Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh
Logo of University of Architecture Ho Chi Minh City.png
Tên gọi khác Đại học Kiến trúc Sài Gòn.
Biệt danh HCMUArc hoặc UAH
Thành lập 27 tháng 10 năm 1976
Loại hình Đại học kỹ thuật
Hiệu trưởng TS. Lê Văn Thương
Giảng viên 307 người
Sinh viên Khoảng 6850 người
Địa chỉ 196 Pasteur, Quận 3
Vị trí Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại +84 0283 822 2748
Website uah.edu.vn

Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: University of Architecture Ho Chi Minh City) là một trong ba trường Đại học công lập đứng đầu về đào tạo nhóm ngành thiết kế, kiến trúc, xây dựng và quy hoạch tại miền nam Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm nghiên cứu các chính sách quy hoạch vùng và đô thị cho Chính phủ. Trường trực thuộc Bộ Xây dựng.

Bắt đầu từ năm 2010, trường mở rộng thêm cơ sở đào tạo tại Đà Lạt và Cần Thơ. Giảng viên được điều chuyển trực tiếp từ cơ sở TP. HCM để có thể đảm bảo chất lượng dạy học tại hai cơ sở này.[1]

Cổng trường Đại học Kiến trúc TP. HCM tại cơ sở Pasteur
Sảnh chính của trường

Mục lục

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn.
Ghi chú: Thời Pháp thuộc tại Đông Dương chỉ có Ban Kiến trúc thuộc trường Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts) tại Hà Nội đào tạo ngành kiến trúc, lập ra năm 1926.

Năm 1924: Trường Mỹ thuật Đông Dương (''École des Beaux-Arts'') được thành lập tại Hà Nội theo nghị định của Toàn quyền Đông dương.

Năm 1926: Ban Kiến Trúc trực thuộc trường Mỹ thuật Đông Dương được hình thành.

Năm 1942: Trường Mỹ thuật Đông Dương phân ra thành trường Mỹ nghệ thực hành Hà Nội và trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương. Theo nghị định ngày 02/02/1942, Ban Kiến Trúc được nâng lên thành trường Kiến Trúc vẫn trực thuộc trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Năm 1944: Trường Cao đẳng Kiến trúc được hợp nhất vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia Paris. Do hoàn cảnh chiến tranh nên dời về Đà Lạt với tên gọi trường Kiến trúc Đà Lạt.

Cuối năm 1948: Trường Kiến trúc Đà Lạt được hợp nhất vào Viện Đại học Đông Dương với tên gọi mới là trường Cao đẳng Kiến trúc.

Năm 1950: Trường Cao đẳng Kiến trúc trực thuộc Viện đại học Hà Nội và chuyển về Sài Gòn.

Năm 1967: Viện đại học Hà Nội tại miền nam Việt Nam được đổi tên thành Viện đại học Sài Gòn và trở thành trường Đại học Kiến trúc.

Tháng 4/1975: Ban Quân quản tiếp nhận trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn.

Ngày 27/10/1976: Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 426/TTg ngày 27/10/1976 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 14/12/1976: Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh được chuyển về Bộ Xây dựng.

Từ năm 1995 đến 2000: Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, trường Đại học Kiến trúc là thành viên của Đại học Quốc gia TP. HCM trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Cuối năm 2000: Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh được tách ra khỏi Đại học Quốc gia TP. HCM và trở thành trường độc lập.

Từ năm 2002: Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Xây dựng.

Đến năm 2010: Trường bắt đầu tuyển sinh ở cơ sở Cần ThơĐà Lạt.

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học chương trình đại trà[sửa | sửa mã nguồn]

* Lưu ý mỗi ngành đều có điểm hay riêng, người học không nên vì cái danh của một ngành nghề mà chọn hay định kiến của xã hội về một ngành nghề mà bỏ chọn nó, mà nên chọn dựa theo đam mê và năng lực của bản thân.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Người học nhóm ngành này cần nhận thức đúng về đạo đức nghề nghiệp khi nhóm ngành này ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại của người dân và tốc độ phát triển kinh tế của cả một vùng.

