Đảng Dân chủ (Hoa Kỳ)
Đảng Dân chủ Democratic Party | |
|---|---|
| Chủ tịch đảng | Ken Martin |
| Lãnh tụ thiểu số tại Hạ viện | Hakeem Jeffries |
| Lãnh tụ thiểu số tại Thượng viện | Chuck Schumer |
| Thành lập | 8 tháng 1 năm 1828[1] |
| Tiền thân | Đảng Dân chủ Cộng hòa |
| Trụ sở chính | 430 South Capitol St. SE, Washington, D.C., 20003 |
| Tổ chức sinh viên | Dân chủ Trung học Sinh viên Dân chủ |
| Tổ chức thanh niên | Thanh niên Dân chủ |
| Tổ chức phụ nữ | Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc gia |
| Tổ chức tại hải ngoại | Đảng Dân chủ Hải ngoại |
| Số lượng thành viên (2022) | |
| Hệ tư tưởng | |
| Khuynh hướng | Trung dung[10] đến thiên tả[11] |
| Màu sắc chính thức | Xanh lam |
| Số ghế tại Thượng viện | 45 / 100[a]
|
| Số ghế tại Hạ viện | 214 / 435
|
| Thống đốc tiểu bang | 23 / 50
|
| Số ghế tại Thượng viện các tiểu bang | 833 / 1.973
|
| Số ghế tại Hạ viện các tiểu bang | 2.391 / 5.413
|
| Thống đốc vùng lãnh thổ | 2 / 5
|
| Số ghế tại Thượng viện các vùng lãnh thổ | 21 / 97
|
| Số ghế tại Hạ viện các vùng lãnh thổ | 9 / 91
|
| Website | democrats.org |
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
Đảng Dân chủ (Democratic Party) là một trong hai chính đảng lớn nhất tại Hoa Kỳ. Đảng Dân chủ bắt nguồn từ thời Thomas Jefferson vào đầu thập niên 1790 và là đảng chính trị lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, đồng thời là một trong số các chính đảng lâu đời nhất thế giới.[12][13]
Là một trong hai chính đảng quan trọng tại Hoa Kỳ, Đảng Dân chủ, từ năm 1896, có khuynh hướng tự do hơn Đảng Cộng hòa. Bên trong Đảng Dân chủ tồn tại nhiều khuynh hướng hơn so với những chính đảng quan trọng tại các quốc gia đã công nghiệp hóa khác, một phần là vì các chính đảng của người Mỹ thường không có đủ quyền lực để kiểm soát đảng viên của mình như các đảng chính trị tại nhiều nước khác, phần khác là vì hệ thống chính trị tại Hoa Kỳ không theo thể chế đại nghị.
Triết lý kinh tế khuynh tả của Franklin D. Roosevelt, có ảnh hưởng sâu đậm trên chủ nghĩa tiến bộ Mỹ, đã định hình nghị trình kinh tế của đảng kể từ năm 1932. Liên minh Chính sách kinh tế mới của Roosevelt nắm quyền chính phủ liên bang mãi cho đến thập niên 1970. Những lý tưởng của Phong trào Dân quyền trong thập niên 1960, nhận được sự ủng hộ tích cực của đảng bất kể sự chống đối từ những đảng viên miền Nam vào lúc ấy, tiếp tục soi dẫn các nguyên tắc tự do của đảng.
Lịch sử
Phần này không có nguồn tham khảo nào. |
Nguồn gốc
Đảng Dân chủ có nguồn gốc từ đảng Cộng hòa–Dân chủ (Democratic-Republican) do Thomas Jefferson thành lập năm 1792. Dù vậy, một số học giả cho rằng đảng này ra đời vào năm 1828, những người ủng hộ Andrew Jackson, dưới sự lãnh đạo của Martin Van Buren, cùng các cựu thành viên đảng Liên bang (Federalist) tiến hành thành lập Đảng Dân chủ. Sau khi đảng Liên bang tan rã vào khoảng năm 1816, đảng Cộng hòa Dân-chủ của Jefferson cũng bắt đầu giải thể. Hệ thống dành đặc quyền chọn ứng viên tổng thống cho một nhóm thiểu số tinh hoa của đảng chấm dứt sau năm 1816. Từ đó, đảng bớt xem trọng tính trung thành và báo chí cũng bớt giọng điệu đảng phái. Những thay đổi này dẫn đảng dần đến sự tan rã. Năm 1824, John Quincy Adams, Henry Clay và Andrew Jackson, những ứng cử viên tổng thống hàng đầu của Đảng Dân chủ-Cộng hòa mạnh mẽ kêu gọi giải thể đảng.
Thế kỷ 19
Thời kỳ Jackson

Dưới sự hướng dẫn của nhà tổ chức tài ba Martin Van Buren, cả ba nhân vật này thành lập một chính đảng mới có địa bàn hoạt động trên toàn quốc, kết hợp với những hậu cứ vững chắc tại các tiểu bang, phối hợp với những thủ lĩnh chính trị địa phương tự xưng là "Người theo Jackson". Từ "Dân chủ" xuất hiện trong danh xưng của đảng khoảng năm 1834. Ảnh hưởng địa lý của Đảng Dân chủ cũng tương tự như Đảng Dân chủ-Cộng hòa (cả hai đều có nhiều ảnh hưởng ở Thành phố New York và tiểu bang Virginia, nhưng yếu thế tại vùng New England). Đảng cũ và đảng mới có cùng một thông điệp với nội dung chống thành phần thượng lưu, "giới cầm quyền" và đặt lòng tin vào "nhân dân".
Sự chống đối chủ yếu đến từ đảng Whig mới thành lập. Đảng này hình thành từ phe đối lập chống Jackson. Henry Clay là nhà lãnh đạo quan trọng nhất, nhưng ông này lại thất bại trước Jackson năm 1832. Đảng Dân chủ trong thập niên 1830 là một liên minh phức tạp cấu thành bởi nhiều nhân tố: nông dân trên mọi miền của Hoa Kỳ kết hợp với các nhóm công nhân sinh sống trong các đô thị. Những vấn đề chủ chốt trong thập niên này là sự bảo trợ, thuế quan và Ngân hàng Hoa Kỳ. Các vấn đề kinh tế như Ngân hàng Hoa Kỳ và thuế quan trở nên những điểm nóng từ năm 1828 đến năm 1850, cùng một số vấn đề khác như phân phối đất đai và mở rộng biên giới quốc gia. Nhưng đến thập niên 1850, những vấn đề này bị phủ bóng bởi những tranh luận về nạn nô lệ, tinh thần dân tộc và quyền của các tiểu bang, cuối cùng dẫn đến cuộc Nội chiến.

Van Buren thắng cử năm 1836 nhưng bị đánh bại khi tái tranh cử năm 1840. James Polk dành thắng lợi năm 1844 và tiến hành cuộc chiến chống México, sau đó về hưu. Năm 1848 những người Dân chủ thuộc nhóm Free Soil tách khỏi đảng khiến Zachary Taylor, một anh hùng trong chiến tranh thuộc đảng Whig, dành chiến thắng. Đến phiên đảng Whig lại chia rẽ từ sau năm 1850, cống hiến cơ hội cho Đảng Dân chủ chiếm ưu thế tại hầu hết các tiểu bang. Franklin Pierce đắc cử năm 1852. Thủ lĩnh tại Quốc hội Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ Stephen A. Douglas thúc đẩy thông qua đạo luật Kansas-Nebraska năm 1854 mặc dù có nhiều chống đối. Nhiều đảng viên Dân chủ (nhất là những người thuộc nhóm Free Soil từ năm 1848) gia nhập đảng Cộng hòa vừa mới thành lập. James Buchanan đắc cử năm 1856, nhưng chính sách của ông về tiểu bang Kansas đã khiến Douglas tức giận đến nỗi đã đem đảng đến bên bờ vực chia rẽ.
Nội chiến Hoa Kỳ
Trong thập niên 1850, tiếp theo sự phân rã của đảng Whig, Đảng Dân chủ dần dà cũng bị chia cắt, với cánh miền Nam kiên quyết ủng hộ việc mở rộng chủ trương nô lệ vào những lãnh thổ mới, đối nghịch với chủ trương của đảng Cộng hòa vừa mới thành lập, tìm cách ngăn chặn sự mở rộng nô lệ vào vùng đất mới. Trong kỳ đại hội năm 1860 đề cử ứng viên tổng thống, xảy ra chia rẽ trong nội bộ đảng và những người ly khai quyết định tổ chức một đại hội cạnh tranh. Đảng viên dân chủ miền Bắc đề cử Stephen A. Douglas trong khi người miền Nam đề cử John Breckenridge cho cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860. Kết quả cuộc bầu cử là chiến thắng thuộc về Abraham Lincoln thuộc đảng Cộng hòa, bảy tiểu bang miền Nam rút khỏi liên bang dẫn đến cuộc Nội chiến. Trong cuộc chiến, đảng viên Dân chủ miền Bắc chia thành hai phe, Dân chủ Chiến tranh, ủng hộ các chính sách quân sự của Tổng thống Lincoln, và nhóm Copperhead, mạnh mẽ chống đối.
Tái thiết
Dù bị tan tác sau cuộc chiến, Đảng Dân chủ hưởng lợi nhờ lòng phẫn uất của người miền Nam trong Thời kỳ Tái thiết, sau đó là thái độ thù nghịch của người dân trong vùng đối với đảng Cộng hòa. Khi Thời kỳ Tái thiết chấm dứt bởi Thoả hiệp năm 1877, và trong thập niên 1890 quyền bầu cử của người da đen bị tước bỏ, miền Nam suốt trong gần một thế kỷ luôn luôn bầu cho Đảng Dân chủ. Ở hầu hết các bang miền Nam, trên thực tế hầu như chỉ có một đảng, và chiến thắng của Đảng Dân chủ trong kỳ bầu cử sơ bộ là "tương đương với việc đắc cử". Trong thập niên 1880, trên bình diện quốc gia tình thế có vẻ cân bằng hơn. Mặc dù đảng Cộng hòa tiếp tục kiểm soát Nhà Trắng kể từ năm 1885, Đảng Dân chủ vẫn duy trì được thế cạnh tranh, với hậu cứ vững chắc tại miền Nam và sức mạnh to lớn ở vùng nông thôn Tây bắc, các cộng đồng dân tộc Đức và Ireland sinh sống trong các đô thị, các thị trấn công nghiệp và những láng trại thuộc khu hầm mỏ ở vùng Đông Bắc. Trong suốt phần lớn quãng thời gian này, họ giành được quyền kiểm soát Hạ viện. Năm 1884, Grover Cleveland, thống đốc Dân chủ tiểu bang New York, người có khuynh hướng cải cách, đắc cử tổng thống và tái đắc cử năm 1892. Nhưng ông bị đánh bại trong cuộc bầu cử năm 1888.
Thế kỷ 20
Thời kỳ Tiến bộ

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1896, đảng viên Dân chủ ủng hộ nhóm Free Silver đánh bại phe bảo thủ trong đảng giành quyền đề cử William Jennings Bryan. Bryan, trong chiến dịch vận động, mạnh mẽ tấn công những quyền lợi tài chánh miền Đông, nhưng thất bại trước William McKinley trong cuộc bầu cử mang tính quyết định: đảng Cộng hòa chiếm giữ Nhà Trắng suốt 28 năm trong giai đoạn lịch sử kéo dài 36 năm (1896 – 1932). Đảng Cộng hòa kiểm soát phần lớn miền Đông Bắc, Tây Bắc và một nửa miền Tây. Bryan, được hậu thuẫn bởi những tiểu bang miền Nam và vùng đồng bằng, chỉ đủ mạnh để được đề cử ứng viên tổng thống năm 1900 (thua McKinley) và năm 1908 (thua Taft). Phe bảo thủ chống Bryan kiểm soát kỳ đại hội tổ chức năm 1904, nhưng lại đối diện với sức mạnh áp đảo của Theodore Roosevelt. Bryan từ bỏ nhóm Free Silver và luận điệu chống đế quốc để quay sang ủng hộ trào lưu tiến bộ đang thịnh hành. Năm 1912, Bryan ủng hộ Woodrow Wilson và được thưởng công bằng chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao, nhưng sau đó, năm 1916, ông từ chức để phản đối chính sách diều hâu (non-pacifistic) của Wilson.
Tận dụng tình trạng phân hóa bên trong đảng Cộng hòa, năm 1910 những người Dân chủ giành quyền kiểm soát Hạ viện, và giúp đưa một nhà trí thức có khuynh hướng cải cách, Woodrow Wilson, nắm giữ chức tổng thống từ năm 1912 đến năm 1916. Wilson đã thành công trong nỗ lực thuyết phục Quốc hội thông qua một loạt các đạo luật tiến bộ (progressive) như cắt giảm thuế quan, nâng cao hiệu lực các đạo luật chống độc quyền (antitrust), Hệ thống Dự trữ Liên bang, chi trả phúc lợi cho công nhân đường sắt và cấm lao động trẻ em (bị đảo ngược bởi Tòa án tối cao). Thêm vào đó, các tu chính hiến pháp dành quyền bầu cử cho phụ nữ và cấm rượu mạnh cũng được thông qua trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống. Wilson đã lãnh đạo Hoa Kỳ đến chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, giúp soạn thảo Hòa ước Versailles, trong đó có việc thành lập Hội Quốc Liên. Nhưng từ năm 1919, giống tình trạng sức khoẻ của ông, kỹ năng chính trị của Wilson bắt đầu suy yếu, và mọi việc đột nhiên trở nên tồi tệ. Thượng viện bác bỏ hòa ước Versailles cũng như Hội Quốc Liên, làn sóng đình công và bạo động nổ ra trên toàn quốc gây ra tình trạng bất ổn. Năm 1924 tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ, một nghị quyết phản đối nhóm Ku Klux Klan (một tổ chức chủ trương kỳ thị chủng tộc) được giới thiệu như là một bản tu chính nghị quyết nhằm kết án các định kiến xã hội và các nhóm thù hận. Đây là một phép thử quyền lực mà Al Smith và Oscar W. Underwood dùng để thách thức sự đề cử dành cho William McAdoo. Sau nhiều tranh luận, nghị quyết bị đánh bại vì thiếu chỉ một phiếu, nhưng McAdoo cũng không thể giành được sự đề cử vì thiếu đa số hai phần ba theo quy định. Đảng Dân chủ bị phân hóa trầm trọng và bị đánh bại bởi đảng Cộng hòa trong những chiến thắng áp đảo vào các năm 1920, 1924 và 1928. Tuy nhiên, năm 1928 Al Smith đã kịp xây dựng một hậu cứ vững chắc trong vòng những cộng đồng Công giáo sinh sống tại các thành phố lớn, cùng lúc sự kiện Franklin D. Roosevelt đắc cử Thống đốc tiểu bang New York đã mang nhà lãnh đạo mới xuất hiện này vào tâm điểm của sân khấu chính trị Hoa Kỳ.
