Bước tới nội dung

Vũ khí dẫn đường chính xác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Đạn dẫn đường chính xác)
Một quả bom dẫn đường GBU-58 của Không quân Afghanistan tấn công một khu phức hợp của Taliban tại Tỉnh Farah, Afghanistan vào ngày 22 tháng 3 năm 2018.

Một vũ khí dẫn đường chính xác (PGM), còn được gọi là vũ khí thông minh, đạn thông minh, hoặc bom thông minh, là một loại hệ thống vũ khí tích hợp các hệ thống dẫn đường và điều khiển tiên tiến, chẳng hạn như GPS, dẫn đường bằng laser, hoặc các cảm biến hồng ngoại, với nhiều loại đạn dược khác nhau, thường là tên lửa hoặc đạn pháo, để cho phép thực hiện các cuộc tấn công độ chính xác cao chống lại các mục tiêu đã định.[1][2] Vũ khí dẫn đường chính xác được thiết kế để đánh trúng mục tiêu đã định một cách chính xác, thường là với biên độ sai số (hoặc sai số vòng tròn xác suất, CEP) nhỏ hơn nhiều so với các loại đạn dược không dẫn đường thông thường.[3][4] Không giống như đạn dược không dẫn đường, Vũ khí dẫn đường chính xác sử dụng các cơ chế điều khiển chủ động hoặc thụ động có khả năng lái vũ khí hướng về mục tiêu dự kiến.[5][6] Vũ khí dẫn đường chính xác có khả năng hiệu chỉnh quỹ đạo ngay khi đang bay, cho phép chúng điều chỉnh và đánh trúng mục tiêu dự kiến ngay cả khi các điều kiện thay đổi.[1][7] Vũ khí dẫn đường chính xác có thể được triển khai từ nhiều nền tảng khác nhau, bao gồm máy bay, tàu hải quân, phương tiện mặt đất, bệ phóng đặt trên mặt đất và UAV.[2][3]

Vũ khí dẫn đường chính xác chủ yếu được sử dụng trong các hoạt động quân sự để đạt được độ chính xác cao hơn, đặc biệt là trong các môi trường phức tạp hoặc nhạy cảm, nhằm giảm rủi ro cho người vận hành, giảm thiểu thiệt hại cho dân thường và hạn chế thiệt hại ngoài ý muốn.[8][1] Vũ khí dẫn đường chính xác được coi là một yếu tố của chiến tranh hiện đại nhằm giảm thiểu thiệt hại ngoài dự kiến và thương vong dân sự.[9][5] Một thực tế được chấp nhận rộng rãi là vũ khí dẫn đường chính xác vượt trội đáng kể so với vũ khí không dẫn đường, đặc biệt là chống lại các mục tiêu kiên cố hoặc di động.[3][7] Trong Chiến tranh Vùng Vịnh, đạn dược có dẫn đường chỉ chiếm 9% lượng vũ khí được khai hỏa nhưng chiếm tới 75% tổng số các cú bắn trúng đích thành công. Mặc dù vũ khí có dẫn đường thường được sử dụng cho các mục tiêu khó tiêu diệt hơn, chúng vẫn có khả năng phá hủy mục tiêu cao gấp 35 lần trên mỗi đơn vị vũ khí được thả.[10]

Vì hiệu ứng sát thương của vũ khí nổ giảm dần theo khoảng cách do quy luật nghịch đảo lũy thừa ba, nên ngay cả những cải thiện khiêm tốn về độ chính xác (do đó làm giảm khoảng cách sai lệch) cũng cho phép tấn công mục tiêu với ít bom hơn hoặc bom nhỏ hơn. Do đó, ngay cả khi một số bom có dẫn đường bị trượt, ít phi hành đoàn bị đặt vào tình trạng nguy hiểm hơn, đồng thời giảm thiểu tổn hại cho dân thường và mức độ thiệt hại phụ.[a][b] Sự ra đời của vũ khí dẫn đường chính xác dẫn đến việc đổi tên các loại bom công nghệ thấp cũ hơn thành "bom không dẫn đường", "bom ngu" hoặc "bom sắt". Một số thách thức của vũ khí dẫn đường chính xác bao gồm chi phí phát triển và sản xuất cao; ngoài ra, việc Vũ khí dẫn đường chính xác phụ thuộc vào các công nghệ tiên tiến như GPS khiến chúng dễ bị tổn thương trước chiến tranh điện tửtấn công mạng.[16]

Các loại

[sửa | sửa mã nguồn]
Một quả bom GBU-24 dẫn đường bằng laser (biến thể đầu đạn BLU-109) đang tấn công mục tiêu.

