Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Bách khoa
HCMUT official logo.png
Viết tắtHCMUT
Tên bản địaBách Khoa
Tên tiếng AnhHo Chi Minh City University of Technology
Tên khácQSB (mã trường)
Khẩu hiệuGiỏi chuyên môn - Vững chính trị - Sáng tâm hồn - Khỏe thể chất
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học kỹ thuật hệ công lập
Thành lập29 tháng 6 năm 1957; 63 năm trước (1957-06-29)
Thành viên củaĐại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởngPGS. TS. Mai Thanh Phong
Thông tin khác
Địa chỉ268 Lý Thường Kiệt, phường 14, Quận 10
Vị tríThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tọa độ10°46′24″B 106°39′34″Đ / 10,7732674°B 106,659466°Đ / 10.7732674; 106.659466Tọa độ: 10°46′24″B 106°39′34″Đ / 10,7732674°B 106,659466°Đ / 10.7732674; 106.659466
MàuXanh da trời     , Xanh nước biển      [1]
Linh vậtCá mập xanh
Websitewww.hcmut.edu.vn
Xếp hạng
Xếp hạng quốc gia
QS(2020)1[2]
uniRank(2020)3[3]
Xếp hạng châu Á
QS(2020)143[4]
Xếp hạng thế giới
QS(2020)701 - 750[4]

Trường Đại học Bách khoa (Ho Chi Minh City University of Technology) là trường đại học chuyên ngành kỹ thuật đầu ngành tại Việt Nam, thành viên của hệ thống Đại học Quốc gia, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam. Tiền thân là Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia được thành lập từ năm 1957, đến ngày 27/10/1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Quyết định số 426/TTg đổi tên trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ thành trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957: Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia được thành lập theo sắc lệnh số 213/GD ngày 29/6/1957 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, gồm 4 trường thành viên: Cao đẳng Công Chánh, Cao đẳng Điện lực, Quốc gia Kỹ sư Công nghệ và Việt Nam Hàng hải.

Năm 1972: Trung tâm được đổi tên thành Học viện Kỹ thuật Quốc gia. Khoa Kỹ thuật và Khoa Khoa học Cơ bản được thành lập.

Năm 1973: Học viện được đổi tên thành Trường đại học Kỹ thuật.

Năm 1976: Trường được mang tên Đại học Bách khoa với 5 khoa chuyên ngành: Xây dựng, Điện-Điện tử, Thủy lợi, Cơ khí và Hóa học.

Năm 1978: Khoa Địa chất được thành lập.

Năm 1980: Trường bắt đầu đào tạo bậc Tiến sĩ theo quyết định số 319-TTg ngày 17/12/1980 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Giao nhiệm vụ đào tạo trên đào tạo trên đại học cho trường Đại học Bách Khoa TP.HCM” với 20 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ.

Năm 1991: Bắt đầu đào tạo cao học.

Năm 1991: Khoa Kỹ thuật Thủy lợi và Xây dựng được sáp nhập thành khoa Kỹ thuật Xây dựng.

Năm 1992: Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập.

Năm 1993: Hệ thống đào tạo theo tín chỉ được áp dụng. Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính được thành lập. Bộ môn Mỹ thuật Công nghiệp trực thuộc BGH đầu tiên ở phía Nam được thành lập.

Năm 1996: Trường Đại học Bách Khoa trở thành thành viên của Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. Bộ môn Mỹ thuật Công nghiệp chuyển về Trường Đại học Kiến Trúc do cấu trúc tổ chức Đại học Quốc gia TpHCM.

Năm 1999: Khoa Kỹ thuật Môi trường được thành lập.

Năm 2000: Khoa Kỹ thuật Giao thông được thành lập.

Năm 2001: Khoa Công nghệ Vật liệu được thành lập.

Năm 2003: Khoa Khoa học Ứng dụng được thành lập.

Tiềm lực[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2020, trường trên 930 giảng viên. Trong đó có 11 giáo sư, 137 phó giáo sư, trên 276 tiến sĩ, trên 443 thạc sĩ và 98 giảng viên có trình độ đại học.[5]

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chương trình đại trà
  • Chương trình chất lượng cao
  • Kỹ sư tài năng

Các sinh viên trong chương trình kỹ sư tài năng được tuyển chọn từ những sinh viên có điểm số cao nhất có nguyện vọng ở chương trình đào tạo chính quy bình thường sau năm I hoặc năm II và được sàng lọc qua từng học kỳ. Những sinh viên thuộc chương trình Tài năng được tách riêng thành 1 lớp (sĩ số khoảng 35 sinh viên/lớp) với điều kiện học tập tốt hơn lớp thường, do giảng viên đầu ngành trong Khoa giảng dạy, bài tập và đề thi đòi hỏi cao hơn, một số môn học và thi hoàn toàn bằng tiếng Anh. Bằng tốt nghiệp của các lớp này khác với chương trình chính quy thông thường.[6]