Thập niên 1930-1960 vào sự trỗi dậy của liên minh Chính sách kinh tế mới


Năm 1929, cuộc Đại khủng hoảng nổ ra trong nhiệm kỳ tổng thống của Herbert Hoover thuộc Đảng Cộng hòa và Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát, dọn đường cho Đảng Dân chủ lên nắm quyền. Đảng Dân chủ chiếm đa số tại Hạ viện gần như liên tục từ năm 1930 đến năm 1994, chiếm đa số tại Thượng viện trong 44 năm từ năm 1930 và thắng cử hầu hết các cuộc bầu cử tổng thống cho đến năm 1968. Franklin D. Roosevelt trúng cử tổng thống vào năm 1932 và thi hành Chính sách kinh tế mới, bao gồm siết chặt quản lý doanh nghiệp (đặc biệt là ngành tài chính và ngân hàng), ủng hộ công đoàn, thiết lập các chương trình trợ cấp thất nghiệp, nông dân và tiến hành các dự án công chính quy mô lớn.[14] Phe đối lập bắt đầu tự gọi bản thân là "bảo thủ".[15]

Nhiều lãnh tụ đảng đã sẵn sàng để đánh đổ Truman, nhưng chưa có cơ hội. Truman phản công, loại trừ Strom Thurmond cùng cánh da trắng miền Nam (Dixiecrat), và tiến hành một động thái chiến lược táo bạo bằng cách triệu tập một phiên họp đặc biệt tại Quốc hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng hòa, trình những dự luật mà ông biết chắc là họ sẽ bác bỏ, để rồi khi tình thế trở nên bế tắc, ông tổ chức một chuỗi các cuộc vận động liên hoàn trên toàn quốc để cáo buộc họ là Quốc hội khoá thứ 80 "Không chịu làm gì". Trong một cuộc bầu cử có lẽ là đáng kinh ngạc nhất trong thế kỷ 20, năm 1948 Truman đánh bại Thomas Dewey để tái đắc cử, đồng thời Đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát Quốc hội. Dù vậy, những đề án Fair Deal của Truman như kế hoạch chăm sóc sức khoẻ cho mọi người, bị đánh bại bởi liên minh bảo thủ ở quốc hội.
Năm 1952, Dwight D. Eisenhower chiếm lại Nhà Trắng cho đảng Cộng hòa sau khi đánh bại thống đốc bang Illinois Adlai Stevenson. Bốn năm sau, Eisenhower lặp lại chiến thắng trước Stevenson. Trong quốc hội, bộ đôi gốc Texas, Chủ tịch Hạ viện Sam Rayburn và lãnh tụ phe đa số Thượng viện Lyndon B. Johnson, cùng nhau cầm giữ đảng dưới bóng của vị anh hùng thời chiến tranh, Eisenhower.


Thập niên 1960-1980 và sự suy tàn của liên minh Chính sách kinh tế mới
Đảng Cộng hòa bắt đầu thu hút thành phần bảo thủ và cử tri miền Nam da trắng từ liên minh Đảng Dân chủ sau thập niên 1960 bằng chiến lược miền Nam và sự phản kháng đối với Chính sách kinh tế mới và chương trình Great Society. Cho đến thập niên 1950, người Mỹ gốc Phi thường ủng hộ Đảng Cộng hòa vì lập trường ủng hộ dân quyền, chống nô lệ của đảng. Sau khi Quốc hội thông qua Luật Dân quyền 1964 và Luật Quyền bầu cử 1965, các tiểu bang miền Nam bắt đầu ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, trong khi các tiểu bang Đông Bắc nghiêng sang Đảng Dân chủ.[16][17][18][19] Các nghiên cứu cho thấy người da trắng miền Nam, từng là một khối cử tri vững chắc của Đảng Dân chủ, chuyển sang ủng hộ Đảng Cộng hòa vì yếu tố chủng tộc và chủ nghĩa bảo thủ xã hội.[20][21][22]
Thượng nghị sĩ John F. Kennedy thành công trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960, đánh bại phó tổng thống đương chức Richard Nixon. Dù nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy kéo dài chỉ một ngàn ngày, ông đã cố kiềm chế ảnh hưởng của những người cộng sản sau khi chịu thất bại trong cuộc xâm lăng Vịnh Con Lợn ở Cuba và việc xây dựng Bức tường Berlin, và gửi 16.000 binh sĩ đến Việt Nam. Kennedy thách thức người dân Mỹ tiến vào cuộc Chạy đua vào Không gian để đặt một người Mỹ lên Mặt Trăng trong năm 1969. Sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, ông nỗ lực làm dịu tình hình căng thẳng với Liên Xô. Kennedy thúc đẩy dân quyền và tinh thần hòa hợp chủng tộc, ra lệnh điều động vệ binh liên bang bảo vệ những người tuần hành vì tự do ở miền nam. Tổng thống Kennedy bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dallas, Texas.
Lyndon B. Johnson kế nhiệm Kennedy làm tổng thống và vận động thành công thành phần bảo thủ trong Quốc hội thông qua Luật Dân quyền năm 1964. Khi thành phần tiến bộ chiếm ưu thế trong Quốc hội vào năm 1965, Johnson thông qua chương trình Great Society nhằm giúp đỡ người nghèo, người bệnh và người già, bao gồm Medicare và Medicaid. Nỗ lực bảo vệ dân quyền của Kennedy và Johnson củng cố sự ủng hộ của người da đen đối với Đảng Dân chủ, nhưng làm mất lòng người da trắng miền Nam và đẩy họ sang Đảng Cộng hòa. Nhiều đảng viên Đảng Dân chủ miền Nam bắt đầu chuyển sang Đảng Cộng hòa sau khi Luật Dân quyền năm 1964 được thông qua và Đảng Dân chủ bắt đầu nghiêng về cánh tả.[23][24][25][26]
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1972, Đảng Dân chủ đề cử Thượng nghị sĩ George McGovern với câu khẩu hiệu chống chiến tranh của ông "Hỡi người Mỹ, hãy về nhà". McGovern chủ trương triệt thoái lập tức khỏi Việt Nam và bảo đảm lợi tức tối thiểu cho mọi người dân Mỹ. Trong khi McGovern cố vận động chống các chính sách của Nixon thì những tiết lộ về người đứng cùng liên danh với ông, Thomas Eagleton (từng được điều trị bằng liệu pháp shock điện), trở thành tai họa cho hình ảnh của McGovern. Sargent Shriver, một đồng minh của Daley, được chấp nhận để trở nên ứng viên phó tổng thống. Cuộc tổng tuyển cử là một chiến thắng áp đảo cho Richard Nixon khi McGovern chỉ giành được mỗi một bang Massachussetts. Nhưng Đảng Dân chủ vẫn duy trì được thế đa số ở Quốc hội và tại hầu hết viện lập pháp các tiểu bang.

Vụ tai tiếng Watergate đã huỷ diệt sự nghiệp chính trị của Nixon và cho những người Dân chủ chút ít hi vọng. Khi Tổng thống Gerald Ford ân xá Nixon sau khi ông này từ chức năm 1974, Đảng Dân chủ có cơ hội làm lớn chuyện "thối nát" và giành thắng lợi trong cuộc bầu cử bất thường. Cuộc bầu cử năm 1976 chứng kiến thành công bất ngờ của Thống đốc tiểu bang Georgia, Jimmy Carter, một người bên ngoài ít tiếng tăm nhưng hứa hẹn một tính cách chân thật.
Trong số những thành quả quan trọng của Tổng thống Carter có việc thiết kế chính sách năng lượng quốc gia, và củng cố các cơ quan chính quyền, dẫn đến việc thành lập hai bộ mới, Bộ Năng lượng Hoa Kỳ và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ. Carter dẫn đầu những nỗ lực lưỡng đảng nhằm điều chỉnh các ngành công nghiệp vận tải đường bộ, hàng không, hỏa xa, tài chính, truyền thông và dầu mỏ. Ông hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội, và bổ nhiệm con số kỷ lục phụ nữ và thành phần thiểu số vào các vị trí công quyền và các chức vụ tư pháp. Carter vận động thông qua các đạo luật bảo vệ môi trường và mở rộng Dịch vụ Công viên Quốc gia ở Alaska, thêm 103 triệu mẫu Anh vào thẩm quyền quản lý của liên bang. Về ngoại giao, những thành tựu của Carter là Hiệp ước Trại David, Hiệp ước Kênh đào Panama, thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đàm phán Hòa ước SALT II với Liên Xô. Bên cạnh đó, ông đấu tranh cho nhân quyền trên khắp thế giới và xem nhân quyền là trọng tâm của chính sách đối ngoại.
Mặc dù những thành quả ấy, Carter thất bại trong nỗ lực thực thi kế hoạch y tế quốc gia và cải cách hệ thống thuế như ông đã hứa khi ra tranh cử. Lạm phát tăng cao. Bên ngoài là vụ khủng hoảng con tin ở Iran, 52 người Mỹ bị bắt giữ làm con tin trong 444 ngày, cùng những thất bại trong ngoại giao và quân sự nhằm giải cứu con tin. Sự kiện quân đội Liên Xô chiếm đóng Afghanistan làm suy yếu hình ảnh của Carter đối với người dân Mỹ. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980, Carter đánh bại Ted Kennedy để giành sự đề cử của đảng nhưng lại thất bại trước Ronald Reagan. Đảng Dân chủ mất 12 ghế ở Thượng viện, như thế lần đầu tiên kể từ năm 1954, Đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát Thượng viện. Song Đảng Dân chủ vẫn duy trì thế đa số ở Hạ viện. Dù đã thất bại trong cuộc tuyển cử, Carter vẫn tiếp tục đàm phán tìm kiếm sự phóng thích cho các con tin cho đến phút cuối của nhiệm kỳ.
Nhân tố đóng góp cho thành công của Ronald Reagan thuộc đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 1980 là những người Dân chủ ủng hộ chính sách bảo thủ. Những "người Dân chủ Reagan" này là thành viên Đảng Dân chủ trước và sau nhiệm kỳ của Reagan. Hầu hết là người da trắng ở vùng Đông Bắc và Trung Tây thu hút bởi chủ trương của Reagan, bảo thủ trong nước và diều hâu ở nước ngoài. Reagan chiếm phiếu ở 49 tiểu bang, đánh bại cựu Phó Tổng thống Walter Mondale, một người ủng hộ New Deal, trong cuộc bầu cử năm 1984. Trong cuộc bầu cử năm 1988, Thống đốc tiểu bang Massachussetts, Michael Dukakis, một chuyên gia về hành chính công, thất bại trước Phó Tổng thống George H. W. Bush.
Thập niên 1990 và chủ nghĩa trung dung Con đường thứ ba

Năm 1992, lần đầu tiên trong 12 năm, cử tri Mỹ chọn một chính trị gia Dân chủ để đặt vào Nhà Trắng. Tổng thống Bill Clinton đã cân bằng ngân sách liên bang lần đầu tiên kể từ nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy và giúp kinh tế Mỹ phát triển mạnh cũng như gia tăng lợi tức ở nước ngoài. Năm 1994 chứng kiến mức lạm phát và thất nghiệp được kéo xuống đến mức thấp nhất trong 25 năm. Tổng thống ký ban hành luật Brady, ấn định thời gian chờ đợi năm ngày trước khi mua súng ngắn, và ban hành luật cấm nhiều loại vũ khí bán tự động (luật này đã hết hạn năm 2004). Đạo luật Nghỉ phép Y tế và Gia đình của ông có ảnh hưởng trên 40 triệu người Mỹ, cho họ quyền nghỉ phép có lương và bảo đảm việc làm trong trường hợp nghỉ hộ sản, bệnh tật cá nhân và gia đình. Clinton giúp phục hồi dân chủ ở Haiti, gây áp lực lên các vòng đàm phán hòa bình Palestine-Israel, làm trung gian cho cuộc ngừng bắn lịch sử ở Bắc Ireland, và thương thuyết Hòa ước Dayton, giúp kết thúc bốn năm khủng bố và tàn sát ở vùng đất Nam Tư cũ. Năm 1996, Clinton đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, lần đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt (năm 1944), một tổng thống Dân chủ được tín nhiệm trong hai nhiệm kỳ liên tiếp.
Đảng Dân chủ mất thế đa số tại Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 1994. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, Clinton được tái cử nhiệm kỳ thứ hai, là tổng thống thuộc Đảng Dân chủ đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt được tái cử. Tháng 12 năm 1998, Hạ viện do Đảng Cộng hòa kiểm soát đàn hặc Clinton vì vụ bê bối Clinton–Lewinsky, nhưng Thượng viện tuyên trắng án ông vào tháng 2 năm 1999.[27] Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000, Phó Tổng thống Al Gore của Clinton thất cử trước George W. Bush sau khi Tòa án Tối cao đình chỉ việc kiểm lại phiếu bầu phổ thống tại Florida trong một phán quyết gây tranh cãi.[28]
Thế kỷ 21
Sau sự kiện 11 tháng 9 và mối quan tâm ngày càng tăng về biến đổi khí hậu, Đảng Dân chủ bắt đầu tập trung phòng, chống khủng bố, bảo vệ nhân quyền, quyền lao động, môi trường và mở rộng quyền tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh. Đảng Dân chủ giành lại thế đa số tại Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 2006. Barack Obama được bầu làm tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên vào năm 2008. Trong nhiệm kỳ của Obama, Đảng Dân chủ tiến hành kích cầu nền kinh tế, cải cách hệ thống tài chính và cải tổ hệ thống y tế thông qua Luật Bảo vệ bệnh nhân và Chăm sóc sức khỏe hợp túi tiền.[29][30]
Thập niên 2000-2010 và thời kỳ Obama
Trong cuộc bầu cử năm 2010, Đảng Dân chủ mất đa số tại Hạ viện, một số nghị viện tiểu bang và thất cử một số thống đốc tiểu bang. Cuộc bầu cử năm 2010 cũng đánh dấu sự thoái trào sức hút cử tri của Đảng Dân chủ tại Nam Hoa Kỳ.[31]
Trong cuộc bầu cử năm 2012, Tổng thống Obama được tái cử nhiệm kỳ thứ hai và Đảng Dân chủ duy trì thế đa số tại Thượng viện, nhưng không đạt được đa số tại Hạ viện. Đảng Dân chủ mất thế đa số tại Thượng viện trong cuộc bầu cử năm 2014. Sau khi Donald Trump đánh bại Hillary Clinton và trúng cử tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, Đảng Dân chủ giữ vai trò đảng đối lập trong hai năm.[32] Đảng Dân chủ giành lại thế đa số trong Hạ viện trong cuộc bầu cử năm 2018 dưới sự lãnh đạo của Nancy Pelosi.