Nhận thấy khó khăn trong việc đánh trúng các tàu đang di chuyển trong Nội chiến Tây Ban Nha,[17] người Đức là những người đầu tiên phát triển các loại đạn dược có thể lái được, sử dụng điều khiển vô tuyến hoặc dẫn đường bằng dây. Hoa Kỳ đã thử nghiệm các loại vũ khí dẫn đường bằng vô tuyến truyền hình (GB-4),[18] dẫn đường bằng radar bán chủ động (Bat), và dẫn đường bằng hồng ngoại (Felix).

Điều khiển bằng vô tuyến

[sửa | sửa mã nguồn]

Người Đức là những người đầu tiên đưa các vũ khí dẫn đường chính xác (PGM) vào chiến đấu, với việc phi đoàn KG 100 triển khai loại bom lượn bọc giáp Fritz X điều khiển theo cơ chế MCLOS nặng 3.100 lb (1.400 kg), được dẫn đường bởi hệ thống dẫn đường vô tuyến Kehl-Straßburg, để tấn công thành công Thiết giáp hạm Roma của Ý vào năm 1943,[19] và loại bom lượn có động cơ tên lửa tăng cường Henschel Hs 293 cũng sử dụng cơ chế MCLOS Kehl-Straßburg (cũng được sử dụng từ năm 1943, nhưng chỉ chống lại các mục tiêu tàu bọc giáp nhẹ hoặc không bọc giáp).

Các loại vũ khí tương đương gần nhất của phe Đồng minh, cả hai đều là thiết kế không động cơ, là loại VB-1 AZON nặng 1.000 lb (450 kg) (từ cụm từ "AZimuth ONly" - chỉ điều khiển hướng tính), được sử dụng ở cả châu Âu và chiến trường Trung Hoa - Miến Điện - Ấn Độ, và loại Bat của Hải quân Hoa Kỳ, chủ yếu được sử dụng tại Chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến II — loại Bat của Hải quân tiên tiến hơn cả các thiết kế PGM của Đức hay VB-1 AZON của USAAF ở chỗ nó có hệ thống đầu dò radar tự hành ngay trên thân để tự hướng tới mục tiêu. Ngoài ra, Hoa Kỳ đã thử nghiệm loại Gargoyle chạy bằng động cơ tên lửa, nhưng nó chưa bao giờ được đưa vào biên chế.[20] Các loại PGM của Nhật Bản, ngoại lệ là loại bom bay "Kamikaze" Yokosuka MXY-7 Ohka chạy bằng động cơ tên lửa, có người lái, phóng từ trên không để chống hạm đã không tham chiến trong Thế chiến II.[21]

Trước chiến tranh, người Anh đã thử nghiệm các máy bay điều khiển từ xa bằng vô tuyến mang đầy chất nổ, chẳng hạn như Larynx. Không lực Lục quân Hoa Kỳ đã sử dụng các kỹ thuật tương tự với Chiến dịch Aphrodite, nhưng gặt hái được ít thành công; loại "máy bay ký sinh" Mistel (Mistletoe) của Đức cũng không hiệu quả hơn, nó được dẫn đường bởi một phi công lái máy bay tiêm kích một động cơ gắn phía trên một "bom bay" không người lái hai động cơ chứa đầy thuốc nổ bên dưới, và được thả ra khi chiếc Mistel lao xuống tấn công từ máy bay tiêm kích.

Các chương trình của Hoa Kỳ đã tái khởi động trong Chiến tranh Triều Tiên. Vào những năm 1960, bom quang-điện tử (hay bom camera) đã được giới thiệu lại. Chúng được trang bị các máy ảnh vô tuyến truyền hình và kính ngắm pháo sáng, qua đó quả bom sẽ được lái cho đến khi pháo sáng đè lên mục tiêu. Các bom camera truyền hình ảnh "tầm mắt của bom" về mục tiêu cho máy bay điều khiển. Một người vận hành trên máy bay này sau đó truyền tín hiệu điều khiển đến các cánh lái có thể điều chỉnh được lắp trên quả bom. Những vũ khí như vậy đã được sử dụng ngày càng nhiều bởi USAF trong những năm cuối của Chiến tranh Việt Nam vì môi trường chính trị ngày càng không chấp nhận thương vong dân sự, và vì có thể tấn công các mục tiêu khó (như cầu cống) một cách hiệu quả chỉ với một nhiệm vụ duy nhất; ví dụ, Cầu Hàm Rồng đã bị tấn công nhiều lần bằng bom sắt nhưng không hiệu quả, chỉ bị phá hủy trong một nhiệm vụ bằng PGM.