Hiện nay chương trình đào tạo kỹ sư tài năng bao gồm các ngành: Điều khiển tự động, Kỹ thuật Điện và Điện tử - Viễn thông (Khoa Điện-Điện tử); Cơ khí chế tạo máy, Cơ điện tử (Khoa Cơ khí); Khoa học và Kỹ thuật Máy tính (Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính); Xây dựng dân dụng công nghiệp, Xây dựng Cầu- Đường (Khoa Kỹ thuật Xây dựng); Kỹ thuật Hóa học (Khoa Kỹ thuật Hóa học).

Nhưng từ sau khóa 2017, chương trình kĩ sư tài năng không còn nhiều khác biệt với chuơng trình đại trà. Sinh viên tài năng không còn được học lớp riêng mà phải học chung với chương trình đại trà và không còn được hưởng học bổng mỗi kì. Điểm khác biệt duy nhất so với chương trình đại trà là học phần mở rộng. Sinh viên tài năng phải làm nhiều bài tập hơn với độ khó nâng cao so với sinh viên đại trà. Sinh viên tài năng muốn ở lại chương trình phải thỏa mãn điều kiện trung bình môn trên 7.5 và trung bình học kì trên 7.

  • Kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp (PFIEV)

Đây là một chương trình đào tạo đại học được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Đại sứ quán Pháp. Chương trình mở khóa đầu tiên vào năm học 1999–2000 ở 4 trường đại học hàng đầu Việt Nam. Hiện nay, chương trình đang có 12 ngành đào tạo.

Khác với các chương trình khác của Trường, chương trình PFIEV đào tạo theo hệ niên chế với thời gian là 5 năm có số lượng ngành và sinh viên PFIEV nhiều nhất cả nước. Sinh viên muốn theo chương trình PFIEV phải đăng ký ngay sau khi trúng tuyển vào trường và được tuyển chọn dựa vào kết quả thi đại học (Toán x3, Lý x2, Hóa x1). Kết quả đầu vào không yêu cầu tiếng Pháp nhưng trong quá trình học sinh viên phải học cả hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp. Chương trình PFIEV rất nặng so với chương trình đào tạo thông thường nên nếu sinh viên không thích nghi được với chương trình có thể xin rời khỏi lớp sau năm I và trở lại chuyên ngành đã đăng ký lúc tuyển sinh.

Hiện tại trường đang dạy 7 ngành: hệ thống năng lượng, viễn thông,xây dựng dân dụng và năng lượng, hàng không, cơ điện tử, vật liệu tiên tiến polyme và composit.[7]

Sau đại học:[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình đào tạo thạc sĩ được thiết kế trên 2 hình thức, gồm hình thức nghiên cứu - research và hình thức ứng dụng - coursework. Có 2 hình thức đào tạo, gồm

  • Hình thức đào tạo thạc sĩ hệ nghiên cứu (research), chương trình đào tạo sẽ gồm 5 tín chỉ cho các khối kiến thức chung (Triết học và Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Nâng cao), 10 tín chỉ các môn học tự chọn và 30 tín chỉ thực hiện luận văn thạc sĩ.
  • Hình thức ứng dụng (coursework), chương trình đào tạo gồm 7 tín chỉ cho khối kiến thức chung (Triết học, Kỹ năng lãnh đạo -Leadership và Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp -Innovation & Entreupreunership), 12 tín chỉ cho khối kiến thức bắt buộc và 13 tín chỉ khối kiến thức tự chọn và luận văn tốt nghiệp - 15 tín chỉ.

Đào tạo Tiến sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, Trường Đại học Bách khoa có 30 ngành đào tạo tiến sĩ. Các ứng viên phải đạt yêu cầu xét tuyển sinh được tổ chức 2 lần trong một năm cộng với trình độ Anh văn  TOEFL ITP 500, TOEFL iBT 61, TOEIC 600, IELTS 5,5 hoặc trình độ tương đương.

Để tốt nghiệp, nghiên cứu sinh phải hoàn tất luận án trong khoảng thời gian tối thiểu 3 năm nghiên cứu tập trung. Luận văn phải được bảo vệ thành công trước các  hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ.