Thập niên 2020 và sự đối lập đối với Trump
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, Joe Biden đánh bại Trump và trúng cử tổng thống.[33] Sau vụ bạo loạn tại Điện Capitol vào ngày 6 tháng 1, Biden nhậm chức với một đa số Đảng Dân chủ rất nhỏ tại Hạ viện và Thượng viện.[34][35] Trong nhiệm kỳ tổng thống của Biden, Đảng Dân chủ được đánh giá là chủ trương những chính sách kinh tế tiến bộ.[36] Năm 2022, Biden bổ nhiệm Ketanji Brown Jackson làm nữ thẩm phán da đen đầu tiên của Tòa án Tối cao thay thế Stephen Breyer.[37][38][39][40] Sau khi phán quyết Dobbs kiện Jackson Women's Health Organization khiến cho quyền phá thai bị cấm hoặc hạn chế nghiêm trọng tại nhiều tiểu bang, Đảng Dân chủ bắt đầu vận động ủng hộ quyền phá thai.[41]
Vị thế hiện tại
Tính đến năm 2025, Đảng Dân chủ nắm giữ 23 chức thống đốc tiểu bang, chiếm đa số tại 17 cơ quan lập pháp tiểu bang, kiểm soát chính quyền tại 15 tiểu bang và nắm đa số chức thị trưởng các thành phố lớn của Hoa Kỳ.[42] Ba trong số chín thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đương nhiệm do tổng thống thuộc Đảng Dân chủ bổ nhiệm. Đảng Dân chủ là chính đảng có số lượng đảng viên lớn nhất tại Hoa Kỳ và lớn thứ tư trên thế giới.
Tổ chức
Ủy ban Toàn quốc
Ủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ phụ trách tổ chức phối hợp thích đáng hoạt động tranh cử của Đảng Dân chủ. Mặc dù Ủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ cũng phụ trách trông coi đốc xúc quá trình biên soạn quan điểm chính trị, nhưng mà nó chủ yếu vẫn tập trung vào hoạt động tranh cử và sách lược tổ chức, mà không phải là chính sách công chỉnh thể. Về bầu cử tổng thống nó phụ trách lãnh đạo toàn cục quá trình tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Dân chủ, đã bao gồm giai đoạn bầu cử sơ bộ, quyên tiền, đo lường khảo sát ý kiến nhân dân, và hoà hợp nhất trí sách lược tranh cử. Sau khi chọn ra người đề cử, dựa vào điều luật quyên tiền tuyển cử, hoạt động quyên tiền tranh cử vượt qua kim ngạch nhất định chỉ có thể tiến hành ở bên trong kết cấu của chính đảng.[43]
Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ là do thành viên Ủy ban chọn ra cách mỗi bốn năm.[44] Lúc tổng thống là đảng tịch dân chủ, thành viên của Ủy ban thông thường sẽ ủng hộ ứng viên được chọn lựa làm tổng thống đảm nhiệm chủ tịch. Ông Howard Dean đánh bại rất nhiều đối thủ trúng cử làm chủ tịch vào đầu năm 2005, ông ấy chủ trương Đảng Dân chủ không nên tập trung vào bang rung lắc mà mức ủng hộ đó chênh lệch gần giống nhau với Đảng Cộng hoà, nên ông ấy đã nêu ra cái gọi là "Chiến lược Năm mươi bang". Mục tiêu của ông ấy là cần khiến cho Đảng Dân chủ giành được thắng lợi ở trong chiến dịch tuyển cử của mỗi bang và mỗi tầng lớp, mỗi vùng bầu cử của cả nước đều có tổ chức đảng bộ kiện toàn.[45]
Dựa vào Điều lệ Đảng Dân chủ, thực ra Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Dân chủ mới phải là quyền uy cao nhất của Đảng Dân chủ, mà không phải là Ủy ban Toàn quốc, Ủy ban Toàn quốc chỉ là phụ trách tổ chức hoạt động chính đảng thông thường.[44] Ủy ban Toàn quốc là do đại biểu của đảng bộ Đảng Dân chủ của mỗi bang hợp thành, thứ tự xếp đặt chỗ ngồi của tổng cộng hai trăm vị đại biểu dựa vào nhân khẩu của mỗi bang mà phân chia, nên đại biểu thông thường là do bầu cử sơ bộ của các bang hoặc đảng bộ địa phương chọn ra, những vị đại biểu được chọn ra này cũng sẽ đảm nhiệm chức vị khác, có một ít cũng là Hạ nghị sĩ ở các nơi của Đảng Dân chủ.
Ủy ban, nhóm quan trọng
Ủy ban Tranh cử Quốc hội Đảng Dân chủ (Democratic Congressional Campaign Committee, viết tắt DCCC) phụ trách hiệp trợ bầu cử Hạ viện các nơi, nó đã chiêu tập tiền vốn hơn 10 triệu đô la Mĩ ở trong cuộc bầu cử năm 2005 - 2006. Chủ tịch Ủy ban Tranh cử Quốc hội Đảng Dân chủ trước đây là Hạ nghị sĩ bang Illinois ông Rahm Emanuel. Ngoài ra cũng có Ủy ban Tranh cử Thượng viện Đảng Dân chủ (Democratic Senatorial Campaign Committee), cùng một kiểu cũng chiêu tập tiền vốn số lượng nhiều cho ứng viên các nơi trong cuộc bầu cử Thượng viện, đảm nhiệm chủ tịch chính là Thượng nghị sĩ bang New York ông Chuck Schumer.
Tổ chức quyên tiền quy mô khá nhỏ khác đã bao gồm Ủy ban Tranh cử Quốc hội Đảng Dân chủ - đoàn thể phụ trách bầu cử Quốc hội cấp địa phương và bang. Dưới quyền Ủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ cũng có hai tổ chức người thanh niên: Ban Thanh niên Đảng Dân chủ (Young Democrats of America) và Ban Người Đảng Dân chủ Học viện (College Democrats).
Đảng tiểu bang
Mỗi bang đều có sẵn đảng bộ độc lập, do thành viên Ủy ban chọn ra hợp thành (thông thường là quan chức được chọn ra cùng với Hạ nghị sĩ của vùng bầu cử chủ yếu), và lại do họ chọn ra chủ tịch đảng bộ. Do đó Ủy ban cấp thành phố, thị trấn, quận và vùng bầu cử thông thường là do nhân viên các cấp các tầng lớp của nơi đó chọn ra mà hợp thành, Ủy ban cấp địa phương và bang thông thường dựa vào quyền xét xử của chúng nó mà hoà hợp nhất trí hoạt động tranh cử, trông coi đốc xúc Đại hội đại biểu cấp địa phương hoặc là bầu cử sơ bộ và hội nghị cán bộ, có lúc cũng sẽ dựa vào pháp luật và quy định của bang, địa phương đó mà đề cử tên ứng viên. Mặc dù họ thông thường lấy được rất ít tiền vốn do quyên tiền, vào năm 2005 chủ tịch đảng lúc đó ông Howard Dean đã mở đầu một kế hoạch mới, lấy tiền tiền vốn của Ủy ban Toàn quốc hiệp trợ đảng bộ cấp địa phương và bang, và lại mướn dùng công chức đảng bộ toàn chức. Ông Dean cảm thấy vô cùng không vừa lòng đối với việc Ủy ban Tranh cử Thượng viện và Hạ viện yêu cầu liên miên không ngớt tập trung đầu tư của cải vốn liếng để đánh cuộc vào các bang tới gần tình hình tuyển cử, do đó quyết định đem tất cả tiền vốn phân phối đồng đều cho các bang, mà bất luận tình hình tuyển cử của chúng tốt hay xấu.[46]
Lập trường
| Bài viết này là một phần của loạt bài về |
| Chính trị Hoa Kỳ |
|---|
Truyền thông Hoa Kỳ mô tả Đảng Dân chủ là một chính đảng thiên tả.[47] Những nhà phân tích bao gồm Harold Meyerson và William Galston nhận xét rằng nhiều lập trường chính sách, phe phái của Đảng dân chủ sẽ được phân loại là trung dung theo tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là tiêu chuẩn của châu Âu, và thường được coi là tương tự với những đảng tự do trung dung (ví dụ như những đảng liên kết với ALDE/Renew hoặc Đảng Dân chủ Tự do Anh) hơn là những đảng dân chủ xã hội truyền thống; Đảng Dân chủ cũng bao gồm những nhóm cánh tả (ví dụ như "Squad") bên cạnh khối trung dung trong khối cử tri của đảng.[48][49][50]
Kể từ thập niên 1890, Đảng Dân chủ ủng hộ lập trường "tự do" (theo nghĩa tự do xã hội, không phải tự do cổ điển). Trong các cuộc thăm dò tại phòng phiếu, Đảng Dân chủ có sự ủng hộ rộng rãi từ các thành phần kinh tế, chủng tộc, xã hội khác nhau.[51][52][53] Hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ gồm có thành phần trung lưu học vấn cao chủ trương tiến bộ, cũng như tầng lớp công nhân có khuynh hướng xã hội bảo thủ.[54] Đảng Dân chủ hiện là chính đảng lớn nhất Hoa Kỳ.
Trong những thập niên gần đây, đảng chấp nhận một nghị trình chủ trương trung tả về kinh tế và tiến bộ về xã hội, khiến thành phần cử tri ủng hộ cũng thay đổi đáng kể. Từng được hậu thuẫn bởi đông đảo cử tri thuộc các nghiệp đoàn và giai tầng công nhân, nay đảng dựa vào thành phần tiến bộ xã hội có học thức với lợi tức trên mức trung bình, và tầng lớp lao động có chủ trương bảo thủ trong các vấn đề xã hội. Ngày nay, đảng viên Dân chủ vận động thêm quyền tự do xã hội, chương trình bảo trợ các sắc dân thiểu số (affirmative action), cân đối ngân sách, và hệ thống doanh nghiệp tự do có sự can thiệp của chính phủ khi cần thiết. Quyết sách kinh tế của đảng thực hiện bởi chính phủ Clinton được mệnh danh "Lập trường Trung dung" (Third Way).[55] Đảng Dân chủ tin rằng chính quyền nên thủ giữ một vai trò trong nỗ lực giảm nghèo và xoá bỏ những bất công xã hội, ngay cả khi điều này có nghĩa là phải dành cho chính quyền nhiều quyền lực hơn cũng như phải tăng thuế để chi trả cho các dịch vụ xã hội. Khảo sát của hãng Gallup vào tháng 8/2018 cho thấy 57% số người theo Đảng Dân chủ thích chủ nghĩa xã hội. Các nhóm theo chủ nghĩa xã hội và dân chủ xã hội hầu như đều gia nhập Đảng Dân chủ tạo thành cánh tả của đảng này.[56]
Lập trường xã hội của Đảng Dân chủ theo chủ nghĩa tự do văn hóa và chịu ảnh hưởng của phong trào Cánh tả mới, bao gồm chủ nghĩa nữ quyền, quyền LGBT, cải cách chính sách ma túy và chủ nghĩa môi trường.[57][58][59][60] Cương lĩnh Đảng Dân chủ ủng hộ một nhà nước phúc lợi và tăng cường bình đẳng xã hội, kinh tế.[61] Về các vấn đề xã hội, Đảng Dân chủ chủ trương bảo vệ quyền phá thai,[62] hợp pháp hóa cần sa[63] và bảo vệ quyền LGBT.[64]
Vấn đề kinh tế
Tài chính
Đảng Dân chủ ủng hộ áp thuế lũy tiến để cung cấp dịch vụ và giảm bất bình đẳng kinh tế bằng cách yêu cầu thành phần thu nhập cao trả thêm thuế. Đảng Dân chủ tin rằng mức thâm hụt ngân sách to lớn sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế, dẫn đến sự bất ổn thị trường và bị buộc hoặc phải cắt giảm các loại dịch vụ công hoặc tìm kiếm nguồn thu mới, thường là tăng thuế. Đảng Dân chủ chống chủ trương chi tiêu đến độ thâm hụt ngân sách.
Hiện họ đang cố đảo ngược chương trình của chính phủ Bush giảm thuế cho thành phần giàu nhất, trong khi vẫn giữ nguyên mức thuế cho giới trung lưu.[65] Đại thể, các đảng viên Dân chủ hậu thuẫn chủ trương cho rằng chính phủ cần chi tiêu nhiều hơn cho các loại hình dịch vụ xã hội, mà cắt giảm các chi tiêu quốc phòng.[66][67] Họ chống đối việc cắt giảm các dịch vụ xã hội như an sinh xã hội, Medicare, Mecicaid, và các chương trình phúc lợi khác,[68] vì tin rằng những cắt giảm này sẽ làm gia tăng sự bất công xã hội.