Mặc dù không phổ biến bằng các loại vũ khí JDAMJSOW mới hơn, hay thậm chí là các hệ thống Bom dẫn đường bằng laser cũ hơn, các vũ khí như bom dẫn đường bằng TV AGM-62 Walleye vẫn đang được sử dụng, kết hợp với Thiết bị liên kết dữ liệu AAW-144, trên các máy bay F/A-18 Hornet của Hải quân Hoa Kỳ.[cần dẫn nguồn]

Dẫn đường hồng ngoại/quang-điện tử

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế chiến II, Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ đã phát triển loại VB-6 Felix, sử dụng hồng ngoại để tự dẫn vào các tàu biển. Mặc dù đã được đưa vào sản xuất năm 1945, nhưng nó chưa bao giờ được sử dụng trong tác chiến.[22] Vũ khí dẫn đường quang-điện tử thành công đầu tiên là loại AGM-62 Walleye trong Chiến tranh Việt Nam. Đây là một dòng bom lượn kích thước lớn có thể tự động theo dõi mục tiêu bằng cách sử dụng sự khác biệt về độ tương phản trong luồng video. Khái niệm ban đầu được tạo ra bởi kỹ sư Norman Kay khi ông đang mày mò TV như một sở thích cá nhân. Nó dựa trên một thiết bị có thể theo dõi các vật thể trên màn hình ti vi và đặt một "điểm sáng" (blip) lên chúng để chỉ thị vị trí đang nhắm tới. Cuộc thử nghiệm vũ khí đầu tiên vào ngày 29 tháng 1 năm 1963 đã thành công, với việc vũ khí đánh trúng trực tiếp vào mục tiêu. Nó đã phục vụ hiệu quả trong ba thập kỷ cho đến những năm 1990.[23][24]

Loại AGM-65 Maverick của hãng Raytheon là tên lửa dẫn đường quang-điện tử phổ biến nhất. Là một loại tên lửa chống tăng hạng nặng, nó có các hệ thống dẫn đường khác nhau tùy theo các phiên bản như quang-điện tử (AGM-65A), ảnh nhiệt hồng ngoại (AGM-65D), và tự dẫn bằng laser (AGM-65E).[25] Hai loại đầu tiên, bằng cách tự dẫn hướng dựa trên khung cảnh trực quan hoặc hồng ngoại của mục tiêu, thuộc loại vũ khí "bắn và quên" (fire-and-forget), nghĩa là phi công có thể phóng vũ khí và nó sẽ tự dẫn tới mục tiêu mà không cần thêm dữ liệu nhập nào khác, cho phép máy bay phóng có thể cơ động để thoát khỏi hỏa lực đáp trả. Các loại H-2 MUPSOWH-4 MUPSOW của NESCOM Pakistan là loại vũ khí quang-điện tử (dẫn đường bằng ảnh nhiệt hồng ngoại và truyền hình), là một loại bom lượn dẫn đường chính xác theo kiểu "thả và quên" (drop and forget). Loại Opher của hãng Elbit Israel cũng là một loại bom dẫn đường "thả và quên" bằng ảnh nhiệt hồng ngoại, được báo cáo là rẻ hơn đáng kể so với bom dẫn đường bằng laser và có thể được sử dụng bởi bất kỳ loại máy bay nào, do không yêu cầu hệ thống dây dẫn chuyên dụng cho thiết bị chỉ thị laser hoặc yêu cầu một máy bay khác chiếu xạ mục tiêu. Trong chiến dịch không kích của NATO năm 1999 tại Kosovo, máy bay AMX mới của Không quân Ý đã sử dụng loại Opher này.[26]

Dẫn đường bằng laser

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1962, Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu các hệ thống dẫn đường bằng laser và đến năm 1967, Không quân Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc đánh giá cạnh tranh dẫn đến việc phát triển hoàn chỉnh loại bom dẫn đường bằng laser đầu tiên trên thế giới, BOLT-117, vào năm 1968. Tất cả các loại bom này đều hoạt động theo cách tương tự nhau, dựa trên việc mục tiêu được chiếu sáng, hay được "sơn", bởi một thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser trên mặt đất hoặc trên máy bay. Chúng có nhược điểm đáng kể là không thể sử dụng trong thời tiết xấu khi không thể nhìn thấy ánh sáng chiếu mục tiêu, hoặc khi thiết bị chỉ thị mục tiêu không thể tiếp cận gần mục tiêu. Thiết bị chỉ thị laser gửi chùm tia của nó theo một chuỗi xung được mã hóa để quả bom không bị nhầm lẫn bởi một loại laser thông thường, và cũng để nhiều thiết bị chỉ thị có thể hoạt động trong khoảng cách gần một cách hợp lý.