Ngành Quy hoạch vùng và đô thị:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiết kế, sắp xếp cảnh quan trong đô thị để làm đẹp đô thị và giảm thời gian đi lại của người dân để thúc đẩy phát triển kinh tế trong một vùng hoặc đô thị. Chương trình học chú trọng vào sắp xếp trật tự đô thị hơn là làm đẹp môi trường, cảnh quan.
  • Người học cần tận tâm học để biết cách "chia đường, xẻ lối" để phục vụ tốt nhất cho cuộc sống người dân.
  • Người ra trường ngành này thích hợp làm nhà nước hơn tư nhân.

Ngành Kiến trúc cảnh quan:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiết kế, sắp xếp môi trường, cảnh quan trong một không gian sống nhất định, gần giống với ngành "Quy hoạch vùng và đô thị" nhưng đào tạo chú trọng vào làm đẹp môi trường, cảnh quan hơn sắp xếp trật tự đô thị để phục vụ việc đi lại của người dân.
  • Người học có thể học ngành “Mỹ thuật đô thị” nếu muốn học chuyên về trang trí trong đô thị.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức thiết kế, trang trí công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Người học nhóm ngành này nên học thêm các khoá bổ trợ để bổ sung kiến thức cho mình. Ngoài ra nếu người học là người có ước mơ lớn và muốn phát triển lâu dài hoặc nên chú trọng xây dựng mối quan hệ với các chủ doanh nghiệp nếu có định hướng làm thuê chuyên nghiệp (nhắm đến các chức vụ từ phó giám đốc trở lên) hoặc nên chú trọng liên kết với những người bạn học để tạo thành nhóm mở công ty sau khi ra trường.

Ngành Mỹ thuật đô thị:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo cử nhân chuyên thiết kế công trình để làm đẹp đô thị từ đô thị nhỏ cho đến đô thị lớn. Đào tạo chú trọng vào sự sáng tạo không giới hạn theo các nguyên tắc có sẵn.
  • Ngành học được tách ra từ ngành "Kiến trúc cảnh quan" và có kết hợp kiến thức của ngành “Nội thất” và có bổ sung kiến thức về điêu khắc.

Ngành Tạo dáng (Thiết kế công nghiệp):[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiết kế hình dạng và trang trí đồ công nghiệp, từ những thứ đơn giản ((ví dụ các công ty Việt có người trong bộ phận thiết kế là cựu sinh viên) nhẫn và dây chuyền PNJ, vỏ bịch bánh Bibica, vỏ chai dầu gội X-Men) đến siêu phức tạp đòi hỏi phải liên kết cùng với bộ phận kỹ thuật (ví dụ điện thoại BPhone; tivi Asanzo; ô tô Vinfast, Trường Hải).

Ngành Thiết kế đồ họa:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo chuyên về thiết kế hình ảnh hoặc mô hình 2D và 3D không bao gồm cử động nhân vật.
  • Ngành học này đáp ứng cho rất nhiều mảng. Người học có thể từng bước mở công ty thiết kết web, bao bì sản phẩm hoặc mở xưởng vẽ phim hoạt hình hoặc vẽ truyện tranh, cũng có thể thành lập công ty chuyên một mảng trong sản xuất phim, ví dụ chuyên về hiệu ứng phim.

Ngành Thiết kế thời trang:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chương trình học chú trọng vào thiết kế hình dáng trang phục, phụ kiện và trang trí trang phục trước và sau khi đã tạo được khung trang phục. Có đào tạo may ở mức trung cấp.
  • Người học có ba hướng phát triển hoặc làm người thiết kế chuyên nghiệp hoặc mở xưởng chuyên gia công hoặc xưởng chuyên thiết kế thời trang ở các phân khúc từ tầm thấp, tầm trung đến cận cao cấp và cao cấp. Lưu ý phân khúc hay thị trường nào cũng có nhóm khách hàng riêng của nó. Người học nên chọn thị trường ngách để tạo nên thế mạnh của xưởng của mình.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình học nhóm ngành này nặng về môn toán và lý, đặc biệt ngành "Xây dựng". Người học nhóm ngành này cần tận tâm học vì chương trình học rất khó.

Ngành Xây dựng (Kỹ thuật xây dựng dân dụng và công nghiệp):[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo chú trọng vào tính toán kết cấu và nền móng trong công trình dân dụng cũng như công nghiệp.

Ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xây dựng, tư vấn lắp đặt công trình phụ trợ làm tăng vẻ đẹp (ví dụ đèn treo, đài phun nước) hoặc tiện nghi (ví dụ cống thoát nước hay thang máy) cho công trình.
  • Chương trình học được xây dựng trọng tâm từ ngành "Xây dựng" và kết hợp với chương trình đào tạo ngành "Kiến trúc cảnh quan" của trường (có thiết kế và trang trí mô hình).