Lương tối thiểu
Đảng Dân chủ ủng hộ tăng lương tối thiểu. Luật Lương tối thiểu công bằng 2007, một phần của chương trình nghị sự Đảng Dân chủ tại Quốc hội khóa 110, tăng mức lương tối thiểu liên bang lên 7,25 đô la Mỹ. Năm 2006, đề xuất tăng lương tối thiểu tại sáu tiểu bang được thông qua với sự ủng hộ của Đảng Dân chủ.[69]
Y tế
Đảng Dân chủ ủng hộ "chăm sóc sức khỏe giá cả phải chăng, chất lượng" và chủ trương thiết lập một hệ thống y tế toàn dân dưới nhiều hình thức nhằm giảm chi phí khám, chữa bệnh ngày càng tăng. Thành phần tiến bộ trong Đảng Dân chủ ủng hộ một hệ thống y tế do nhà nước chi trả hoặc Medicare for All, trong khi thành phần tự do ủng hộ một hệ thống bảo hiểm y tế công lập.[70]
Môi trường
Quan điểm của Đảng Dân chủ về môi trường là sức khỏe của các gia đình và sức mạnh của nền kinh tế phụ thuộc vào khả năng bảo vệ môi trường sống. Họ cam kết tranh đấu để tăng cường luật lệ bảo đảm cho người dân không khí trong lành để thở, và nước sạch để uống. Họ tin rằng chính sách năng lượng thích hợp sẽ là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế, an ninh quốc gia, và môi trường trong lành.[71]
Mối quan tâm lớn nhất của các đảng viên Dân chủ trong lĩnh vực môi trường là tình trạng hâm nóng toàn cầu, nổi bật nhất là cựu Phó Tổng thống Al Gore, người đang vận động thông qua các luật lệ hạn chế khí thải nhà kính. Ngày 15 tháng 10 năm 2007, Gore được trao Giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực xây dựng sự nhận thức về sự biến đổi khí hậu do con người gây ra, cũng như lập nền cho các biện pháp cần thiết nhằm đối phó với chúng. Ông khẳng định, "sự khủng hoảng khí hậu không phải là một vấn đề chính trị, nó là một thách thức tâm linh và đạo đức đối với toàn thể nhân loại."[72]
Vấn đề xã hội
Cơ hội bình đẳng
Đảng Dân chủ ủng hộ quyền Bình đẳng trong Cơ hội cho tất cả người dân Mỹ không phân biệt giới tính, tuổi tác, chủng tộc, khuynh hướng tình dục, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc nguồn gốc chủng tộc.
Đảng Dân chủ hậu thuẫn chính sách ưu đãi dành cho thành phần thiểu số (affirmative action) như là một cách sửa chữa sự kỳ thị trong quá khứ và bảo đảm sự tuyển dụng công bằng mà không phận biệt chủng tộc hay giới tính, nhưng chống lại việc sử dụng định mức (quota) trong thuê mướn nhân công. Đảng Dân chủ mạnh mẽ ủng hộ Đạo luật Người Mỹ với người Khuyết tật nhằm cấm đoán sự kỳ thị đối với người khác dựa trên sự khiếm khuyết về thể chất hoặc trí tuệ.
Quyền LGBT
Lập trường của Đảng Dân chủ về quyền LGBT đã thay đổi mạnh mẽ theo thời gian.[73][74] Trước thập niên 2000, Đảng Dân chủ đồng quan điểm với Đảng Cộng hòa và thường xuyên có lập trường chống quyền LGBT. Tính đến thập niên 2020, cả cử tri lẫn quan chức dân cử thuộc Đảng Dân chủ nhiệt liệt ủng hộ LGBT.[73]
Quyền phá thai
Đảng Dân chủ tin rằng tất cả phụ nữ có quyền tiếp cận với các biện pháp tránh thai, họ ủng hộ việc sử dụng ngân sách trợ giúp tránh thai cho phụ nữ nghèo. Trên diễn đàn của đảng năm 2000 và 2004, họ ủng hộ việc phá thai "an toàn, hợp pháp và hạn chế" – nghĩa là hợp pháp hóa phá thai bằng cách huỷ bỏ những luật lệ cho phép chính phủ can thiệp vào quyết định phá thai, đồng thời giảm thiểu số lượng ca phá thai bằng cách quảng bá kiến thức về sinh sản và ngừa thai, cũng như khuyến khích việc nhận con nuôi.
Cương lĩnh Đảng Dân chủ năm 2020 tuyên bố rằng "Đảng Dân chủ tin rằng mỗi người phụ nữ đề có quyền tiếp cận dịch vụ y tế sinh sản chất lượng cao, bao gồm dịch vụ phá thai an toàn và hợp pháp."[75]
Sau khi án lệ Roe kiện Wade (1973) bị bãi bỏ trong vụ Dobbs kiện Tổ chức Sức khỏe Phụ nữ Jackson (2022), những tiểu bang do Đảng Dân chủ kiểm soát bắt đầu ban hành luật, trưng cầu ý dân để đảm bảo quyền phá thai. Số lượng ca phá thai tại Hoa Kỳ tăng sau phán quyết Dobbs vì phụ nữ bắt đầu di chuyển đến những tiểu bang cho phép phá thai.[76][77]
Vấn đề pháp luật
Kiểm soát súng
Đảng Dân chủ tập chú vào các phương pháp ngăn ngừa tội phạm, tin rằng các biện pháp ngăn ngừa sẽ tiết kiệm tiền thuế do người dân đóng góp, được dùng để chi trả cho lực lượng cảnh sát và chi phí y tế, cũng như ngăn chặn được các vụ sát nhân. Họ nhấn mạnh đến biện pháp cải thiện hệ thống cảnh sát cộng đồng và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cảnh sát đang thi hành nhiệm vụ, hầu có thể đạt được mục tiêu này. Cương lĩnh của đảng cũng đề cập đến nạn bạo hành gia đình, kêu gọi ban hành luật lệ nghiêm khắc trừng phạt người vi phạm và bảo vệ nạn nhân.
Trong mục tiêu giảm thiểu tội phạm và các vụ sát nhân, trong một trăm năm qua, Đảng Dân chủ đã đưa ra các biện pháp kiểm soát vũ khí, đáng kể nhất là Đạo luật Giải giáp Quốc gia năm 1934 và Đạo luật Kiểm soát Vũ khí năm 1939 (ký ban hành bởi Tổng thống Franklin D. Roosevelt), Đạo luật Kiểm soát súng năm 1968 (đệ trình bởi Thượng nghị sĩ Christopher Dodd với sự hậu thuẫn của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy), Dự luật Brady năm 1993 và Đạo luật Kiểm soát Tội phạm năm 1994 (ký ban hành bởi Tổng thống Bill Clinton). Dù vậy, nhiều thành viên Đảng Dân chủ, nhất là ở thôn quê, miền Nam và miền Tây không mặn mà gì với các biện pháp hạn chế sở hữu vũ khí.
Đảng Dân chủ không phản đối việc sở hữu súng.[78] Theo một cuộc khảo sát năm 2023 của Trung tâm Nghiên cứu Pew, 20% đảng viên Đảng Dân chủ sở hữu súng, so với 32% công chúng và 45% đảng viên Đảng Cộng hòa.[79]
Quyền riêng tư
Đảng Dân chủ ủng hộ quyền riêng tư cá nhân. Ví dụ: nhiều đảng viên Đảng Dân chủ phản đối chương trình giám sát không lệnh của Cơ quan An ninh Quốc gia.[80][81]
Tất cả thượng nghị sĩ Dân chủ ngoại trừ Russ Feingold đều bỏ phiếu thông qua Đạo luật PATRIOT. Sau khi bày tỏ lo ngại về việc "xâm phạm vào đời tư" và các hạn chế tự do dân sự khác của đạo luật, Đảng Dân chủ bị phân hóa khi đạo luật này được gia hạn năm 2006. Hầu hết thượng nghị sĩ đều bỏ phiếu đồng ý gia hạn đạo luật trong khi hầu hết Hạ nghị sĩ bỏ phiếu chống.
Đối ngoại
Đảng Dân chủ ủng hộ chủ nghĩa quốc tế tự do và lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc và Nga.[82][83][84]
Phe phái
Với 72 triệu thành viên đăng ký, Đảng Dân chủ là một cấu trúc đa dạng về ý thức hệ, trong đó thành phần tiến bộ (progressive) chiếm đa số, cũng là nhóm đảng viên có nhiều ảnh hưởng nhất trong đảng.
Tiến bộ
Những thành viên có khuynh hướng tự do xã hội, còn gọi là thành phần tiến bộ hoặc tự do hiện đại, chiếm đa số, khoảng 45,6%, trong tổng số phiếu bầu cho Đảng Đảng chủ. Theo Pew Research Center, thành phần tự do chiếm 19% tổng số phiếu bầu với 92% cử tri Mỹ có khuynh hướng tự do ủng hộ Đảng Dân chủ.[54] Những người có nghề nghiệp chyên môn đã tốt nghiệp đại học từng ủng hộ Đảng Cộng hòa mãi cho đến thập niên 1950 nay là thành phần nòng cốt của Đảng Dân chủ.[85] Đa số những người chủ trương tự do ủng hộ việc sử dụng các đối sách ngoại giao thay vì các biện pháp quân sự, việc nghiên cứu tế bào gốc, hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, chính quyền thế tục, kiểm soát súng chặt chẽ hơn, các luật lệ bảo vệ môi trường, cũng như bảo vệ quyền phá thai. Họ có quan điểm tích cực về tình trạng nhập cư và đa dạng văn hóa, nhưng phân hóa về các thỏa ước và tổ chức thương mại như NAFTA. Phần lớn chống đối việc gia tăng quân sự và trưng bày Mười Điều răn tại các tòa nhà công cộng.[54]
Theo Pew Research Center, có 41% những người hậu thuẫn Đảng Dân chủ sống trong những ngôi nhà dành cho giới giàu có, 49% đã tốt nghiệp đại học, tỷ lệ cao nhất trong các thành phần dân số, có tỷ lệ gia tăng nhanh nhất từ cuối thập niên 1990 đến đầu thập niên 2000.[54] Cánh tự do chiếm phần lớn giới trí thức,[86] và đông đảo người thuộc tầng lớp chuyên nghiệp.[51][52][53]
Tự do
Những người ủng hộ quyền tự do dân sự thường hậu thuẫn Đảng Dân chủ do lập trường của đảng về các vấn đề như dân quyền, và sự phân lập giữa giáo hội và nhà nước tương đồng với họ hơn quan điểm của Đảng Cộng hòa, mặt khác nghị trình kinh tế của Đảng Dân chủ thu hút họ hơn nghị trình của Đảng Tự do. Những người này chống việc kiểm soát súng, bảo hộ mậu dịch, ưu đãi doanh nghiệp, nợ chính phủ, và chính sách ngoại giao can thiệp.
Trung dung
Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác biệt trong cánh trung dung của Đảng Dân chủ, những người này cố thúc đẩy một thái độ hòa hợp về các lý tưởng chính trị. So với các nhóm khác trong đảng, cánh trung dung có quan điểm tích cực hơn về việc sử dụng quân lực, ngay cả trong chiến tranh Iraq, muốn cắt giảm phúc lợi, như được thể hiện qua việc họ ủng hộ các kế hoạch cải cách phúc lợi và cắt giảm thuế. Là một trong những thành phần có ảnh hưởng lớn nhất trong Hội đồng Lãnh đạo Dân chủ (Democratic Leadership Council - DLC), một tổ chức phi vụ lợi cổ xúy lập trường trung dung trong đảng. DLC hoan nghênh Tổng thống Bill Clinton và xem chính phủ của ông như là một chứng cứ sinh động cho lập trường trung dung, và là một thành quả của DLC. Cựu Hạ nghị sĩ Harold Ford, Jr. (Tennessee) hiện là chủ tịch DLC.