BOLT-117, quả bom dẫn đường bằng laser đầu tiên trên thế giới

Ban đầu, dự án bắt đầu như một bộ dò tìm cho tên lửa đất đối không được phát triển bởi hãng Texas Instruments. Khi giám đốc điều hành của Texas Instruments là Glenn E. Penisten cố gắng bán công nghệ mới này cho Không quân, họ đã hỏi liệu nó có thể được sử dụng làm hệ thống tấn công mặt đất để khắc phục các vấn đề về độ chính xác khi ném bom ở Việt Nam hay không. Sau 6 lần thử nghiệm, vũ khí này đã cải thiện độ chính xác từ 148 đến 10 ft (50 đến 3 m) và vượt xa các yêu cầu thiết kế. Hệ thống đã được gửi đến Việt Nam và hoạt động tốt. Khi chưa có sự tồn tại của các thiết bị ngắm mục tiêu (targeting pods), chúng phải được nhắm bằng một thiết bị laser cầm tay từ ghế sau của máy bay F-4 Phantom, nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt. Cuối cùng, hơn 28.000 quả đã được thả trong suốt cuộc chiến.[10]

Sơ đồ mô tả hoạt động của một quả đạn dẫn đường bằng laser. Từ báo cáo của CIA, 1986.

Vũ khí dẫn đường bằng laser đã không trở nên phổ biến cho đến khi có sự ra đời của vi mạch. Chúng đã ra mắt thực tế tại Việt Nam, nơi vào ngày 13 tháng 5 năm 1972, chúng được sử dụng trong cuộc tấn công thành công thứ hai vào Cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Công trình này trước đó từng là mục tiêu của 800 phi vụ của Mỹ[27] (sử dụng vũ khí không dẫn đường) và đã bị phá hủy một phần trong mỗi hai cuộc tấn công thành công, cuộc còn lại là vào ngày 27 tháng 4 năm 1972 sử dụng các quả AGM-62 Walleye.

Chúng đã được sử dụng, dù không phải trên quy mô lớn, bởi lực lượng Anh trong Chiến tranh Falklands năm 1982.[28] Việc sử dụng quy mô lớn đầu tiên vũ khí thông minh diễn ra vào đầu những năm 1990 trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc khi chúng được lực lượng liên quân sử dụng chống lại Iraq. Mặc dù vậy, hầu hết các loại đạn dược thả từ trên không được sử dụng trong cuộc chiến đó là "bom ngu", mặc dù tỷ lệ phần trăm bị sai lệch do việc sử dụng nhiều loại bom chùm (không dẫn đường). Vũ khí dẫn đường bằng laser đã được sử dụng với số lượng lớn trong Chiến tranh Kosovo năm 1999, nhưng hiệu quả của chúng thường bị giảm do điều kiện thời tiết xấu phổ biến ở miền nam vùng Balkan.

  • Paveway là một dòng bom dẫn đường bằng laser được sản xuất tại Hoa Kỳ. Các quả LGB Paveway II nặng 500 lb (230 kg) (như GBU-12) là loại vũ khí dẫn đường chính xác (PGM) hạng nhẹ giá rẻ hơn, phù hợp để sử dụng chống lại các phương tiện và các mục tiêu nhỏ khác, trong khi một đầu xuyên Paveway III nặng 2.000 lb (910 kg) (như GBU-24) là loại vũ khí đắt tiền hơn với hiệu quả khí động học được cải thiện, phù hợp để sử dụng chống lại các mục tiêu có giá trị cao. Các quả GBU-12 đã được sử dụng mang lại hiệu quả tuyệt vời trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, được thả từ máy bay F-111F để tiêu diệt các phương tiện bọc thép của Iraq trong một quy trình được các phi công gọi một cách không chính thức là "tank plinking" (diệt xe tăng).
  • AGM-123 Skipper II là một loại tên lửa dẫn đường bằng laser tầm ngắn được phát triển bởi Hải quân Hoa Kỳ. Skipper được dự định là một vũ khí chống hạm, có khả năng vô hiệu hóa các tàu lớn nhất bằng một đầu đạn nặng 1.000 lb (450 kg) sử dụng ngòi nổ va chạm. Nó được cấu tạo từ một quả Bom Mark 83 lắp thêm bộ kit dẫn đường Paveway và hai động cơ tên lửa nhiên liệu rắn Mk 78 sẽ kích hoạt khi phóng.
  • Một số loại bom dẫn đường bằng laser được sử dụng phổ biến nhất là dòng GBU-54, GBU-55 và GBU-56 thuộc hệ thống JDAM, hay còn gọi là "Laser JDAM" (LJDAM), bằng cách bổ sung thêm một đầu dò laser vào mũi của một quả bom trang bị JDAM, cho phép nó tấn công các mục tiêu di động. Đầu dò laser là một sản phẩm hợp tác phát triển giữa đơn vị Phòng thủ, Không gian và An ninh của Boeing và công ty Elbit Systems của Israel.[29]
  • Sudarshan là một bộ kit chuyển đổi bom dẫn đường bằng laser của Ấn Độ, được phát triển bởi Viện Phát triển Hàng không (ADE), một phòng thí nghiệm thuộc Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Quốc phòng (DRDO) với sự hỗ trợ công nghệ từ một phòng thí nghiệm khác của DRDO là Viện Nghiên cứu và Phát triển Thiết bị (IRDE),[30][31] dành cho Không quân Ấn Độ (IAF).[32][33][34]
  • KAB-1500LKAB-500L là các loại bom dẫn đường bằng laser của Nga.
  • LT PGB là một dòng đạn dược dẫn đường bằng laser của Trung Quốc.
  • LS PGB là một dòng đạn dược dẫn đường bằng GPS+INS hoặc laser của Trung Quốc.
  • Hệ thống Vũ khí Tiêu diệt Chính xác Tiên tiến (Advanced Precision Kill Weapon System - APKWS), còn được gọi là Tên lửa dẫn đường bằng Laser, hồng ngoại (LiGR), là một thiết kế chuyển đổi các rocket Hydra 70 bằng một bộ kit dẫn đường bằng laser để biến chúng thành các vũ khí dẫn đường chính xác (PGM).[35][36][37]
  • Ugroza (tiếng Nga: Угроза, nghĩa là "mối đe dọa") là một hệ thống vũ khí dẫn đường chính xác được sản xuất tại Liên bang Nga. Đây là một bản nâng cấp cho các tên lửa "ngu" tiêu chuẩn của Nga, bao gồm các loại rocket S-5, S-8S-13.[38][39] Hệ thống này nâng cấp các tên lửa không dẫn đường bằng công nghệ dẫn đường laser, giúp tăng đáng kể độ chính xác của chúng. Nó yêu cầu một Thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser, từ nguồn trên không hoặc trên mặt đất, để "sơn" mục tiêu.
  • Roketsan Cirit là một loại tên lửa dẫn đường laser bán chủ động của Thổ Nhĩ Kỳ.[40][41]
  • Bom dẫn đường bằng Laser Griffin (Griffin LGB) là một hệ thống bom dẫn đường bằng laser được sản xuất bởi bộ phận tên lửa MBT của Israel Aerospace Industries. Đây là một bộ kit bổ sung được sử dụng để trang bị lại cho các loại bom Mark 82, bom Mark 83bom Mark 84 hiện có cũng như các loại bom trọng lực "ngu" khác, biến chúng thành các bom thông minh dẫn đường bằng laser (với tùy chọn dẫn đường bằng GPS). Quá trình phát triển ban đầu hoàn tất vào năm 1990.