Ngành đào tạo kiến thức quản trị công ty xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành Quản trị xây dựng (Quản lý xây dựng):[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành học này chỉ thích hợp cho người học muốn mở công ty liên quan đến xây dựng (ví dụ mở công ty chuyên đào hầm hay chuyên đúc bê tông hay công ty chuyên xây dựng nhà mái vòm), hoặc người quản lý hay chủ doanh nghiệp muốn nâng cao kiến thức của mình để tạo sự khác biệt so với những người không học.
  • Ngành học đào tạo rất rộng, được xây dựng từ 35% kiến thức của ngành “Xây dựng”, 10% ngành "Kỹ thuật cơ sở hạ tầng", 5% ngành “Kiến trúc” và 5% ngành "Quy hoạch vùng và đô thị" và có kết hợp với kiến thức về kinh tế gồm 20% kiến thức về tài chính, 25% kiến thức về chiến lược quản trị dành cho các cấp lãnh đạo của công ty. Chương trình học được đánh giá là nặng khi chương trình học bị phân nhiều mảng để cho người học có kiến thức rộng, vì người làm chủ cần có tầm nhìn tổng quát để có làm tốt việc điều hành ở nhiều mảng trong một công ty chứ không cần kiến thức chuyên môn để làm tốt một việc.
  • Do vậy, ngành học này không dành cho số đông, người học cần nghiêm túc xem xét trước khi chọn ngành này, không nên ảo tưởng về ý chí, khả năng tài chính cũng như năng lực của mình, vì người học sẽ khó lòng làm một nhân viên tốt với kiến thức rộng của một người làm chủ, sẽ khó thăng tiến trong sự nghiệp.
  • Người học ngành này nếu là người có ước mơ lớn và muốn phát triển lâu dài nên chú trọng xây dựng mối quan hệ với những người bạn học để liên kết tạo thành nhóm mở công ty sau khi ra trường.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Người học nhóm ngành này nếu là người có dự tính lâu dài cho bản thân có hai hướng để phát triển ngày khi vừa mới vào trường: hoặc là người thiết kế chuyên nghiệp hoặc mở công ty. Và có hai lối thiết kế nhà người học nên chọn ngay từ đầu để dồn sức học chuyên tâm là: hoặc là thiết kế theo lối tối giản, hoặc là thiết kế theo lối cổ điển.

Toàn bộ môn học về kết cấu được lấy từ ngành "Xây dựng" của trường, rất khó.

Ngành Kiến trúc:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo chú trọng vào thiết kế bản vẽ, tính tiện dụng và ngoại hình của công trình.
  • Trường không dạy người học thiết kế nhà theo kiểu rập khuôn mà đề cao sự tư duy theo các nguyên tắc.

Ngành Thiết kế nội thất:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chương trình học gần giống với ngành "Kiến trúc" nhưng thiên hướng trang trí hơn thiết kế. Đào tạo trang trí nội - ngoại thất của công trình và thiết kế, trang trí đồ trang trí nội - ngoại thất. Đào tạo chú trọng vào cách phối màu.
  • Người học ngành này nếu định hướng mở công ty sẽ hay hơn là làm người thiết kế chuyên nghiệp vì kiến thức ngành này chuyên về giai đoạn hoàn thiện công trình, cụ thể mở công ty hoàn thiện công trình. Ngoài ra, người học ngành này có thể đi xin việc hoặc mở xưởng sản xuất đồ nội - ngoại thất hoặc công ty trang trí nội - ngoại thất công trình.