Thành phần cử tri
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, Đảng Dân chủ giành được sự ủng hộ lớn nhất trong số cử tri có thu nhập cao,[87][88][89] sinh sống tại các khu vực thành thị,[90][91] tốt nghiệp đại học,[92][93][94][95][96] tự nhận là vô thần, bất khả tri hoặc Do Thái; người Mỹ gốc Phi,[97][98] LGBT+ và chưa kết hôn.[99][100][101] Cụ thể thì hai nhóm cử tri lớn nhất của Kamala Harris trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 là người Mỹ gốc Phi (86–13%) và cử tri LGBT (86–12%).[102]
Giáo dục
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, cử tri da trắng có bằng đại học tại tất cả 50 tiểu bang ủng hộ Đảng Dân chủ nhiều hơn cử tri da trắng không có bằng đại học.[103][104] Trình độ học vấn đại học của cử tri da trắng tỷ lệ thuận với sự ủng hộ Đảng Dân chủ.[105]
| “ | Thành phần có nghề nghiệp chuyên môn, là những người đã tốt nghiệp đại học, chuyên tạo ra các ý tưởng và các loại hình dịch vụ, từng là những đảng viên Cộng hòa kiên định có mặt trong mọi nghề nghiệp... ngày này phần lớn làm việc trong bộ máy hành chính và các tập đoàn kinh tế hơn là làm chủ doanh nghiệp. Họ chịu ảnh hưởng sâu đậm từ các phong trào bảo vệ môi trường, dân quyền, và nữ quyền – bắt đầu bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Trong bốn kỳ bầu cử từ năm 1998 đến 2000, tỷ lệ ủng hộ Đảng Dân chủ trong giới này trung bình là 52% so với 40% (cho Đảng Cộng hòa) - John B. Judis và Ruy Teixeira, The American Prospect, 19 tháng 6 năm 2007 |
” |
Một cuộc khảo sát cho thấy "sinh viên y khoa Mỹ có quan điểm chính trị tiến bộ hơn nhiều so với giới trẻ Mỹ. Các thầy thuốc tương lai này tỏ ra dễ dàng chấp nhận các thông điệp tiến bộ hơn. Khuynh hướng chính trị của họ có thể có ảnh hưởng sâu sắc trên thái độ của họ đối với hệ thống y tế."[106] Cũng có những kết quả tương tự đối với các giáo sư đại học và các kinh tế gia, là những người mạnh mẽ ủng hộ chủ nghĩa tự do và Đảng Dân chủ hơn những nhóm nghề nghiệp khác.[86]
Các nhà kinh tế học Mỹ là những người mạnh mẽ ủng hộ Đảng Dân chủ, quan điểm của họ thường phù hợp với các thông điệp đến từ diễn đàn Đảng Dân chủ. Một đa số lớn, 63%, tự nhận mình là có lập trường tiến bộ, chỉ chưa đến 20% nhận mình là bảo thủ hoặc tự do.[107] Theo một cuộc khảo sát năm 2004, trong số 1 000 kinh tế gia người Mỹ, tỷ lệ đăng ký cho Đảng Dân chủ và Cộng hòa là 2,5 – 1. Phần lớn các nhà kinh tế học ủng hộ "các quy định về an toàn, kiểm soát súng, tái phân phối tài nguyên, trường công lập, và luật chống kỳ thị," và chống "các biện pháp kiểm soát người nhập cư nghiêm nhặt hơn, các doanh nghiệp có chủ sở hữu là nhà nước, và thuế quan."[108] Những cuộc khảo sát khác chỉ ra rằng trong thành phần có nghề nghiệp chuyên môn, con số đảng viên Dân chủ vượt quá đảng viên Cộng hòa với tỷ lệ 2,8 – 1. Một nghiên cứu của Tạp chí Southern Economic cho thấy "71% kinh tế gia Mỹ tin rằng việc phân phối lợi tức tại Hoa Kỳ cần phải công bằng hơn, và 81% cảm thấy cần phải xem việc tái phân phối lợi tức là một chức năng hợp pháp của chính quyền.""[109]
Giới khoa bảng, trí thức, và các thành phần học thức chiếm tỷ lệ quan trọng trong số các cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Đặc biệt là giới khoa bảng bị thu hút mạnh bởi các quan điểm tiến bộ. Một cuộc khảo sát năm 2005 cho thấy gần 72% thành phần giảng dạy đại học tự nhận mình là tiến bộ, chỉ có 15% nhận mình là bảo thủ. Các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn có khuynh hướng tự do nhất, trong khi ngành kinh doanh là bảo thủ nhất. Các giáo sư nam giới và những trí thức làm việc tại các học viện danh tiếng là những người có khuynh hướng tự do nhất.[86] Một cuộc khảo sát khác của UCLA tiến hành năm 2001-2002 cho thấy có 47,6% giáo sư nhận mình là tự do, 34,4% ôn hòa, và 18% bảo thủ.[110] Tỷ lệ các giáo sư nhận mình có khynh hướng tự do là từ 49% trong chuyên ngành kinh doanh đến hơn 80% ngành khoa học chính trị và nhân văn.[86] Tuy nhiên, theo một số nhà khoa học xã hội như Brett O'Bannon thuộc Đại học DePawn, quan điểm tự do của các giáo sư xem ra chẳng có mấy ảnh hưởng, nếu không nói là không có, trên lập trường chính trị của các sinh viên.[111][112]
Độ tuổi
Người trẻ có xu hướng ủng hộ ứng cử viên Đảng Dân chủ trong những năm gần đây, đặc biệt là người dưới 30 tuổi.[113]
Giới tính
Từ năm 1980, phụ nữ ủng hộ Đảng Dân chủ nhiều hơn đàn ông. Phụ nữ chưa kết hôn và đã ly hôn có xu hướng ủng hộ Đảng Dân chủ.[114][115] Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012, toàn thể phụ nữ ủng hộ Obama hơn Mitt Romney với tỷ lệ 55–44% và phụ nữ chưa kết hôn ủng hộ Obama với tỷ lệ 67–31%,[116] nhưng phụ nữ đã kết hôn ủng hộ Romney hơn Obama với tỷ lệ 53–46%.[117] Theo một nghiên cứu vào tháng 12 năm 2019, phụ nữ da trắng là nhóm nữ cử tri duy nhất ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa trong 16 trong số 18 cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất.[118][119]
Thu nhập
Từ thập niên 1930, các tổ chức nghiệp đoàn là thành phần thu hút nhiều sự chỉ trích thuộc liên minh Đảng Dân chủ. Các nghiệp đoàn cung cấp tài chính, các tổ chức chính trị cơ sở, và số lượng lớn cử tri bỏ phiếu cho đảng. Song, trong nửa thế kỷ qua số lượng thành viên nghiệp đoàn sút giảm mạnh, trong khi khoảng cách giữa tỷ lệ thành viên trong khu vực công và khu vực tư tăng nhanh. Ba tổ chức nghiệp đoàn có ảnh hưởng trong Đảng Dân chủ là AFL-CIO, Liên đoàn Change to Win, và National Education Association (Hiệp hội Giáo dục Quốc gia). AFL-CIO và Change to Win đều xem việc vận động thông qua Đạo luật Employee Free Choice là ưu tiên hàng đầu trong năm 2007. Những vấn đề khác mà các nghiệp đoàn quan tâm là chính sách công nghiệp (trong đó có chế độ bảo hộ mậu dịch) nhằm duy trì việc làm cho đoàn viên trong công nghiệp chế tạo, nâng cao mức lương tối thiểu, và phát triển các chương trình xã hội như an sinh xã hội, và chăm sóc sức khỏe phổ quát. Dù đã mất nhiều sức mạnh chính trị từ sự suy vi của các tổ chức nghiệp đoàn,[120] tầng lớp lao động Mỹ vẫn là thành lũy của Đảng Dân chủ, và tiếp tục là thành phần cơ bản của lực lượng cử tri ủng hộ đảng. Ngày nay, có đến một phần ba công chúng Mỹ thuộc thành phần lao động, với khoảng 52% hoặc thuộc tầng lớp lao động hoặc thuộc nhóm người có thu nhập thấp.[121][122] Thường thì đặc điểm để phân biệt tầng lớp lao động là họ có việc làm ổn định và có qui củ. Do đó, thành phần chính của giai tầng này là các nhân viên văn phòng và công nhân xí nghiệp.[121] Ngay cả khi phần lớn những người thuộc tầng lớp lao động được hưởng mức sống tương xứng, sự bất ổn kinh tế và những phúc lợi từ mạng lưới an sinh xã hội khiến những người này chấp nhận quan điểm trung tả đối với các vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, do lập trường bảo thủ về các vấn đề xã hội, tầng lớp lao động vẫn duy trì sự khác biệt về quan điểm đối với những người chủ trương tiến bộ. Những người thuộc giai tầng lao động thường mộ đạo hơn, và thường đến từ một cộng đồng sắc tộc thiểu số. Trình độ học vấn và thu nhập của những đảng viên Dân chủ lạc hậu và bảo thủ này thuộc vào hạng thấp nhất trên bản đồ phân bổ dân số theo ý thức hệ. Đến năm 2005, chỉ có 15% có bằng đại học so với 49% những người tiến bộ, và 27% mức trung bình cả nước. Tính chung, những người này chiếm 54% tổng số cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ.[54] Ảnh hưởng quan trọng của cử tri thuộc tầng lớp lao động thể hiện trên các cuộc thăm dò tại phòng phiếu thực hiện bởi CNN chỉ ra rằng đa số phiếu của những người ít học và thu nhập thấp đều dồn cho các ứng viên Đảng Dân chủ.[51][52][53]
Chủng tộc
Một thành phần đông đảo thuộc tổng số cử tri bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ thuộc các sắc dân thiểu số. Lập trường của Đảng Dân chủ về chính sách ưu đãi người thiểu số (affirmative action), phúc lợi dành cho người thất nghiệp và thu nhập thấp, nghiệp đoàn, và chính sách nhập cư có sức thu hút lớn đối với nhiều sắc dân thiểu số đang sinh sống trên đất Mỹ.
Kể từ lúc chấm dứt cuộc nội chiến, người Mỹ gốc Phi ủng hộ Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, đến thập niên 1930 họ quay sang bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ khi Franklin D. Roosevelt tiến hành chương trình New Deal dành nhiều hỗ trợ kinh tế cho các cộng đồng thiểu số, trong đó có người Mỹ gốc Phi và người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanic). Sự ủng hộ của các tổng thống Dân chủ John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson dành cho Phong trào Dân quyền trong thập niên 1960 mang về cho Đảng Dân chủ sự hậu thuẫn rộng lớn hơn từ cộng đồng người Mỹ gốc Phi, mặc dù sự ủng hộ này, được xem như là thái độ thù nghịch đối với cư dân da trắng miền Nam, đã dẫn đến sự phân hóa bên trong các chính đảng Hoa Kỳ, những người tiến bộ nhất đến với Đảng Dân chủ, và những người bảo thủ nhất gia nhập Đảng Cộng hòa. Thêm vào đó là các di dân đến từ Caribbean và châu Phi, khi đến phòng phiếu họ đều chọn các ứng viên Dân chủ.
Các sắc dân nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanic), nhất là người Mỹ gốc Mexico và gốc Salvador sinh sống ở miền Nam, cùng với đông đảo người Puerto Rico và Dominica ở vùng Đông Bắc, là lực lượng hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ. Họ mạnh mẽ ủng hộ lập trường tiến bộ về chính sách nhập cư. Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1996, Tổng thống Dân chủ Bill Clinton nhận 72% phiếu bầu của các sắc dân Hispanic. Tuy nhiên, kể từ đó Đảng Cộng hòa bắt đầu giành được sự ủng hộ ngày càng tăng của cộng đồng Hispanic, nhất là những tín hữu Kháng Cách và Ngũ Tuần trong cộng đồng này. Với quan điểm tiến bộ hơn về chính sách nhập cư, George W. Bush là tổng thống Cộng hòa đầu tiên giành được 40% phiếu bầu của người Hispanic. Dù vậy, trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2006, sự hậu thuẫn của cộng đồng Hispanic dành cho Đảng Cộng hòa đã suy giảm, từ 44% xuống còn 30%, trong khi đó tỷ lệ này dành cho các ứng viên Dân chủ từ 55% năm 2004 lên đến 69% năm 2006.[52][53] Trong khi người Mỹ gốc Cuba vẫn tiếp tục kiên định lòng trung thành với Đảng Cộng hòa, thì các sắc dân México, Puerto Rico, Dominica, Trung Mỹ, và Nam Mỹ thích bỏ phiếu cho các ứng viên Dân chủ hơn.
Đảng Dân chủ giành được sự ủng hộ đáng kể từ cộng đồng người Mỹ gốc Á. Cộng đồng này tương đối nhỏ nhưng ngày càng phát triển. Người Mỹ gốc Á thường dành phiếu bầu cho Đảng Cộng hòa mãi cho đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1992, George H. W. Bush nhận 55% phiếu của các sắc dân châu Á, so với 31% cho Bill Clinton, và 15% cho Ross Perot. Tuy vậy, kể từ năm 1996, Đảng Dân chủ thành công hơn với người châu Á, đến năm 2006 62% cử tri Mỹ gốc Á bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Nguyên do là từ sự thay đổi cấu trúc dân số trong cộng đồng người Mỹ gốc Á, khi số người gốc Hoa và gốc Ấn học thức ngày càng tăng, họ là những người có lập trường trung tả về kinh tế và tiến bộ về xã hội. Hầu hết công dân gốc Việt và gốc Philippines vẫn tiếp tục dồn phiếu cho các ứng viên Cộng hòa (dù với tỷ lệ giảm dần), trong khi người gốc Hoa, Nam Á, Hàn, Nhật, Đông Nam Á không tính Việt Nam (nhất là những sắc dân Hmong, Campuchia, Lào), và cư dân đến từ các đảo trên Thái Bình Dương đều bầu cho Đảng Dân chủ. Còn các cử tri trẻ tuổi (từ 18-30 tuổi) thuộc tất cả sắc dân châu Á đều có khuynh hướng ủng hộ Đảng Dân chủ trong các kỳ tuyển cử.
Cộng đồng Do Thái cũng là hậu cứ vững chắc của Đảng Dân chủ, với hơn 70% phiếu bầu dành cho các ứng viên Dân chủ trong các kỳ bầu cử năm 2004 và 2006.[52][53]
Tên và biểu tượng
Từ thập niên 1790, Đảng Liên bang (Federalist) đã sử dụng tên "Đảng Dân chủ" như một sự sỉ nhục để trêu chọc những người ủng hộ Jefferson. Điển hình như năm 1798, George Washington nói "Nếu bạn cọ rửa một người da đen để có thể trở nên trắng thì bạn cũng có thể thay đổi chính kiến của một đảng viên Dân chủ". Tuy nhiên, trong thập niên 1830, biệt danh từng được xem là một sự sỉ nhục này đã trở thành tên chính thức, và chính đảng này gọi mình là "Đảng Dân chủ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ".
Biểu tượng được biết đến nhiều nhất của đảng là chú lừa. Khởi thủy, hình ảnh của chú lừa sản sinh từ những chế diễu, bôi bác trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1828, khi xuất hiện một vở kịch được đặt theo tên Tổng thống Andrew Jackson, khi ấy là ứng viên của Đảng Dân chủ. Jackson đã bị gọi là "Andrew Jackass" (đây là một cách chơi chữ trong Tiếng Anh, 'jackass' có nghĩa là 'thằng ngu', trong đó 'ass' là con lừa), và ông đã chấp nhận biệt danh này.
Ngày 19 tháng 1 năm 1870, Thomas Nast của Harper's Weekly (Tuần báo Harper) vẽ một tranh biếm họa tựa đề "Lừa sống đá sư tử chết" làm sống lại hình ảnh chú lừa như là biểu tượng của Đảng Dân chủ (biểu tượng này đã được dùng trong thập niên 1930). Những họa sĩ biếm họa khác tiếp nối Nast và sử dụng hình ảnh chú lừa cho các đảng viên Dân chủ, và chú voi cho GOP (Đảng Cộng hòa). Biểu tượng chính thức của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC), miêu tả cách điệu hình ảnh một chú lừa đang phóng chân tung một cú đá hậu.
Cả hai đảng chính (và nhiều đảng nhỏ) sử dụng những màu truyền thống đỏ, trắng và lam trong biểu tượng và quảng cáo. Còn các phương tiện truyền thông thường dùng màu đỏ và lam để hiển thị lập trường của các tiểu bang trong bầu cử. Kể từ cuộc tuyển cử năm 2000, tiểu bang bầu cho Đảng Dân chủ được đánh dấu màu lam và màu đỏ dành cho bang bầu phiếu cho Đảng Cộng hòa.