Các khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học và Kỹ thuật máy tính

Khoa Khoa học & Kỹ thuật Máy Tính

Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính được thành lập năm 1978 với tên là Bộ môn Điện toán thuộc khoa Điện - Điện tử. Năm 1985, khoa được tách ra thành Trung tâm điện toán và đến năm 1993 là Khoa Công nghệ Thông tin. Năm 2007, khoa được tái cơ cấu lại thành khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính.[8] Hiện khoa tổ chức thành 2 chuyên ngành với 5 bộ môn:

Khoa Điện - Điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Điện - Điện tử

Khoa Điện - Điện tử được thành lập từ năm 1957.[9] Cho đến nay, Khoa đào tạo 3 chuyên ngành với tất cả bảy bộ môn:

Khoa Cơ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Cơ khí

Là một trong những khoa thành lập đầu tiên của trường (1956, trên nền trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ). Năm 1976, khoa có tên chính thức là Khoa Cơ khí. Các bộ môn của khoa gồm: Cơ điện tử, Chế tạo máy, Thiết kế máy, Công nghệ nhiệt lạnh, Cơ giới hoá xí nghiệp & Xây dựng, Kỹ thuật điều khiển tự động (nay là Cơ điện tử), Thiết bị & công nghệ vật liệu Cơ khí, Kỹ thuật hệ thống công nghiệp, Kỹ thuật dệt may.

Khoa Kỹ thuật Hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kỹ thuật Hoá học tiền thân là Trường Cao đẳng Hoá học thuộc Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia Phú Thọ, được thành lập từ năm 1962. Sau tháng 4 năm 1975 được đổi tên là Khoa Kỹ thuật Hoá học.[10]

Khoa Kỹ thuật Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Khoa Kỹ thuật Xây dựng là Trường Cao đẳng Công chánh được thành lập năm 1902 tại Hà Nội. Trường Cao đẳng Công chánh là một trong bốn trường thành viên đầu tiên của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ. Năm 1976, chính thức trở thành khoa Kỹ thuật Xây dựng. Hiện nay, khoa có 7 chuyên ngành: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Xây dựng Cầu Đường, Cảng và công trình biển, Vật liệu xây dựng, Thủy lợiThủy điệnCấp thoát nước, Trắc địaĐịa chính, Kiến trúc.[11]

Khoa Công nghệ Vật liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Công nghệ Vật liệu được thành lập năm 2001 với các chuyên ngành đào tạo: Vật liệu Kim loại và Hợp kim, Vật liệu Polymer, Vật liệu Silicat, Vật liệu Năng lượng & Ứng dụng.[12]

Khoa Khoa học Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học Ứng dụng được thành lập vào năm 2003, hiện có 4 bộ môn: Vật lý Kỹ thuật y sinh, Vật lý Ứng dụng, Toán Ứng dụng, Cơ Kỹ thuật, đào tạo 2 chuyên ngành: Vật lý kỹ thuật, Cơ kỹ thuật.[13]

Khoa Quản lý Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập năm 1990. Hiện nay khoa này có 2 ngành là Quản lý Sản xuất & Dự án và Quản trị Kinh doanh với 4 bộ môn: Hệ thống Thông tin Quản lý và Khoa học Ra quyết định, Quản lý Sản xuất và Điều hành, Tiếp thị và Quản lý, Tài chính.[14]

Khoa Môi trường và Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Khoa Môi trường hiện nay là Bộ môn Kỹ thuật môi sinh thuộc Khoa Xây dựng được thành lập vào năm 1981. Đến ngày 28 tháng 9 năm 1999, Bộ môn chính thức trở thành Khoa Môi trường. Năm 2014, khoa được đổi tên thành khoa Môi trường và Tài nguyên.

Khoa Môi trường và Tài nguyên hiện nay gồm 5 bộ môn:

  • Bộ môn Kỹ thuật Môi trường
  • Bộ môn Quản lý Môi trường
  • Bộ môn Hệ thống Thông tin Môi trường và Tài nguyên
  • Bộ môn An toàn, sức khỏe và môi trường
  • Bộ môn Khoa học và Công nghệ nước.[15]

Khoa Kỹ thuật Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, khoa Kỹ thuật Giao thông được thành lập do sự hợp nhất của 3 ngành: Kỹ thuật Ô tô - Máy động lực, Kỹ thuật Tàu thủyKỹ thuật Hàng không.[16]

Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân là khoa Địa chất, được thành lập năm 1978. Qua nhiều năm phát triển và thêm nhiều chuyên ngành, năm 2004, khoa có tên chính thức là Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí. Khoa đào tạo các chuyên ngành: Địa chất môi trường, Địa kỹ thuật, Địa chất dầu khí, Địa chất khoáng sản, Khoan và khai thác dầu khí.[17]

Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu Khí hiện tại có 4 bộ môn:

  • Bộ môn Địa kỹ thuật
  • Bộ môn Tài nguyên Trái đất và Môi trường
  • Bộ môn Địa chất Dầu Khí
  • Bộ môn Khoan và Khai thác dầu khí