Dẫn đường bằng radar

[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí chống tăng hạng nhẹ Hellfire II của Lockheed-Martin trong một phiên bản sử dụng radar trên máy bay Boeing AH-64D Apache Longbow để cung cấp khả năng dẫn đường "bắn và quên" (fire-and-forget) cho loại vũ khí đó.

Dẫn đường bằng vệ tinh

[sửa | sửa mã nguồn]
HOPE/HOSBO của Luftwaffe với sự kết hợp giữa GPS/INS và dẫn đường quang-điện tử

Các bài học rút ra trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất đã cho thấy giá trị của các loại vũ khí chính xác, nhưng đồng thời cũng làm nổi bật những khó khăn khi vận hành chúng—đặc biệt là khi tầm nhìn mặt đất hoặc mục tiêu từ trên không bị suy giảm.[42] Vấn đề tầm nhìn kém không ảnh hưởng đến các vũ khí dẫn đường bằng vệ tinh như JDAMJSOW, vốn sử dụng hệ thống GPS của Hoa Kỳ để dẫn đường. Loại vũ khí này có thể được triển khai trong mọi điều kiện thời tiết mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào từ mặt đất. Vì hệ thống GPS có khả năng bị gây nhiễu, bộ phận dẫn đường sẽ chuyển sang chế độ dẫn đường quán tính (INS) trong trường hợp mất tín hiệu GPS. Dẫn đường quán tính có độ chính xác thấp hơn đáng kể; JDAM đạt được mức sai số vòng tròn xác suất (CEP) công bố là 43 ft (13 m) khi có dẫn đường GPS, nhưng thường chỉ đạt 98 ft (30 m) khi dẫn đường quán tính (với thời gian rơi tự do từ 100 giây trở xuống).[43][44]