Danh sách tổng thống thuộc Đảng Dân chủ
Tính đến năm 2025, đã có 16 tổng thống Hoa Kỳ thuộc Đảng Dân chủ.
| # | Tên
(Năm sinh - Năm mất) |
Hình | Tiểu bang | Nhậm chức | Mãn nhiệm | Thời gian giữ chức vụ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 7 | Andrew Jackson (1767–1845) | Tennessee | 4 tháng 3 năm 1829 | 4 tháng 3 năm 1837 | 8 năm, 0 ngày | |
| 8 | Martin Van Buren (1782–1862) | New York | 4 tháng 3 năm 1837 | 4 tháng 3 năm 1841 | 4 năm, 0 ngày | |
| 11 | James Knox Polk (1785–1849) | Tennessee | 4 tháng 3 năm 1845 | 4 tháng 3 năm 1849 | 4 năm, 0 ngày | |
| 14 | Franklin Pierce (1804–1869) | New Hampshire | 4 tháng 3 năm 1853 | 4 tháng 3 năm 1857 | 4 năm, 0 ngày | |
| 15 | James Buchanan (1791–1868) | Pennsylvania | 4 tháng 3 năm 1857 | 4 tháng 3 năm 1861 | 4 năm, 0 ngày | |
| 17 | Andrew Johnson (1808–1885) | Tennessee | 15 tháng 4 năm 1865 | 4 tháng 3 năm 1869 | 3 năm, 323 ngày | |
| 22 | Grover Cleveland (1837–1908) | New York | 4 tháng 3 năm 1885 | 4 tháng 3 năm 1889 | 8 năm, 0 ngày | |
| 24 | 4 tháng 3 năm 1893 | 4 tháng 3 năm 1897 | ||||
| 28 | Woodrow Wilson (1856–1924) | New Jersey | 4 tháng 3 năm 1913 | 4 tháng 3 năm 1921 | 8 năm, 0 ngày | |
| 32 | Franklin D. Roosevelt (1882–1945) | New York | 4 tháng 3 năm 1933 | 12 tháng 4 năm 1945[b] | 12 năm, 39 ngày | |
| 33 | Harry S. Truman (1884–1972) | Missouri | 12 tháng 4 năm 1945 | 20 tháng 1 năm 1953 | 7 năm, 283 ngày | |
| 35 | John F. Kennedy (1917–1963) | Massachusetts | 20 tháng 1 năm 1961 | 22 tháng 11 năm 1963[c] | 2 năm, 306 ngày | |
| 36 | Lyndon B. Johnson (1908–1973) | Texas | 22 tháng 11 năm 1963 | 20 tháng 1 năm 1969 | 5 năm, 59 ngày | |
| 39 | Jimmy Carter (1924–2024) | Georgia | 20 tháng 1 năm 1977 | 20 tháng 1 năm 1981 | 4 năm, 0 ngày | |
| 42 | Bill Clinton (sinh năm 1946) | Arkansas | 20 tháng 1 năm 1993 | 20 tháng 1 năm 2001 | 8 năm, 0 ngày | |
| 44 | Barack Obama (sinh năm 1961) | Illinois | 20 tháng 1 năm 2009 | 20 tháng 1 năm 2017 | 8 năm, 0 ngày | |
| 46 | Joe Biden (sinh năm 1942) | Delaware | 20 tháng 1 năm 2021 | 20 tháng 1 năm 2025 | 4 năm, 0 ngày |
Kết quả bầu cử
Quốc hội
| Hạ viện | Tổng thống | Thượng viện | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm bầu cử | Số ghế | +/– | Năm bầu cử | Số ghế | +/– | |||
| 1950 | 235 / 435
|
Harry S. Truman | 1950 | 49 / 96
|
||||
| 1952 | 213 / 435
|
Dwight D. Eisenhower | 1952 | 47 / 96
|
||||
| 1954 | 232 / 435
|
1954 | 49 / 96
|
|||||
| 1956 | 234 / 435
|
1956 | 49 / 96
|
|||||
| 1958 | 283 / 437
|
1958 | 64 / 98
|
|||||
| 1960 | 262 / 437
|
John F. Kennedy | 1960 | 64 / 100
|
||||
| 1962 | 258 / 435
|
1962 | 66 / 100
|
|||||
| 1964 | 295 / 435
|
Lyndon B. Johnson | 1964 | 68 / 100
|
||||
| 1966 | 248 / 435
|
1966 | 64 / 100
|
|||||
| 1968 | 243 / 435
|
Richard Nixon | 1968 | 57 / 100
|
||||
| 1970 | 255 / 435
|
1970 | 54 / 100
|
|||||
| 1972 | 242 / 435
|
1972 | 56 / 100
|
|||||
| 1974 | 291 / 435
|
Gerald Ford | 1974 | 60 / 100
|
||||
| 1976 | 292 / 435
|
Jimmy Carter | 1976 | 61 / 100
|
||||
| 1978 | 277 / 435
|
1978 | 58 / 100
|
|||||
| 1980 | 243 / 435
|
Ronald Reagan | 1980 | 46 / 100
|
||||
| 1982 | 269 / 435
|
1982 | 46 / 100
|
|||||
| 1984 | 253 / 435
|
1984 | 47 / 100
|
|||||
| 1986 | 258 / 435
|
1986 | 55 / 100
|
|||||
| 1988 | 260 / 435
|
George H. W. Bush | 1988 | 55 / 100
|
||||
| 1990 | 267 / 435
|
1990 | 56 / 100
|
|||||
| 1992 | 258 / 435
|
Bill Clinton | 1992 | 57 / 100
|
||||
| 1994 | 204 / 435
|
1994 | 47 / 100
|
|||||
| 1996 | 207 / 435
|
1996 | 45 / 100
|
|||||
| 1998 | 211 / 435
|
1998 | 45 / 100
|
|||||
| 2000 | 212 / 435
|
George W. Bush | 2000[d] | 50 / 100
|
||||
| 2002 | 204 / 435
|
2002 | 49 / 100
|
|||||
| 2004 | 202 / 435
|
2004 | 45 / 100
|
|||||
| 2006 | 233 / 435
|
2006 | 51 / 100
|
|||||
| 2008 | 257 / 435
|
Barack Obama | 2008 | 59 / 100
|
||||
| 2010 | 193 / 435
|
2010 | 53 / 100
|
|||||
| 2012 | 201 / 435
|
2012 | 55 / 100
|
|||||
| 2014 | 188 / 435
|
2014 | 46 / 100
|
|||||
| 2016 | 194 / 435
|
Donald Trump | 2016 | 48 / 100
|
||||
| 2018 | 235 / 435
|
2018 | 47 / 100
|
|||||
| 2020 | 222 / 435
|
Joe Biden | 2020[f] | 50 / 100
|
||||
| 2022 | 213 / 435
|
2022 | 51 / 100
|
|||||
| 2024 | 215 / 435
|
Donald Trump | 2024 | 47 / 100
|
||||
Tổng thống
| Năm bầu cử | Liên danh ứng cử viên | Phiếu bầu phổ thông | % | Phiếu bầu đại cử tri | +/– | Kết quả |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1828 | Andrew Jackson John C. Calhoun |
642,553 | 56.0 | 178 / 261
|
Đoạt giải | |
| 1832 | Andrew Jackson Martin Van Buren |
701,780 | 54.2 | 219 / 286
|
Đoạt giải | |
| 1836 | Martin Van Buren Richard Mentor Johnson |
764,176 | 50.8 | 170 / 294
|
Đoạt giải | |
| 1840 | Martin Van Buren Không có[g] |
1,128,854 | 46.8 | 60 / 294
|
Lost | |
| 1844 | James K. Polk George M. Dallas |
1,339,494 | 49.5 | 170 / 275
|
Đoạt giải | |
| 1848 | Lewis Cass William O. Butler |
1,223,460 | 42.5 | 127 / 290
|
Lost | |
| 1852 | Franklin Pierce William R. King |
1,607,510 | 50.8 | 254 / 296
|
Đoạt giải | |
| 1856 | James Buchanan John C. Breckinridge |
1,836,072 | 45.3 | 174 / 296
|
Đoạt giải | |
| 1860 | Stephen A. Douglas Herschel V. Johnson |
1,380,202 | 29.5 | 12 / 303
|
Lost | |
| 1864 | George B. McClellan George H. Pendleton |
1,812,807 | 45.0 | 21 / 233
|
Lost | |
| 1868 | Horatio Seymour Francis Preston Blair Jr. |
2,706,829 | 47.3 | 80 / 294
|
Lost | |
| 1872 | Horace Greeley Benjamin G. Brown[A] |
2,834,761 | 43.8 | 69 / 352
|
Lost | |
| 1876 | Samuel J. Tilden Thomas A. Hendricks |
4,288,546 | 50.9 | 184 / 369
|
Lost[B] | |
| 1880 | Winfield Scott Hancock William H. English |
4,444,260 | 48.2 | 155 / 369
|
Lost | |
| 1884 | Grover Cleveland Thomas A. Hendricks |
4,914,482 | 48.9 | 219 / 401
|
Đoạt giải | |
| 1888 | Grover Cleveland Allen G. Thurman |
5,534,488 | 48.6 | 168 / 401
|
Lost[C] | |
| 1892 | Grover Cleveland Adlai Stevenson I |
5,556,918 | 46.0 | 277 / 444
|
Đoạt giải | |
| 1896 | William Jennings Bryan Arthur Sewall |
6,509,052 | 46.7 | 176 / 447
|
Lost | |
| 1900 | William Jennings Bryan Adlai Stevenson I |
6,370,932 | 45.5 | 155 / 447
|
Lost | |
| 1904 | Alton B. Parker Henry G. Davis |
5,083,880 | 37.6 | 140 / 476
|
Lost | |
| 1908 | William Jennings Bryan John W. Kern |
6,408,984 | 43.0 | 162 / 483
|
Lost | |
| 1912 | Woodrow Wilson Thomas R. Marshall |
6,296,284 | 41.8 | 435 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1916 | Woodrow Wilson Thomas R. Marshall |
9,126,868 | 49.2 | 277 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1920 | James M. Cox Franklin D. Roosevelt |
9,139,661 | 34.2 | 127 / 531
|
Lost | |
| 1924 | John W. Davis Charles W. Bryan |
8,386,242 | 28.8 | 136 / 531
|
Lost | |
| 1928 | Al Smith Joseph T. Robinson |
15,015,464 | 40.8 | 87 / 531
|
Lost | |
| 1932 | Franklin D. Roosevelt John Nance Garner |
22,821,277 | 57.4 | 472 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1936 | Franklin D. Roosevelt John Nance Garner |
27,747,636 | 60.8 | 523 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1940 | Franklin D. Roosevelt Henry A. Wallace |
27,313,945 | 54.7 | 449 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1944 | Franklin D. Roosevelt Harry S. Truman |
25,612,916 | 53.4 | 432 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1948 | Harry S. Truman Alben W. Barkley |
24,179,347 | 49.6 | 303 / 531
|
Đoạt giải | |
| 1952 | Adlai Stevenson II John Sparkman |
27,375,090 | 44.3 | 89 / 531
|
Lost | |
| 1956 | Adlai Stevenson II Estes Kefauver |
26,028,028 | 42.0 | 73 / 531
|
Lost | |
| 1960 | John F. Kennedy Lyndon B. Johnson |
34,220,984 | 49.7 | 303 / 537
|
Đoạt giải | |
| 1964 | Lyndon B. Johnson Hubert Humphrey |
43,127,041 | 61.1 | 486 / 538
|
Đoạt giải | |
| 1968 | Hubert Humphrey Edmund Muskie |
31,271,839 | 42.7 | 191 / 538
|
Lost | |
| 1972 | George McGovern Sargent Shriver |
29,173,222 | 37.5 | 17 / 538
|
Lost | |
| 1976 | Jimmy Carter Walter Mondale |
40,831,881 | 50.1 | 297 / 538
|
Đoạt giải | |
| 1980 | Jimmy Carter Walter Mondale |
35,480,115 | 41.0 | 49 / 538
|
Lost | |
| 1984 | Walter Mondale Geraldine Ferraro |
37,577,352 | 40.6 | 13 / 538
|
Lost | |
| 1988 | Michael Dukakis Lloyd Bentsen |
41,809,074 | 45.6 | 111 / 538
|
Lost | |
| 1992 | Bill Clinton Al Gore |
44,909,806 | 43.0 | 370 / 538
|
Đoạt giải | |
| 1996 | Bill Clinton Al Gore |
47,401,185 | 49.2 | 379 / 538
|
Đoạt giải | |
| 2000 | Al Gore Joe Lieberman |
50,999,897 | 48.4 | 266 / 538
|
Lost[D] | |
| 2004 | John Kerry John Edwards |
59,028,444 | 48.3 | 251 / 538
|
Lost | |
| 2008 | Barack Obama Joe Biden |
69,498,516 | 52.9 | 365 / 538
|
Đoạt giải | |
| 2012 | Barack Obama Joe Biden |
65,915,795 | 51.1 | 332 / 538
|
Đoạt giải | |
| 2016 | Hillary Clinton Tim Kaine |
65,853,514 | 48.2 | 227 / 538
|
Lost[E] | |
| 2020 | Joe Biden Kamala Harris |
81,283,501 | 51.3 | 306 / 538
|
Đoạt giải | |
| 2024 | Kamala Harris Tim Walz |
75,017,613 | 48.3 | 226 / 538
|
Lost |
Ghi chú
- ^ Có 45 thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ; tuy nhiên, hai thượng nghị sĩ độc lập, Augus King và Bernie Sanders, hợp tác với Đảng Dân chủ.
- ^ mất khi đang giữ chức
- ^ bị ám sát
- ^ Phó Tổng thống Dick Cheney thuộc Đảng Cộng hòa biểu quyết trong trường hợp hòa, tạo thế đa số cho Đảng Cộng hòa cho đến ngày 6 tháng 6 năm 2001, khi Jim Jeffords rời khỏi Đảng Cộng hòa và liên minh với Đảng Dân chủ.
- ^ a b c d e f g h i j Bao gồm chính khách độc lập liên minh với Đảng Dân chủ.
- ^ Phó Tổng thống Kamala Harris thuộc Đảng Dân chủ biểu quyết trong trường hợp hòa, tạo thế đa số cho Đảng Dân chủ tại Quốc hội khóa 117.
- ^ While there was no official Democratic nominee, the majority of the Democratic electors still cast their electoral votes for incumbent Vice President Richard Mentor Johnson.
- ^ Greeley and Brown were cross-endorsed by the Liberal Republican Party.
- ^ Mặc dù Tilden giành được quá nửa số phiếu bầu phổ thông, Rutherford B. Hayes thuộc Đảng Cộng hòa giành được quá nửa số phiếu bầu trong Đại cử tri Đoàn.
- ^ Mặc dù Cleveland giành được nhiều phiếu bầu phổ thông nhất, Benjamin Harrison thuộc Đảng Cộng hòa giành được quá nửa số phiếu bầu trong Đại cử tri Đoàn.
- ^ Mặc dù Gore giành được nhiều phiếu bầu phổ thông nhất, George W. Bush thuộc Đảng Cộng hòa giành được quá nửa số phiếu bầu trong Đại cử tri Đoàn.
- ^ Mặc dù Clinton giành được nhiều phiếu bầu phổ thông nhất, Donald Trump thuộc Đảng Cộng hòa giành được quá nửa số phiếu bầu trong Đại cử tri Đoàn.
Tham khảo
- ^ Donald B. Cole (1970). Jacksonian Democracy in New Hampshire. Harvard University Press. p. 69.
- ^ Winger, Richard. "December 2022 Ballot Access News Print Edition". Ballot Access News. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2022.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênsarnold - ^ Geismer, Lily (2015). Don't blame us: suburban liberals and the transformation of the Democratic party. Politics and society in twentieth-century America. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-15723-8.
- ^ Cebul, Brent; Geismer, Lily (2025). Mastery and drift: professional-class liberals since the 1960s. Chicago: The University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-83811-3.
