Trí Thông, Phó Tổng Giám đốc DongA Bank
  • Chi Bảo, Diễn viên Việt Nam

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Logo-hcmut.svg

Biểu trưng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Đức Ánh (Trưởng Khoa Mỹ thuật công nghiệp trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh) thiết kế. Và hiện nay có rất nhiều phiên bản khác nhau.

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Hiệu trưởng lúc đó là Phan Thị Tươi đã ký quyết định chọn mẫu biểu trưng chuẩn để sử dụng trong các hoạt động của trường.[39]

Biểu trưng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là một khối không gian 3 chiều. Tạo thành từ trung tâm là 1 hình lục giác đều nội tiếp vòng tròn. Cấu trúc theo kiến trúc của hình tổ ong (tổ ong được coi là một hình có kiến trúc đơn giản và khoa học). Tổ ong cũng có nghĩa là sự chăm chỉ, siêng năng, vững chắc và sáng tạo của Đại học Bách khoa. Các hình khối xung quanh tượng trưng cho các khoa của Bách khoa. Nhìn từng phần giống như là quyển sách. Màu sắc được hợp thành bởi 2 sắc độ của màu xanh. Biểu thị cho sự trang nhã, lịch sự thanh bình.

Quy tắc vẽ

Trung tâm biểu trưng: hình lục giác đều nội tiếp vòng tròn. Tất cả các cạnh bên đều bằng nhau và bằng bán kính của hình lục giác đều. Cạnh của các hình thoi tiếp giáp các cạnh của lục giác đều bằng cạnh của hình lục giác.

Màu sắc

Gồm có 2 màu không kể màu trắng ở giữa: màu xanh dương đậm (bảng màu RGB: R = 3, G = 43, B = 145) (#032B91) và màu xanh dương nhạt (R = 20, G = 136, B = 219) (#1488DB).

Nếu biểu trưng đặt trên một nền màu khác màu trắng thì nét của các cạnh biểu trưng được thể hiện bằng màu trắng để làm nổi bật hình biểu trưng trên nền đặt và không cần vẽ thêm đường viền.

Font chữ và màu sắc

Phông chữ BK Thành phố Hồ Chí Minh là phông Arial, canh giữa. Màu của chữ BK cùng màu với màu xanh dương đậm của biểu trưng (R = 3, G = 43, B = 145) (#032B91) và màu của chữ Thành phố Hồ Chí Minh cùng màu với màu xanh dương nhạt của biểu trưng (R = 20, G = 136, B = 219) (#1488DB).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bảng xếp hạng 49 đại học Việt Nam”. 
  2. ^ {{Chú thích web|url=https://www.4icu.org/vn/%7Ctitle=Top Universities in Vietnam
  3. ^ “Công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục”. 
  4. ^ “Công khai cam kết chất lượng giáo dục & chất lượng giáo dục thực tế”. 
  5. ^ đào tạo
  6. ^ Quy mô đào tạo
  7. ^ “Cổng thông tin Đào tạo SĐH”. 
  8. ^ “Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính - ĐH Bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]]”. Cse.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  9. ^ “Đại học bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]] - Khoa Điện Điện Tử”. Dee.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  10. ^ “Khoa Kỹ thuật Hóa Học”. Dch.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  11. ^ “Khoa Ky Thuat Xay Dung - DHBK Thành phố Hồ Chí Minh”. Dce.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  12. ^ “Khoa Cnvl - Đh Bk Tp Hcm”. Fmt.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  13. ^ “Your Page Title”. 
  14. ^ “Khoa Quản lý Công nghiệp - Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh”. Sim.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  15. ^ [1]
  16. ^ [2]
  17. ^ Điểm chuẩn tuyển sinh Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí
  18. ^ Chương trình chất lượng cao ngành Kỹ thuật dầu khí
  19. ^ Điểm trúng tuyển ĐH BK Tp.HCM 2017
  20. ^ điểm chuẩn năm 2016
  21. ^ Điểm chương trình Chất lượng cao Dầu khí
  22. ^ điểm chuẩn năm 2015
  23. ^ http://oisp.hcmut.edu.vn/tin-tuc/diem-chuan-dau-vao-dh-bach-khoa-qua-cac-nam.html
  24. ^ http://www.geopet.hcmut.edu.vn/
  25. ^ “Trung Taâm Nghieân Cöùu Thieát Bò Nhieät Va Ønaêng Löôïng Môùi”. Rectere.hcmut.edu.vn. Ngày 18 tháng 1 năm 1986. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  26. ^ “Home”. Rptc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  27. ^ “Trang chủ”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  28. ^ “It works!”. Flc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  29. ^ [3]
  30. ^ [4]
  31. ^ [5]
  32. ^ [6]
  33. ^ [ [7]
  34. ^ “Lịch sử hình thành và phát triển của Trường Đại học Bách Khoa”. 
  35. ^ Thành tích của Trường
  36. ^ “Trường đầu tiên của ĐHQG TP.HCM được đánh giá ngoài bởi AUN”. 
  37. ^ “Doanh nhân – TS. Nguyễn Thanh Mỹ - Chủ tịch Tập đoàn Mỹ Lan”. 
  38. ^ “Tiến sĩ ngành năng lượng vật liệu Nguyễn Thanh Mỹ-Cậu bé bán kem thành nhà triệu phú”. 
  39. ^ Quy định số 521 /ĐHBK-CTCT-SV về việc chuẩn hóa logo trường

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]