Chương trình học song bằng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sinh viên được đăng ký vào cuối mỗi học kỳ một hằng năm sau khi trường có thông báo.
  • Sinh viên phải có điểm trung bình các học kỳ (điểm trung bình tích luỹ) ≥ 2.0, phòng đào tạo xem xét dựa trên điểm từng môn học, sức khoẻ của sinh viên và khả năng tài chính của gia đình, sẽ tuyển thẳng nếu sinh viên có điểm trung bình các học kỳ ≥ 2,5.
  • Ngành thứ hai phải cùng khối thi Đại học với ngành thứ nhất.
  • Chỉ áp dụng cho chương trình đại trà.
  • Sinh viên cần nghiêm túc xem xét khả năng học của mình, nếu ảo tưởng có thể ảnh hưởng đến ngành chính của mình.
  • Người học cũng nên lưu ý, nếu người học có định hướng làm thuê chuyên nghiệp hoặc đi làm một khoảng thời gian mới khởi nghiệp thì không nên đăng ký học song bằng vì nhóm người này không cần kiến thức tổng quát. Nếu không thì công sức học ngành thứ hai sẽ lãng phí. Ngoại trừ sinh viên cần kiến thức tổng quát để khởi nghiệp ngay sau khi ra trường, và vì không thể thuê nhiều người nên phải ôm đồm nhiều việc, ví dụ người học Mỹ thuật đô thị, Tạo dáng hay Thiết kế thời trang có thể học thêm ngành Thiết kế đồ họa để thiết kế ứng dụng cho khách thử trải nghiệm sản phẩm trong không gian ảo trước khi chọn sản phẩm.

Chương trình chất lượng cao, đổi mới, chương trình tiên tiến, chương trình liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Người học có thể đăng ký để nâng cao chất lượng đào tạo. Gồm các ngành:

  • Ngành Công nghệ kiến trúc và quản trị xây dựng.
  • Ngành Thiết kế đồ hoạ.
  • Ngành Tạo dáng.
  • Ngành Thiết kế nội thất.
  • Ngành Thiết kế đô thị.

Các chương trình đào tạo trình độ Sau Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Dành cho người học muốn nâng cao kiến thức cũng như tư duy của mình.

Thạc sĩ:

  • Thạc sĩ Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
  • Thạc sĩ Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Thạc sĩ Quản lý đô thị và công trình.

Tiến sĩ:

  • Tiến sĩ Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Tiến sĩ Kiến trúc.
Điểm chuẩn đầu vào Đại học Kiến trúc (tương ứng cơ sở chính | cơ sở Cần Thơ | cơ sở Đà Lạt)
Năm Xây dựng Kỹ thuật cơ sở hạ tầng Kiến trúc Tạo dáng Quy hoạch vùng và đô thị Thiết kế đồ họa Thiết kế nội thất Kiến trúc cảnh quan Thiết kế thời trang
2015 21,75 15,5 15,5 20,75 21,75 17,75 16,5 17,75 19,25 20,25 20,75 15,75 19,75 18,25
2016 20 15,5 15 17 20,75 16,5 15 19,5 18,25 20,75 20,75 15,25 19,5 20,25
2017 21,5 16,5 15,5 18 23,5 20,5 18,5 22 20,75 23,25 23 17 21,75 23,75

* Màu xanh lá đại diện cho ngành có điểm cao nhất miền nam Việt Nam, màu hồng đại diện cho ngành cao thứ nhì miền nam Việt Nam.

* Màu tím nhạt đại diện cho ngành có điểm cao nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long hoặc Duyên hải Nam Trung Bộ.

* Ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng là ngành mới, trường hiện tại là 1 trong 2 trường ở miền nam Việt Nam đào tạo ngành này bên cạnh Đại học Bách khoa TP. HCM.

Cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước Đại học Kiến trúc cơ sở phụ Đặng Văn Bi

Tại Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cơ sở Pasteur: 196 Pasteur, quận 3, có diện tích đất 6600 m²
  • Cơ sở Nguyễn Đình Chiểu: 134 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, có diện tích 432 m²
  • Cơ sở Đặng Văn Bi: 48 Đặng Văn Bi, quận Thủ Đức
    Với khuôn viên 12.000 m² [2], cơ sở này do khoa Kiến trúc của trường kết hợp với công ty Truong An Architecture thiết kế theo lối kiến trúc hiện đại gồm những hình học đơn giản kết hợp lại với nhau. Cơ sở này được thiết kế năm 2006, đưa vào sử dụng từ năm 2013 nhưng chính thức hoàn thành xây dựng năm 2015.[3][4]
  • Ký túc xá: cư xá Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh (diện tích 445m²).