- ^ [3][4][5]
- ^ Stein, Letita; Cornwell, Susan; Tanfani, Joseph (ngày 23 tháng 8 năm 2018). "Inside the progressive movement roiling the Democratic Party". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2022.
- ^ Chaffin, Joshua; Barrett, Joe (ngày 3 tháng 8 năm 2025). "Not Just NYC: 'Mamdani of Minneapolis' Nods to Widening Rift in Democratic Party". wsj.com. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
[...] a widening rift between the party's centrist establishment and a progressive wing [...]
- ^ [7][8]
- ^
- Bacon, Perry Jr. (ngày 11 tháng 3 năm 2019). "The Six Wings Of The Democratic Party". FiveThirtyEight. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- Levitz, Eric (ngày 18 tháng 10 năm 2018). "America Already Has a Centrist Party. It's Called the Democrats". Intelligencer (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2024.
- Ball, Molly (ngày 7 tháng 2 năm 2014). "No, Liberals Don't Control the Democratic Party". The Atlantic. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
- Gaudiano, Nicole. "Liberals seek 'ideological shift' in the Democratic Party". USA Today. Gannett Satellite Information Network, LLC. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
- Alterman, Eric (2008). Why We're Liberals: A Political Handbook for Post-Bush America. Penguin. tr. 339. ISBN 9780670018604. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
Suffice to say that there has not been a huge swing away from the center since the 1970s.
- Kamarck, Elaine (ngày 1 tháng 8 năm 2019). "The second Democratic debate: Opening up the centrist lane". Brookings Institution. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- Galston, William A. (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Have Democrats become a party of the left?". Brookings Institution. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- Meyerson, Harold (ngày 17 tháng 6 năm 2024). "Democrats and the Euroleft". The American Prospect. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- Bacon Jr., Perry (ngày 5 tháng 9 năm 2018). "The Six Wings Of The Democratic Party". FiveThirtyEight. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ^
- Rae, Nicol C. (tháng 6 năm 2007). "Be Careful What You Wish For: The Rise of Responsible Parties in American National Politics". Annual Review of Political Science (bằng tiếng Anh). 10 (1). Annual Reviews: 169–191. doi:10.1146/annurev.polisci.10.071105.100750. ISSN 1094-2939.
What are we to make of American parties at the dawn of the twenty-first century? ... The impact of the 1960s civil rights revolution has been to create two more ideologically coherent parties: a generally liberal or center-left party and a conservative party.
- Cronin, James E.; Ross, George W.; Shoch, James (ngày 24 tháng 8 năm 2011). "Introduction: The New World of the Center-Left". What's Left of the Left: Democrats and Social Democrats in Challenging Times. Duke University Press. ISBN 978-0-8223-5079-8. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024. tr. 17, 22, 182:
Including the American Democratic Party in a comparative analysis of center-left parties is unorthodox, since unlike Europe, America has not produced a socialist movement tied to a strong union movement. Yet the Democrats may have become center-left before anyone else, obliged by their different historical trajectory to build complex alliances with social groups other than the working class and to deal with unusually powerful capitalists ... Taken together, the three chapters devoted to the United States show that the center-left in America faces much the same set of problems as elsewhere and, especially in light of the election results from 2008, that the Democratic Party's potential to win elections, despite its current slide in approval, may be at least equal to that of any center-left party in Europe ... Despite the setback in the 2010 midterms, together the foregoing trends have put the Democrats in a position to eventually build a dominant center-left majority in the United States.
- Bruner, Christopher (ngày 1 tháng 1 năm 2018). "Center-Left Politics and Corporate Governance: What Is the 'Progressive' Agenda?". Brigham Young University Law Review: 267–338.
While these dynamics have remained have remained important to the Democratic Party's electoral strategy since the 1990s, the finance-driven coalition described above remains high controverisal and unstable, reflecting the fact that core intellectual and ideological tensions in the platform of the U.S. center-left persist.
- Hacker, Jacob S.; Malpas, Amelia; Pierson, Paul; Zacher, Sam (ngày 27 tháng 12 năm 2023). "Bridging the Blue Divide: The Democrats' New Metro Coalition and the Unexpected Prominence of Redistribution". Perspectives on Politics (bằng tiếng Anh). 22 (3). Cambridge University Press on behalf of the American Political Science Association: 3. doi:10.1017/S1537592723002931. ISSN 1537-5927.
We conclude by considering why Democrats have taken this course, why they are not perceived as having done so, and why, at this fraught juncture for American democratic capitalism, political scientists could learn much from closer examination of the rich world's largest center-left party.
- Zacher, Sam (tháng 6 năm 2024). "Polarization of the Rich: The New Democratic Allegiance of Affluent Americans and the Politics of Redistribution". Perspectives on Politics. 22 (2): 338–356. doi:10.1017/S1537592722003310.
It is clear that the Democratic Party—the center-left United States political party—does enact some forms of a redistributive economic policy agenda.
- Rae, Nicol C. (tháng 6 năm 2007). "Be Careful What You Wish For: The Rise of Responsible Parties in American National Politics". Annual Review of Political Science (bằng tiếng Anh). 10 (1). Annual Reviews: 169–191. doi:10.1146/annurev.polisci.10.071105.100750. ISSN 1094-2939.
- ^ Witcover, Jules (2003). "1". Party of the People: A History of the Democrats. tr. 3. "The Democratic Party of the United States, the oldest existing in the world, was in a sense an illegitimate child, unwanted by the founding fathers of the American Republic."
- ^ Democratic Party, Encyclopædia Britannica Online. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007.
- ^ Russell, Ellen (2007). New Deal Banking Reforms and Keynesian Welfare State Capitalism. Routledge. tr. 3–4. ISBN 9781135910655. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
- ^ Rutland, The Democrats: From Jefferson to Clinton (1995) ch. 7.
- ^ Bullock, Charles S.; Hoffman, Donna R.; Gaddie, Ronald Keith (2006). "Regional Variations in the Realignment of American Politics, 1944–2004". Social Science Quarterly. 87 (3): 494–518. doi:10.1111/j.1540-6237.2006.00393.x. ISSN 0038-4941.
The events of 1964 laid open the divisions between the South and national Democrats and elicited distinctly different voter behavior in the two regions. The agitation for civil rights by southern blacks continued white violence toward the civil rights movement, and President Lyndon Johnson's aggressive leadership all facilitated passage of the 1964 Civil Rights Act. ... In the South, 1964 should be associated with GOP growth while in the Northeast this election contributed to the eradication of Republicans.
- ^ Stanley, Harold W. (1988). "Southern Partisan Changes: Dealignment, Realignment or Both?". The Journal of Politics. 50 (1): 64–88. doi:10.2307/2131041. ISSN 0022-3816. JSTOR 2131041. S2CID 154860857.
Events surrounding the presidential election of 1964 marked a watershed in terms of the parties and the South (Pomper, 1972). The Solid South was built around the identification of the Democratic party with the cause of white supremacy. Events before 1964 gave white southerners pause about the linkage between the Democratic Party and white supremacy, but the 1964 election, passage of the Civil Rights Act of 1964, and the Voting Rights Act of 1965 altered in the minds of most the positions of the national parties on racial issues.
- ^ Black, Earl; Black, Merle (ngày 30 tháng 9 năm 2003). The Rise of Southern Republicans. Harvard University Press. ISBN 9780674012486. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
When the Republican party nominated Arizona Senator Barry Goldwater—one of the few senators who had opposed the Civil Rights Act—as their presidential candidate in 1964, the party attracted many southern whites but permanently alienated African-American voters. Beginning with the Goldwater-versus-Johnson campaign more southern whites voted Republican than Democratic, a pattern that has recurred in every subsequent presidential election. ... Before the 1964 presidential election the Republican party had not carried any Deep South state for eighty-eight years. Yet shortly after Congress passed the Civil Rights Act, hundreds of Deep South counties gave Barry Goldwater landslide majorities.
- ^ Miller, Gary; Schofield, Norman (2003). "Activists and Partisan Realignment in the United States". American Political Science Review. 97 (2): 245–260. doi:10.1017/S0003055403000650. ISSN 1537-5943. S2CID 12885628.
By 2000, however, the New Deal party alignment no longer captured patterns of partisan voting. In the intervening 40 years, the Civil Rights and Voting Rights Acts had triggered an increasingly race-driven distinction between the parties. ... Goldwater won the electoral votes of five states of the Deep South in 1964, four of them states that had voted Democratic for 84 years (Califano 1991, 55). He forged a new identification of the Republican party with racial conservatism, reversing a century-long association of the GOP with racial liberalism. This in turn opened the door for Nixon's "Southern strategy" and the Reagan victories of the eighties.
- ^ Issue Evolution. Princeton University Press. ngày 6 tháng 9 năm 1990. ISBN 9780691023311. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
- ^ Valentino, Nicholas A.; Sears, David O. (2005). "Old Times There Are Not Forgotten: Race and Partisan Realignment in the Contemporary South". American Journal of Political Science. 49 (3): 672–88. doi:10.1111/j.1540-5907.2005.00136.x. ISSN 0092-5853.
- ^ Kuziemko, Ilyana; Washington, Ebonya (2018). "Why Did the Democrats Lose the South? Bringing New Data to an Old Debate". American Economic Review. 108 (10): 2830–2867. doi:10.1257/aer.20161413. ISSN 0002-8282.
- ^ Miller, Gary; Schofield, Norman (2008). "The Transformation of the Republican and Democratic Party Coalitions in the U.S.". Perspectives on Politics. 6 (3): 433–450. doi:10.1017/S1537592708081218. ISSN 1541-0986. S2CID 145321253.
1964 was the last presidential election in which the Democrats earned more than 50 percent of the white vote in the United States.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênBlack-20032 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênActivists and Partisan Realignment3 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênValentino-20052 - ^ Patterson. Restless Giant: The United States from Watergate to Bush v. Gore (2011).
- ^ Supreme Court of the US (ngày 12 tháng 12 năm 2000). "George W. Bush, et al., Petitioners v. Albert Gore, Jr., et al., 531 U.S. 98 (2000)". Cornell Law School. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ Lerer, Lisa (ngày 22 tháng 12 năm 2010). "No Congress Since 1960s Has Impact on Public as 111th". Bloomberg L.P. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016.
- ^ Dayen, David (ngày 2 tháng 12 năm 2024). "What Is the Democratic Party?". The American Prospect.
The statistic that best defines our politics over the past 20 years is this: Nine of the past ten national elections have resulted in a change in power in at least one chamber of Congress or the White House. (The sole outlier is 2012.) Several of those elections were considered at the time to be realignments that would lead to a sustained majority for one of the major parties. ... After Republicans defeated John Kerry in 2004 and snatched five Senate seats across the South, commentators believed social issues like gay marriage would set an unwinnable trap for Democrats. Hugh Hewitt wrote a book called Painting the Map Red, imagining a permanent conservative majority. Democrats then took the House and Senate in the 2006 midterms. When Barack Obama crushed John McCain in post–financial crisis 2008, Democratic pundits decided they had an enduring majority. The Tea Party thrashed them in 2010. The conventional wisdom was that Obama was toast; he won in 2012. Donald Trump's 2016 victory signaled a changed electorate, until Democrats won the House in 2018 and the presidency in 2020, only to lose both in 2022 and 2024.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênThe long goodbye - ^ McQuarrie, Michael (ngày 8 tháng 11 năm 2017). "The revolt of the Rust Belt: place and politics in the age of anger". The British Journal of Sociology. 68 (S1): S120 – S152. doi:10.1111/1468-4446.12328. PMID 29114874. S2CID 26010609.
Today, the Democratic Party is a party of professionals, minorities and the New Economy.
- ^ "Biden defeats Trump for White House, says 'time to heal'". AP NEWS. ngày 7 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.
- ^ Martin, Jonathan; Fausset, Richard; Epstein, Reid J. (ngày 6 tháng 1 năm 2021). "Georgia Highlights: Democrats Win the Senate as Ossoff Defeats Perdue". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2021.
- ^ "U.S. House Election Results". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 11 năm 2020. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2021.
- ^ Hacker, Jacob S.; Malpas, Amelia; Pierson, Paul; Zacher, Sam (ngày 27 tháng 12 năm 2023). "Bridging the Blue Divide: The Democrats' New Metro Coalition and the Unexpected Prominence of Redistribution". Perspectives on Politics (bằng tiếng Anh). 22 (3). Cambridge University Press on behalf of the American Political Science Association: 3. doi:10.1017/S1537592723002931. ISSN 1537-5927.
We conclude by considering why Democrats have taken this course, why they are not perceived as having done so, and why, at this fraught juncture for American democratic capitalism, political scientists could learn much from closer examination of the rich world's largest center-left party.
- ^ Fritze, John (ngày 6 tháng 3 năm 2022). "Judge Ketanji Brown Jackson would add another Protestant voice to heavily Catholic Supreme Court" (bằng tiếng Anh). Yahoo! News. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ de Vogue, Ariane (ngày 30 tháng 6 năm 2022). "Ketanji Brown Jackson to join a Supreme Court in turmoil". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Watch Live: Judge Ketanji Brown Jackson sworn in as first Black woman on Supreme Court". PBS NewsHour (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Ketanji Brown Jackson sworn in as first Black woman on US top court". BBC News. ngày 30 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênTraister-2023 - ^ "Mayors of the 30 Largest Cities in the U.S." Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Public Funding of Presidential Elections". Federal Election Commission. ngày 1 tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2006.
- ^ a b "The Charter & Bylaws of the Democratic Party of the United States" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.
- ^ O'Donell, Shawn M., Badurina, Drucilla (2005). Rebuilding The Democratic Party From The Grassroots: The Ultimate Guidebook For Democrats. iUniverse, Inc.. ISBN 978-0-595-35620-1. See also: Mann, Thomas E., Ortiz, Daniel R., Potter, Trevor, Corrado, Anthony (2005). The New Campaign Finance Sourcebook. Brookings Institution Press. ISBN 978-0-8157-0005-0.
- ^ Edsall, Thomas B. (ngày 11 tháng 5 năm 2006). "Democrats Are Fractured Over Strategy, Funds". The Washington Post. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.
- ^ Kamarck, Elaine (ngày 1 tháng 8 năm 2019). "The second Democratic debate: Opening up the centrist lane". Brookings Institution. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ^ Meyerson, Harold (ngày 17 tháng 6 năm 2024). "Democrats and the Euroleft". The American Prospect. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ^ Galston, William A. (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Have Democrats become a party of the left?". Brookings Institution. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ^ Bacon Jr., Perry (ngày 5 tháng 9 năm 2018). "The Six Wings Of The Democratic Party". FiveThirtyEight. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b c "CNN. (2000). Exit Poll". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007.