Một chiếc F-22 thả một quả JDAM từ khoang bụng trung tâm khi đang bay ở tốc độ siêu thanh.
KAB-500S-E. Bom dẫn đường bằng vệ tinh GLONASS của Nga
  • GBU-57A/B Massive Ordnance Penetrator (MOP) là một loại bom "phá boong-ke" dẫn đường chính xác nặng 30.000 pound (14.000 kg) của Không quân Hoa Kỳ.[49] Loại này lớn hơn đáng kể so với các loại bom xuyên hầm sâu nhất trước đó như GBU-28 nặng 5.000 pound (2.300 kg)GBU-37.
  • SMKB (Smart-MK-Bomb) là một bộ kit dẫn đường của Brazil giúp biến một quả bom tiêu chuẩn Mk 82 nặng 500 pound (230 kg) hoặc Mk 83 nặng 1.000 pound (450 kg) thành vũ khí dẫn đường chính xác, lần lượt được gọi là SMKB-82 và SMKB-83. Bộ kit này giúp mở rộng tầm xa lên đến 31 mi (50 km) và được dẫn đường bởi một hệ thống dẫn đường quán tính tích hợp kết hợp với ba mạng lưới vệ tinh (GPS, GalileoGLONASS), dựa vào kết nối không dây để xử lý luồng dữ liệu giữa máy bay.
  • FT PGB là một dòng vũ khí dẫn đường bằng vệ tinh và Quán tính của Trung Quốc.
  • LS PGB là một dòng vũ khí dẫn đường bằng GPS+INS hoặc laser của Trung Quốc.

Độ chính xác của các vũ khí này phụ thuộc vào cả độ chính xác của hệ thống đo lường được sử dụng để xác định vị trí và độ chính xác khi thiết lập tọa độ của mục tiêu. Yếu tố sau phụ thuộc rất lớn vào thông tin tình báo, vốn không phải lúc nào cũng chính xác. Theo một báo cáo của CIA, vụ ném bom nhầm vào đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bởi máy bay NATO trong Chiến dịch Allied Force được cho là do thông tin mục tiêu sai lệch.[50] Tuy nhiên, nếu thông tin mục tiêu là chính xác, các vũ khí dẫn đường bằng vệ tinh có khả năng thực hiện một cuộc tấn công thành công trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào cao hơn đáng kể so với bất kỳ loại vũ khí dẫn đường chính xác nào khác.

Quá trình phát triển của vũ khí thông minh

[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình phát triển của vũ khí thông minh chính là quá trình phát triển của các phương pháp dẫn hướng, điều khiển: từ phương pháp dẫn hướng bằng sóng vô tuyến, dẫn hướng bằng hồng ngoại, đến dẫn hướng bằng Lazer, tới dẫn hướng bằng GPS và tiến tới là sự kết hợp INS/GPS (quán tính/hồng ngoại), TV/IR. Sự ra đời của vũ khí thông minh hiện đại sử dụng kết hợp INS/GPS từ những năm 1996 sau đó được thử nghiệm tại các cuộc chiến tranh gần đây ở Nam Tư, ở Apganixtan và ở Iraq chứng minh tính hiệu quả Cùng với sự phát triển của các thiết bị dẫn hướng, vũ khí tinh khôn cũng ngày một chính xác. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 các máy bay ném bom của Mỹ phải thả 648 quả bom để phá hủy một mục tiêu. Ở Việt Nam, những mục tiêu như vậy cần 176 quả để phá hủy. Ngày nay, một vài quả bom, đạn hay tên lửa dẫn hướng chính xác có thể làm được việc đó. Đạn dược chính xác cũng làm tăng tính cơ động trong chiến đấu, phù hợp với chiến lược phản ứng nhanh trong chiến đấu.

Các yếu tố ảnh hưởng đến vũ khí thông minh

[sửa | sửa mã nguồn]

a. Ảnh hưởng của môi trường.

  • Mây hoặc khói
  • Mưa, bụi nước.
  • Ánh sáng kém.
  • Góc chiếu sáng nhỏ.
  • Độ ẩm tuyệt đối cao.
  • Những đám mây dày đặc.

Các yết tố trên chủ yếu gây ra ánh hưởng với các vũ khí điều khiển bằng sóng vô tuyến, hồng ngoại, rada hay Lazer là các phương pháp dẫn hướng trước đây. Hiện nay với sự ra đời của, ít ảnh hưởng đến các phương pháp dẫn tiên tiến hiện nay như sử dụng GPS hay sử dụng kết hợp INS/GPS. b. Các ảnh hưởng cụ thể như sau.