Thông tin về cơ sở tại miền tây và nam trung bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng tốt nghiệp Đại học tại hai cơ sở này được cấp giống với cơ sở TP. HCM vì vậy trường phải ra sức đảm bảo chất lượng đào tạo và chất lượng đầu ra ở hai cơ sở này nhằm đảm bảo thương hiệu đào tạo của trường. Trường khuyến khích sinh viên đăng ký ở hai cơ sở này để tiện cho việc đi lại và tiết kiệm chi phí ăn ở của sinh viên đồng thời để giảm tải cơ sở TP. HCM vì trường hiện tại không còn phòng trống để mở thêm phòng nghiên cứu cũng như một số phòng chức năng. Giảng viên được điều chuyển hoàn toàn từ cơ sở thành phố Hồ Chí Minh về hai cơ sở này từ năm 2011.

Thông tin về cơ sở Cần Thơ:

  • Cơ sở 201 Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
  • Cơ sở phụ tận dụng cơ sở vật chất của trường Đại học Đồng bằng sông Cửu Long, khu đô thị Hoàng Quân phường Thường Thạnh, quận Cái Răng.

Trước 2010, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh mở cơ sở giảng dạy tại Vĩnh Long và mượn cơ sở vật chất của trường Cao đẳng xây dựng miền Tây. Lúc này trường chỉ đào tạo hệ vừa học vừa làm Tây Nam Bộ. Đến năm 2010, trường chính thức tuyển sinh chính quy khóa đầu tiên.

Năm 2011 Trường Cao đẳng xây dựng miền Tây nâng cấp lên thành Trường Đại học Xây dựng miền Tây, cơ sở Vĩnh Long được chuyển qua Cần Thơ. Trước năm 1975, nơi này là kho đạn và trại ngựa của quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Đến năm 2018, trường mở thêm cơ sở 2 tại Cần Thơ, cách cơ sở 1 17 km.

Thời gian đào tạo từ 3 - 4,5 năm đầu tại cơ sở Cần Thơ và 2 - 0,5 năm cuối tại cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh và bảo vệ đồ án tốt nghiệp ngay tại đây.

Thông tin về cơ sở Đà Lạt[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở này hiện đặt tại 109 Lý Thường Kiệt, phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Cơ sở Đà Lạt chính thức tuyển sinh khóa đầu tiên vào năm 2011. Cơ sở ban đầu đặt tại số 2 Trần Nhân Tông, phường 8, thành phố Đà Lạt. Từ năm 2014 đến nay, trường thuê chỗ để giảng dạy tại địa chỉ 109 Lý Thường Kiệt, phường 9, thành phố Đà Lạt. Đến năm 2017, khu vực tuyển sinh ở cơ sở này được mở rộng ra Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ.

Sinh viên sẽ được đào tạo từ 3 năm đầu tại cơ sở Đà Lạt và 2 năm còn lại tại cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh và bảo vệ đồ án tốt nghiệp ngay tại đây.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có 307 giảng viên. Trong đó có 6 phó giáo sư, 50 tiến sĩ, 234 thạc sĩ và 23 giảng viên có trình độ đại học.[2]

Chất lượng đầu ra lý thuyết:[sửa | sửa mã nguồn]

Thái độ của người ra trường:[2]

  • Có lòng yêu nghề mình học, yêu quê hương đất nước và con người Việt Nam.
  • Có ý chí dấn thân, lập nghiệp để làm giàu cho bản thân, từ đó có thể giúp xã hội Việt Nam phát triển hơn.
  • Có khả năng nhận định một vấn đề.
  • Có đạo đức và sự chính chắn của một người trí thức.
  • Có tư duy lớn để phát triển tốt sự nghiệp.
  • Có khả năng làm việc ở cường độ cao.

Kiến thức:

  • Có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực mình học.
  • Có trình độ anh văn tối thiểu TOEIC 450 hoặc IELTS 4.5 để phát triển tốt sự nghiệp.

Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016[2][5]
Cấp bậc đào tạo Số lượng nhập học Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Số lượng tốt nghiệp loại xuất sắc Số lượng tốt nghiệp loại giỏi Tỉ lệ người học thu nhập trên 10 triệu VNĐ Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học 1225 741 (39,6% người tốt nghiệp trễ) 3 người 35 người 5,49% 94,4%
Thạc sĩ 93 71 (24% người tốt nghiệp trễ) Trường không khảo sát ở bậc đào tạo này 100% 100%
Tiến sĩ 4 1 (75% người tốt nghiệp trễ) 100% 100%

* Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 1 năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng sinh viên khởi nghiệp (có đăng ký thành lập công ty hoặc sáng tạo một mô hình kinh doanh mới, cần phân biệt với ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp).