- ^ a b c d e "CNN. (2004). Exit Poll". Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007.
- ^ a b c d e "CNN. (2006). Exit Poll". Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007.
- ^ a b c d e "Pew Research Center. (10 May, 2005). Beyond Red vs. Blue". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Democratic Leadership Council. (1 June, 1998). About the Third Way". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007.
- ^ Vì sao giới trẻ Mỹ nay thích Chủ nghĩa Xã hội?, BBC Tiếng Việt, 21 tháng 8 năm 2018
- ^ Carmines, Edward G.; Layman, Geoffrey C. (1997). "Issue Evolution in Postwar American Politics". Trong Shafer, Byron (biên tập). Present Discontents. NJ: Chatham House Publishers. tr. 92–93. ISBN 978-1-56643-050-0.
- ^ Kaufman, Cynthia (2003). Ideas for Action: Relevant Theory for Radical Change. South End Press. ISBN 978-0-89608-693-7 – qua Google Books.
- ^ Gitlin, Todd (2001). "The Left's Lost Universalism". Trong Melzer, Arthur M.; Weinberger, Jerry; Zinman, M. Richard (biên tập). Politics at the Turn of the Century. Lanham, MD: Rowman & Littlefield. tr. 3–26.
- ^ Farred, Grant (2000). "Endgame Identity? Mapping the New Left Roots of Identity Politics". New Literary History. 31 (4): 627–48. doi:10.1353/nlh.2000.0045. JSTOR 20057628. S2CID 144650061.
- ^ Larry E. Sullivan. The SAGE glossary of the social and behavioral sciences (2009). p. 291: "This liberalism favors a generous welfare state and a greater measure of social and economic equality. Liberty thus exists when all citizens have access to basic necessities such as education, healthcare, and economic opportunities."
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênTraister-20232 - ^ Gurley, Gabrielle (ngày 23 tháng 11 năm 2020). "Biden at the Cannabis Crossroads". The American Prospect (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2022.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênNPR-2012a - ^ Jindra, Christine (14 tháng mười hai 2007). "Dems in debate urge taxes on wealthiest". cleveland.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ "Opinion & Reviews - Wall Street Journal". WSJ.
- ^ "Budget Resolution Calls for Massive Tax Hikes and Spending Increases". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008.
- ^ "U.S. GOVERNMENT > Social Support > The Social Safety Net". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008.
- ^ "The Democratic Party Platform". Democrats.org. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2014.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênGoodnough-2019 - ^ "Agenda - Environment". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2007.
- ^ John Nicols (ngày 12 tháng 10 năm 2007). "Al Gore Wins Nobel Peace Prize". The Nation.
- ^ a b Igielnik, Ruth (ngày 16 tháng 11 năm 2022). "Backdrop for Vote on Same-Sex Marriage Rights: A Big Shift in Public Opinion". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2022.
- ^ Lindberg, Tim (ngày 2 tháng 8 năm 2022). "Congress is considering making same-sex marriage federal law – a political scientist explains how this issue became less polarized over time". Kansas Reflector (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2022.
- ^ "2020 Democratic Party Platform" (PDF). 2020 Democratic National Convention. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
- ^ Miller, Claire Cain; Sanger-Katz, Margot; Katz, Josh (ngày 22 tháng 10 năm 2024). "Abortions Have Increased, Even for Women in States With Rigid Bans, Study Says". The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2024.
- ^ Cohen, David S.; Joffe, Carole (2025). After Dobbs: How the Supreme Court Ended Roe but Not Abortion. Beacon Press. ISBN 978-0807017661.
When the Supreme Court overturned Roe v. Wade in June 2022, many feared it meant the end of abortion access in the United States. Yet the courageous work of people on the ground has allowed abortion to survive post-Dobbs in ways that no one predicted. ... Taking place across three intervals throughout 2022—pre-Dobbs in early 2022, right after Dobbs, and then six months later—these interviews showcase how nimble thinking on the part of providers, growth and new delivery models of abortion pills, and the never-ending work of those who help with abortion travel and funding have ensured most people who want them are still getting abortions, even without Roe.
- ^ McWhirter, Cameron; Elinson, Zusha (ngày 20 tháng 9 năm 2024). "The Most Surprising New Gun Owners Are U.S. Liberals". The Wall Street Journal. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2024.
- ^ Schaeffer, Katherine (ngày 13 tháng 9 năm 2023). "Key facts about Americans and guns". Pew Research Center. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Senate roll call on passage of the PATRIOT Act". Senate.gov. ngày 25 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
- ^ "House approves Patriot Act renewal". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2020.
- ^ Ikenberry, John (2020). "America's Asia Policy after Trump". Global Asia (bằng tiếng Anh).
- ^ Wong, Edward (ngày 6 tháng 9 năm 2022). "Biden Puts Defense of Democracy at Center of Agenda, at Home and Abroad". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2023.
- ^ Kimmage, Michael (ngày 25 tháng 2 năm 2025). "The World Trump Wants: American Power in the New Age of Nationalism". Foreign Affairs. Quyển 104 số 2. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2025.
In the two decades that followed the Cold War's end, globalism gained ground over nationalism. Simultaneously, the rise of increasingly complex systems and networks—institutional, financial, and technological—overshadowed the role of the individual in politics. But in the early 2010s, a profound shift began. By learning to harness the tools of this century, a cadre of charismatic figures revived the archetypes of the previous one: the strong leader, the great nation, the proud civilization. ... They are self-styled strongmen who place little stock in rules-based systems, alliances, or multinational forums. They embrace the once and future glory of the countries they govern, asserting an almost mystical mandate for their rule. Although their programs can involve radical change, their political strategies rely on strains of conservatism, appealing over the heads of liberal, urban, cosmopolitan elites to constituencies animated by a hunger for tradition and a desire for belonging.
- ^ "Judis, B. J. (11 July, 2003). The trouble with Howard Dean. Salon.com". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2007.
- ^ a b c d "Kurtz, H. (29 March, 2005). College Faculties A Most Liberal Lot, Study Finds. The Washington Post". Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ Suss, Joel; Xiao, Eva; Burn-Murdoch, John; Murray, Clara; Vincent, Jonathan (ngày 9 tháng 11 năm 2024). "Poorer voters flocked to Trump — and other data points from the election". Financial Times. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2024.
In contrast to 2020, the majority of lower-income households or those earning less than $50,000 a year voted for Trump this election. Conversely, those making more than $100,000 voted for Harris, according to exit polls.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênLost Their2 - ^ Levitz, Eric (ngày 29 tháng 9 năm 2021). "Is America Too Rich for Class Politics?". New York. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2024.
- ^ McGreal, Chris (ngày 11 tháng 11 năm 2018). "Can Democrats ever win back white, rural America?". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2019.
- ^ Thompson, Derek (ngày 13 tháng 9 năm 2019). "How Democrats Conquered the City". The Atlantic. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2020.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênPolarization by education2 - ^ Grossmann, Matt; Hopkins, David A. "Polarized by Degrees: How the Diploma Divide and the Culture War Transformed American Politics". Cambridge University Press. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2024.
Democrats have become the home of highly-educated citizens with progressive social views who prefer credentialed experts to make policy decisions, while Republicans have become the populist champions of white voters without college degrees who increasingly distrust teachers, scientists, journalists, universities, non-profit organizations, and even corporations.
- ^ Levitz, Eric (ngày 19 tháng 10 năm 2022). "How the Diploma Divide Is Remaking American Politics". New York Intelligencer. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
- ^ Sosnik, Doug (ngày 17 tháng 4 năm 2023). "The 'Diploma Divide' Is the New Fault Line in American Politics". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
- ^ Badger, Emily; Gebeloff, Robert; Bhatia, Aatish (ngày 26 tháng 10 năm 2024). "They Used to Be Ahead in the American Economy. Now They've Fallen Behind". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2024.
In the data, men working without a college degree of every racial group have fallen well below the average full-time worker (women without a degree have long been at the bottom in income, and college-educated men have consistently been at the top). Workers in coastal states have seen the highest growth, while steep declines have been concentrated in parts of the Midwest that are also likely to decide the election this November.
- ^ Jackson, Brooks (ngày 18 tháng 4 năm 2008). "Blacks and the Democratic Party". FactCheck.org. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
- ^ Bositis, David. "Blacks and the 2012 Democratic National Convention; page 9, table 1: black votes in presidential elections, 1936 – 2008" (PDF). Joint Center for Political and Economic Studies. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2024.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênActivists and Partisan Realignment2 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênGrossmann-20212 - ^ "Partisanship by race, ethnicity and education". Pew Research Center. ngày 9 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2024.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên2024 Exit poll2 - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênnymag.com - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênnytimes.com - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênAbramowitz 2021 - ^ "Frank, E., Carrera, J. & Dharamsi, S. (9 February, 2007). Political Self-characterization of U.S. Medical Students. Journal of General Internal Medicine". Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007.[liên kết hỏng]
- ^ Boxx, W. T. & Quinlivan, G. M. (1994). The Cultural Context of Economics and Politics. Lanham, MA: University Press of America.
- ^ "Klein, D. B. & Stern, C. (6 December, 2004) Economists' policy views and voting. Public Choice Journal". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "Klein, G. P. (15 November, 2006). Why Intellectuals Still Support Socialism. Ludwig Von Mieses Institute. (Survey results were taken from a tetriary source in this case)". Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007.
- ^ "Shea, C. (ngày 12 tháng 10 năm 2003). What liberal academia? The Bosoton Globe". Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
- ^ "O'Bannon, B. R. (27 August, 2003). In Defense of the 'Liberal' Professor. Indianapolis Star". Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007.
- ^ "George, D. L. & Medler, J. F. (1996). College Faculty as an Inconsequential Agent of Political Socialization. Department of Political Science, Cal Poly State University, San Louis Obispo". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007.
- ^ "4. Age, generational cohorts and party identification" (bằng tiếng Anh). Pew Research Center. ngày 9 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Unmarried Women in the 2004 Presidential Election" Lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016 tại Wayback Machine (PDF). Report by Greenberg Quinlan Rosner Research, January 2005. p. 3: "The marriage gap is one of the most important cleavages in electoral politics. Unmarried women voted for Kerry by a 25-point margin (62 to 37 percent), while married women voted for President Bush by an 11-point margin (55 percent to 44 percent). Indeed, the 25-point margin Kerry posted among unmarried women represented one of the high water marks for the Senator among all demographic groups."
- ^ "Republicans should worry that unmarried women shun them". The Economist. ngày 14 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2019.
- ^ Goldenberg, Suzanne (ngày 9 tháng 11 năm 2012). "Single women voted overwhelmingly in favour of Obama, researchers find". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
- ^ McDonnell, Meg T. (ngày 3 tháng 12 năm 2012). "The Marriage Gap in the Women's Vote". Crisis Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
- ^ Junn, Jane; Masuoka, Natalie (2020). "The Gender Gap Is a Race Gap: Women Voters in US Presidential Elections". Perspectives on Politics. 18 (4): 1135–1145. doi:10.1017/S1537592719003876. ISSN 1537-5927.
- ^ "White Female Voters Continue to Support the Republican Party". The Atlantic. ngày 14 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
- ^ Zweig, Michael (2004). What's Class Got To Do With It, American Society in the Twenty-First Century. New York, NY: Cornell University Press. 0-8014-8899-0.
- ^ a b Gilbert, Dennis (1998). The American Class Structure. New York: Wadsworth Publishing. 0-534-50520-1.
- ^ Society in Focus. Boston, MA: Pearson. 2005. 0-205-41365-X.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp)
Thư mục
- Barone, Michael (2005). The Almanac of American Politics 2006: The Senators, the Representatives and the Governors: Their Records and Election Results, Their States and Districts. Grant Ujifusa.
- Blum, John Morton (1980). The Progressive Presidents: Roosevelt, Wilson, Roosevelt, Johnson.
- Jensen, Richard (1983). Grass Roots Politics: Parties, Issues, and Voters, 1854–1983.
- Judis, John B. (2004). The Emerging Democratic Majority. Ruy Teixeira.
- Kleppner, Paul (1983). The Evolution of American Electoral Systems. những người khác.
- Kleppner, Paul (1979). The Third Electoral System 1853-1892: Parties, Voters, and Political Cultures.
- Lawrence, David G. (1996). The Collapse of the Democratic Presidential Majority: Realignment, Dealignment, and Electoral Change from Franklin Roosevelt to Bill Clinton.
- Nichols, Roy Franklin (1923). The Democratic Machine, 1850–1854.
- Patterson, James T. (1997). Grand Expectations: The United States, 1945–1974.
- Patterson, James T. (2005). Restless Giant: The United States from Watergate to Bush vs. Gore.
- Rae, Nicol C. (1994). Southern Democrats. Nhà xuất bản Đại học Oxford.
- Remini, Robert V. (1959). Martin Van Buren and the Making of the Democratic Party.
- Rutland, Robert Allen (1995). The Democrats: From Jefferson to Clinton.
- Sabato, Larry J. (2005). Divided States of America: The Slash and Burn Politics of the 2004 Presidential Election.
- Sabato, Larry J. (2001). The Party's Just Begun: Shaping Political Parties for America's Future. Bruce Larson.
- Schlesinger, Arthur Meier, Jr. (2001). Arthur Meier Schlesinger Jr. (biên tập). History of American Presidential Elections, 1789–2000.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)- Schlesinger, Arthur Meier, Jr. (1972). The Coming to Power: Critical presidential elections in American history.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
- Schlesinger, Arthur Meier, Jr. (1972). The Coming to Power: Critical presidential elections in American history.
- Schlisinger, Galbraith (1992). Of the People: The 200 Year History of the Democratic Party.
- Silbey, Joel H. (1991). The American Political Nation, 1838–1893.
- Witcover, Jules (2003). Party of the People: A History of the Democrats.
Liên kết ngoài
- Democratic National Committee
- Democrats Abroad
- Young Democrats of America Lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine
- College Democrats of America Lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine
- Kicking Ass: Daily Dispatches from the DNC Lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2008 tại Wayback Machine
- Woman's National Democratic Club
- Democratic Congressional Campaign Committee Lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2005 tại Wayback Machine
- Democratic Senatorial Campaign Committee
- 2004 Platform Lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine (HTML format)
- 2004 PlatformLưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2009 tại Wayback Machine (PDF format)
- Democratic Think Tank Democrats.US Lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine
- 2020 Democrats Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2006 tại Wayback Machine
- Music Row Democrats