  • Sự chuyển động dữ dội của không khí có thể làm hỏng quá trình bắt mục tiêu tự động.
  • Sự mài mòn hay đột thủng vỏ cảm biến có thể xảy ra khi vũ khí thông minh xuyên qua những mảng khí quyển cứng như mưa đá hoặc cát.
  • Chớp hoặc ma sát có thể gây nghẽn mạch điện. Tia chớp cũng có thể gây nổ đạn dược chính xác.
  • Sự phát tán ánh sáng gây khó khăn cho những hệ dẫn vô tuyến và hồng ngoại.
  • Góc chiếu sáng nhỏ có thể tạo ra các hình bóng gây sai lầm cho việc bắt mục tiêu tự động.
  • Sự khác nhau về nhiệt độ như vào buổi sáng hay buổi trưa làm mục tiêu nóng lên với mức độ khác nhau gây ảnh hưởng tới quá trình bắt mục tiêu.
  • Hơi ẩm và bụi bẩn làm thay đổi màu vốn có của mục tiêu, cũng có thể làm thay đổi nhiệt độ bề mặt.
  • Những điểm nóng hoặc lạnh ở xung quanh có thể gây nhiễu mục tiêu làm sai lệch cảm biến hồng ngoại (ví dụ các đống lửa ở gần mục tiêu mặt đất)
  1. "Trong quá trình Nga tham gia Nội chiến Syria, chỉ có một loại máy bay của họ là tiêm kích-ném bom Su-34 thường xuyên sử dụng đạn dược dẫn đường chính xác, Bronk giải thích, và ngay cả loại máy bay đó cũng thường xuyên sử dụng bom và tên lửa không dẫn đường.".[11]
  2. Khả năng kết nối với GLONASS có thể là một yếu tố dẫn đến việc thiếu hụt Vũ khí dẫn đường chính xác của Nga,[12] và việc sử dụng các trạm thu phát sóng di động 3G/4G cho các liên lạc mã hóa của Nga (Era) [13] trong cuộc xâm lược Ukraine năm 2022. Điểm yếu này đã bị phanh phui thông qua việc sử dụng liên lạc mở ("các chỉ huy Nga đôi khi đang sử dụng ké mạng điện thoại di động của Ukraine để liên lạc")[14] khi FSB thảo luận về cái chết của các tướng lĩnh của họ: Andrei Sukhovetsky, bị tiêu diệt ngày 28 tháng 2 năm 2022.[15][12]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 "Precision-Guided Munitions: Background and Issues for Congress". CRS Report. Congressional Research Service. 2021.
  2. 1 2 Hallion, R. (2024). "History and Evolution of Guided Weapons" (PDF). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.[liên kết hỏng]
  3. 1 2 3 "Understanding Precision-Guided Munitions: Advancements and Impact". Total Military Insight. 2024. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.
  4. Voskuijl, M. (2022). "Development trends in UAV-enabled precision strike technologies". doi:10.1080/00423114.2022.2041234 (không hoạt động 1 July 2025). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 7 2025 (liên kết)
  5. 1 2 Jenzen-Jones, N R; Shanley, Jack (ngày 29 tháng 7 năm 2021). "Precision Strike". The RUSI Journal. 166 (5): 76–92. doi:10.1080/03071847.2021.2016208. ISSN 0307-1847.
  6. NISTORESCU, Claudiu Valer (ngày 15 tháng 10 năm 2024). "The Asymmetries Generated by New Weapon Systems and Their Role in Achieving Success on the Battlefield. The Impact of HIMARS on the Conflict in Ukraine". Bulletin of "Carol I" National Defence University. 13 (3): 117–128. doi:10.53477/2284-9378-24-34. ISSN 2284-9378.
  7. 1 2 "Russia is jamming US precision weapons in Ukraine, US general says". Defense One (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.
  8. "Low-cost precision-guided munitions and their battlefield impact". The Economist. 2024. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.
  9. Esposito, F. (ngày 10 tháng 12 năm 2019). "Precision-Guided Munitions of the Future - Joint Air Power Competence Centre" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2025.
  10. 1 2 "Bursts of Brilliance - The Washington Post". The Washington Post.
  11. Roza, David (ngày 3 tháng 3 năm 2022). "Where is the Russian Air Force? Experts break down why they might be hiding". Task & Purpose. Rõ ràng đối với chúng tôi là Nga đang mất máy bay và trực thăng với tốc độ gây thiệt hại nặng nề. —Justin Bronk, RUSI
  12. 1 2 Ross, Jamie (ngày 7 tháng 3 năm 2022). "Russian Officer Complains About Dead General and Comms Meltdown in Intercepted Call". Yahoo! News. The Daily Beast. Các sĩ quan FSB thảo luận về cái chết của Gerasimov trong bối cảnh các trạm thu phát sóng 3G/4G ở Ukraine bị phá hủy, và việc mất các liên lạc mã hóa của Nga (Era)
  13. Waugh, Rob (ngày 8 tháng 3 năm 2022). "'Idiots': Russian military phone calls hacked after own soldiers destroy 3G towers". Yahoo! News. Các trạm 3G/4G là cần thiết cho các liên lạc mã hóa của Nga (Era)
  14. Srivastava, Mehul; Murgia, Madhumita; Murphy, Hannah (ngày 9 tháng 3 năm 2022). "The secret US mission to bolster Ukraine's cyber defences ahead of Russia's invasion". Ars Technica. Financial Times. Thay vì liên lạc hoàn toàn qua các điện thoại quân sự được mã hóa, các chỉ huy Nga đôi khi đang sử dụng ké mạng điện thoại di động của Ukraine... Sau đó, bạn bất ngờ thấy lính Nga giật điện thoại của người Ukraine trên đường, lục soát các cửa hàng sửa chữa để tìm sim.
