Đại hội Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quốc dân đại hội (tiếng Trung: 國民大會) là một cơ quan tồn tại trong giai đoạn 1947 - 2005 của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc, có chức năng soạn thảo, sửa đổi Hiến pháp, bầu cử - bãi miễn Tổng thống, hiện nay chức năng của cơ quan này được chuyển sang cho Viện lập pháp.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc ban hành năm 1947, Đại Hội Quốc Dân là cơ quan đại diện cho toàn thể quốc dân thực hiện " Chính Quyền " tại trung ương, từng là cơ quan quyền lực tối cao trong thể chế ngũ quyền phân lập. Đại biểu Đại hội Quốc Dân bầu cử Tổng thống, tính chất giống như các cơ quan lập pháp như Đoàn đại cử chi của Mỹ, Hội nghị quốc dân chủ thể thống nhất của Hàn quốc dưới thời Tổng thống Park Chung Hee, hay Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc của Trung quốc, Hội nghị nhân dân tối cao của Triều tiên, nhưng khác biệt ở chổ, ngoài Đại cử chi đoàn của Mỹ ra, nhưng cơ quan trên chỉ mang tính bầu cử trên hình thức. Ngày 7/6/2005, Đại hội Quốc Dân biểu quyết thông qua đề án sửa đổi hiến pháp của Viện Lập Pháp, chính thức đình chỉ hoạt động của cơ quan này, từ đó thay đổi cơ cấu thể chế hiến pháp của THDQ.

Trên pháp lý, Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc vẫn được giữ nguyên, nhưng căn cứ theo Điều lệ bổ sung sửa đổi Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, phân nửa điều khoản trong nguyên bản Hiến pháp đã bị đình chỉ thực thi, chức năng của Đại hội Quốc Dân đã được chia sẻ cho các cơ quan khác hoặc trực tiếp trao cho người dân thực hiện. Nhưng thời hạn có hiệu lực của Điều lệ bổ sung sửa đổi Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc là trước khi đất nước được thống nhất, vì vậy những bộ luật có liên quan đến Đại hội Quốc Dân như Luật tổ chức Đại hội Quốc Dân, Luật thực thi chức năng Đại hội Quốc Dân, Luật thực thi quyền ưng thuận của Đại hội Quốc Dân vẫn chưa bị truất bỏ. Sau khi Đại hội Quốc Dân bị đóng băng, vào tháng 3 năm 2012, trong cuộc họp Viện Lập Pháp khóa 8, nghị sĩ Đảng Liên minh Đoàn kết Đài Loan đề xuất bãi bỏ 3 bộ luật trên, nhưng chưa được đưa ra thảo luận.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng của Tôn Trung Sơn khi xây dựng thể chế Đại hội Quốc Dân, ông cho rằng, quan hệ giữa "Chính quyền" và "Trị quyền", việc "Chính" là việc của công chúng, "Trị" là việc quản lý, "Chính trị" là việc quản lý các vấn đề của công chúng. Từ đó, ông đưa ra chức năng của Chính phủ chia thành Chính quyền và Trị quyền. Người dân có bốn loại "Chính quyền" gồm bầu cử, bãi miễn, thiết chế, xem xét, và "Trị quyền" gồm có năm nhánh (Viện Hành chính, Viện Lập Pháp, Viện Tư Pháp, Viện Giám Sát, Viện Khảo Thí) có chức năng phục vụ cho nhu cầu của người dân. Trong đó, Đại hội Quốc Dân giữ quyền giám sát chính phủ, quyết định chủ quyền lãnh thổ, sửa đổi hiến pháp. Về mặt pháp lý, địa vị Đại hội Quốc dân nằm trên năm nhánh Trị Quyền. Người dân bầu cử đại biểu Đại hội Quốc dân thực hiện quyền giám sát công việc của chính phủ, từ đó làm cho mối quan hệ giữa Chính quyền và Trị quyền được cân bằng, quyền lợi của người dân không bị chính phủ xâm phạm và được thụ hưởng những chức năng từ chính phủ.

Đại hội Quốc dân Lập hiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1946, Hội nghị hiệp thương chính trị quyết định, sau khi bầu cử tăng thêm đại biểu, cải tổ chính phủ, và hoàn tất sửa đổi dự thảo hiến pháp mới, chính phủ sẽ triệu tập Đại hội Quốc dân Lập hiến.

Cùng năm đó, cuộc nội chiến Quốc - Cộng lần 2 bùng nổ. Ngày 11/10/1946, Chính phủ Quốc dân tuyên bố triệu tập Đại hội Quốc dân Lập hiến vào ngày 12/11, Đảng Cộng sản Trung Quốc và một số đảng phái khác tẩy chay hội nghị. Ngày 15/11/1946, đạị biểu tham dự thông qua Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, sử gọi là Đại hội Quốc dân Lập hiến.

Từ 21-23/11/1947 cả nước tiến hành tổng tuyển cử bầu ra đại biểu Đại hội Quốc dân khóa đầu tiên, từ 29/3-1/5/1948, Đại hội Quốc dân khóa I nhóm họp đầu tiên, bầu ra Tổng thống - Phó tổng thống, Từ nay Đại hội Quốc dân được gọi là Đại hội Quốc dân Hành hiến.

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản Hiến pháp Thành Phần Quốc Đại Tần suất nhóm họp Chức năng

Dự thảo hiến pháp 5/5/1936
Nghị sĩ dân cử 3 năm/lần Cơ quan
Chính quyền
Dự thảo hiến pháp Khôn Minh 3/1940
Đại hội đại biểu
3 năm/lần Cơ quan
Chính quyền, Trị quyền
Dự thảo Hiệp thương  Tập hơp nghị viện Trung ương và Địa phương
3 năm/lần
Cơ quan bầu cử
Hiến pháp Dân Quốc Nghị sĩ dân cử 6 năm/lần Cơ quan chính quyền
Điều khoản sửa đổi bổ sung Nghị sĩ dân cử 4 năm/lần & họp bất thường (thời hạn 1 tháng) Cơ quan chính quyền

Theo Điều 27 Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc năm 1947, chức năng của Đại hội Quốc dân gồm có:  

  1. Bầu cử Tổng thống - Phó tổng thống. 
  2. Bãi miễn Tổng thống - Phó tổng thống. 
  3. Sửa đổi Hiến pháp. 
  4. Xét lại dự thảo sửa đổi hiến pháp do Viện Lập pháp đề xuất.

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh Thư ký Đại hội Quốc dân[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Quốc dân cho thiết lập Ban Thư ký xử lý công việc của đại hội, lãnh đạo là Chánh Thư ký đại hội. Trước khi thiết lập chức danh Chủ tịch Đại hội Quốc dân vào năm 1996,thì Chánh Thư ký là "Lãnh đạo thường trực" của hội, đại diện đối ngoại của Đại hội Quốc dân. Năm 2003, công việc của Đại hội trong giai đoạn không nhóm họp được chuyển giao cho Viện Lập pháp, 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]