* Tỉ lệ tốt nghiệp trễ tỉ lệ thuận độ tin cậy về cam kết siết đầu ra của trường, có thể nói lên độ tin cậy về khả năng làm việc của người đã tốt nghiệp.

* Kết quả khảo sát bao gồm số lượng sinh viên tại hai cơ sở Cần Thơ và Đà Lạt.

Cựu sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật nổi tiếng từng học tập tại trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Lê Viết Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (HBC).[6]
  • Chung Bắc Ái, cố vấn về kết cấu công trình xây dựng Tổng công ty xây dựng VNTower, đồng thời là trưởng khoa Xây dựng Đại học Kiến trúc TP. HCM.[7][8]
  • Hồ Thiệu Trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Đầu tư, xây dựng và kiến trúc HTT.[9]
  • Nguyễn Thu Phong, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Kiến trúc và nội thất Nhà Vui.
  • Ngô Viết Thụ, kiến trúc sư thiết kế Dinh Độc Lập, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
  • Nguyễn Quang Nhạc, kiến trúc sư thiết kế Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Tiền Giang.[10]
  • Nguyễn Công Trí, nhà thiết kế thời trang chuyên nghiệp.
  • Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Nam Long.[11]
  • Huỳnh Thanh Thủy, thành viên Hội đồng sáng lập và Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ACB.[12]
  • Midu, người mẫu kiêm diễn viên điện ảnh chuyên nghiệp.
  • Trung Quân idol, ca sĩ Thần tượng âm nhạc Việt Nam 2010 và Hòa Âm Ánh Sáng 2016.
  • Bích Ngọc idol, Á quân Thần tượng âm nhạc Việt Nam 2015.[13]

Các khoa và Phòng ban[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Các phòng ban và trung tâm trong trường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng đào tạo;
  • Phòng công tác chính trị - quản lý sinh viên;
  • Phòng quản lý hành chính;
  • Phòng kế toán - tài vụ;
  • Phòng nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học;
  • Ban thanh tra;
  • Trung tâm tin học;
  • Trung tâm hướng nghiệp;
  • Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Thực nghiệm Kiến trúc và Xây dựng;
  • Công ty thiết kế kiến trúc P.A.

Giám đốc, Khoa trưởng và Hiệu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1950-1954: Giám đốc O. Arthur Kruze. Kiến trúc sư trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris (QGCĐMT)
  • 1955-1966: Giám đốc GS. TS. Trần Văn Tải.
  • 1967-1970: Khoa Trưởng GS. TS. Nguyễn Quang Nhạc.
  • 1971-1973: Khoa Trưởng GS. TS. Phạm Văn Thâng.
  • 1974-1975: Khoa Trưởng GS. TS. Tô Công Vân.
  • 1976-1978: Hiệu Trưởng PGS. TS. Trương Tùng.
  • 1979-1995: Hiệu trưởng PGS. TS. Mai Hà San.
  • 1995-2005: Hiệu trưởng TS. Hoàng Như Tấn.
  • 2005-2015: Hiệu trưởng NGƯT. TS. Phạm Tứ.
  • 2015-Đến nay: Hiệu trưởng TS. Lê Văn Thương.

Logo, cổng trường[sửa | sửa mã nguồn]

Logo Đại học Kiến trúc TP. HCM

[sửa | sửa mã nguồn]

Logo được tạo từ hình ảnh đặc thù của 1 kiến trúc sư, kỹ sư và nhà thiết kế: thước T, thước EKE và bàn tay. Ý nghĩa chính của logo: "Bàn tay ta làm nên tất cả". Cách thiết kế logo chi tiết được kiến trúc sư Võ Thành Lân - tác giả logo diễn giải trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11/2016:

"Ngón giữa đối xứng qua đường chéo, khoảng hở kẻ ngón bằng 1/4 ngón, chiều ngang của ngón cái gấp rưỡi lần ngón trỏ. Được chính thức sử dụng cuối năm 1977 sau một cuộc thi tuyển chọn trong chừng 20 mẫu thiết kế. Cuộc thi này không có giải thưởng gì cả, chỉ có được tiền thưởng ít ỏi 10 đồng cho tác giả mà thôi."

Cổng trường[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng trường là một bài thi thiết kế. Nhóm tác giả thắng giải gồm Dương Hồng Hiến, Nguyễn Thế Hiệp và Thu Huyên đều là sinh viên K76 của trường.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]