  15. Cunningham, Doug (ngày 3 tháng 3 năm 2022). "Ukraine forces say Chechen commander Magomed Tushayev killed near Kyiv". United Press International.
  16. Wenyuan, Zhang; Sheng, Luo; Jun, Wang; Jian, Zhou; Yanfang, Cai (ngày 1 tháng 4 năm 2023). "Development and Prospect of Intelligent Air-to-Ground Precision Strike Munition". Journal of Physics: Conference Series. 2460 (1) 012169. Bibcode:2023JPhCS2460a2169W. doi:10.1088/1742-6596/2460/1/012169. ISSN 1742-6588.
  17. Fitzsimons, Bernard, biên tập (1978). "Fritz-X". The Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare. Quyển 10. London: Phoebus. tr. 1037.
  18. Fitzsimons, op. cit., Volume 10, p.1101, "GB-4".
  19. Fioravanzo, Giuseppe (1971). La Marina italiana nella seconda guerra mondiale – Volume XV – La Marina dall'8 settembre 1943 alla fine del conflitto [The Italian Navy in the Second World War – Volume XV – The Navy from 8 September 1943 to the End of the Conflict] (bằng tiếng Ý). Rome: Italian Navy Historical Branch. tr. 8–34.
  20. Fitzsimons, op. cit., Volume 10, p. 1090, "Gargoyle".
  21. Martin Caidin (1956). "Japanese Guided Missiles in World War II". Journal of Jet Propulsion. 26 (8): 691–694. doi:10.2514/8.7117.
  22. Fitzsimons, op. cit., Volume 9, p. 926, "Felix".
  23. Parsch, Andreas (2002). "Martin Marietta AGM-62 Walleye". Directory of U.S. Military Rockets and Missiles. Designation-Systems. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2014.
  24. Sherwood, John Darrell (2009). Nixon's Trident: Naval Power in Southeast Asia, 1968–1972. Washington, DC: Naval Historical Center. ISBN 978-0-16-082869-0.
  25. "Raytheon AGM-65 Maverick" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2006.
  26. "Opher bomb deployed in Kosovo". FlightGlobal. ngày 17 tháng 6 năm 1999.
  27. "Thanh Hoa Bridge". af.mil. Air Force Research Laboratory. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2005.
  28. "Britain's Small Wars". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  29. Opall-Rome, Barbara (ngày 3 tháng 5 năm 2010). "U.S. Backs Israeli Munitions Upgrades". Defense News. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  30. "India develops first Laser Guided Bomb". Deccanherald.com. Dehradun. PTI. ngày 20 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2012.
  31. Nitsi (ngày 21 tháng 10 năm 2010). "India invents 1st Laser Guided Bomb". Oneindia. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2012.
  32. "India conducts flight trials of laser-guided bombs". Netindian.in. ngày 21 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2012.
  33. India develops first laser guided bomb, MSN News, Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2010, truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2016
  34. "India successfully develops advanced laser guided bomb". News.xinhuanet.com. ngày 20 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2012.
  35. "APKWS® laser-guidance kit".
  36. "U.S. Army Plans First Deployment of Laser-Guided Rocket". AIN Online. ngày 14 tháng 10 năm 2015.
  37. "Description the APKWS II is a design conversion of an unguided Hydra 2.75-inch rocket with a laser guidance kit to give it precision-kill capability". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017.
  38. Vladimir Ilyin (ngày 18 tháng 9 năm 1999). "Cheaply and effectively". Nezavisimaya Gazeta (bằng tiếng Nga).
  39. "Defense & Security Intelligence & Analysis: IHS Jane's | IHS". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018.
  40. "CIRIT 2.75" Laser Guided Missile, Roketsan". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2009.
  41. "Roketsan targets guided anti-tank missile development and production". TR Defence. ngày 13 tháng 7 năm 2011.
  42. "News". www.af.mil.
  43. "Factsheets: Joint Direct Attack Munition". af.mil. United States Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2003.
  44. John Pike. "Joint Direct Attack Munition (JDAM)". globalsecurity.org. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2015.
  45. "Air Force Developed Bombs Capable of Destroying Syria's Chemical Weapons". Defense Tech. Military.com. ngày 30 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2013.
  46. "CBU-107 Passive Attack Weapon (WCMD)". www.globalsecurity.org.
  47. "Taiwan develops 'anti-invasion' munitions against China". Fox News. ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2017.
  48. "Laser-Guided Bomb Kits". Israel Aerospace Industries. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2013.
  49. "B-2/Massive Ordnance Penetrator (MOP) GBU-57A/B". FedBizOpps. United States Department of the Air Force.
  50. "DCI Statement on the Belgrade Chinese Embassy". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2006.