Trung tâm trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Kỹ thuật xây dựng;
  • Trung tâm Thiết bị nhiệt và năng lượng mới;[18]
  • Trung tâm Nghiên cứu lọc hóa dầu;[19]
  • Trung tâm Bồi dưỡng Kỹ thuật Văn hóa Bách Khoa;[20]
  • Trung tâm Ngoại ngữ[21];
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Silicat;
  • Trung tâm Kỹ thuật điện toán;[22]
  • Trung tâm Du học;[23]
  • Trung tâm Đào tạo bảo dưỡng công nghiệp;[24]
  • Trung tâm Công nghệ thông tin địa lý;[25]
  • Trung tâm Chuyển giao công nghệ;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mới;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Polymer;
  • Trung tâm BR&T;[26]
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mài cao cấp.

Thành tích đạt được[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Bách khoa đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập hạng Ba (2002), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007) và Huân chương Độc lập hạng Nhất (2012) cùng với nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành, đoàn thể.

Đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Trong 10 năm gần đây đã đạt 208 giải Olympic trong đó có 31 giải nhất, 29 giải nhì, 72 giải ba. Đặc biệt sinh viên trường Đại học Bách khoa đã ba lần đạt chức vô địch Robocon châu Á - Thái Bình Dương năm 2002 (Nhật Bản, năm đầu tiên tổ chức), 2004 (Hàn Quốc) và 2006 (Malaysia).[27]

Năm 2014, trường đạt tiêu chuẩn kiểm định ABET ở 2 ngành Khoa học máy tính và Kỹ thuật Máy tính. Trở thành trường đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đạt chuẩn kiểm định ABET.

Năm 2017, trường đạt tiêu chuẩn AUN-QA do Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) đánh giá. Bộ tiêu chuẩn đánh giá cấp trường của AUN-QA được các chuyên gia hàng đầu trong ASEAN xây dựng gồm 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí, bao quát tất cả các lĩnh vực của một trường đại học như quản lý chiến lược, hệ thống, chức năng và kết quả hoạt động. Bộ tiêu chuẩn này tương thích với bộ tiêu chuẩn của Hoa Kỳchâu Âu. Đây là trường đại học thành viên đầu tiên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và là trường thứ hai trong cả nước được đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn AUN-QA, trường thứ tư được đánh giá trong toàn khu vực Đông Nam Á.[28]

Ngoài ra, trường là đơn vị có số lượng chương trình đạt chuẩn kiểm định quốc tế nhiều nhất trên phạm vi toàn quốc với 29 chương trình đạt chuẩn quốc tế (HCERES, ABET, CTI, FIBAA, ...)[29].

Cựu sinh viên nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “LOGO_DHBK”. Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM. 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ https://www.topuniversities.com/universities/viet-nam-national-university-ho-chi-minh-city-vnu-hcm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  3. ^ “2018 Vietnamese University Ranking”. 
  4. ^ a ă “Vietnam National University - Ho Chi Minh City (VNU-HCM)”. Top Universities. 
  5. ^ “Công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục”. 
  6. ^ đào tạo
  7. ^ Quy mô đào tạo
  8. ^ “Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính - ĐH Bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]]”. Cse.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  9. ^ “Đại học bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]] - Khoa Điện Điện Tử”. Dee.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  10. ^ “Khoa Kỹ thuật Hóa Học”. Dch.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  11. ^ “Khoa Ky Thuat Xay Dung - DHBK Thành phố Hồ Chí Minh”. Dce.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  12. ^ “Khoa Cnvl - Đh Bk Tp Hcm”. Fmt.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  13. ^ “Your Page Title”. 
  14. ^ “Khoa Quản lý Công nghiệp - Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh”. Sim.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  15. ^ [1]
  16. ^ [2]
  17. ^ http://www.geopet.hcmut.edu.vn/
  18. ^ “Trung Taâm Nghieân Cöùu Thieát Bò Nhieät Va Ønaêng Löôïng Môùi”. Rectere.hcmut.edu.vn. Ngày 18 tháng 1 năm 1986. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  19. ^ “Home”. Rptc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  20. ^ “Trang chủ”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  21. ^ “It works!”. Flc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  22. ^ “Website Trung Tâm Kỹ Thuật Điện Toán Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh”. 
  23. ^ “Website Trung Tâm Du học Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh”. 
  24. ^ [3]
  25. ^ [4]
  26. ^ “Business Research and Training Center (BR&T)”. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2021. 
  27. ^ Thành tích của Trường
  28. ^ “Trường đầu tiên của ĐHQG TP.HCM được đánh giá ngoài bởi AUN”. 
  29. ^ “CHÚ THÍCH”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]