Đầu Tử Nghĩa Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thiền Sư Nghĩa Thanh

Thiền Sư Nghĩa Thanh (Tiếng trung: 投子義青; Tiếng Nhật: Tōsu Gisei; Tiếng Hàn: T'uja Ŭich'ǒn):(1032- 1083).Sư là đệ tử của Thiền Sư Phù Sơn Pháp Viễn(Lâm Tế Tông). Nhưng sư được Phù Sơn Pháp Viễn truyền pháp của Tào Động Tông và giao y bát của Thiền Sư Thái Dương Cảnh Huyền đồng thời phó chúc cho sư nối pháp Tào Động Tông. Sư được coi là người nối pháp trực tiếp của Thiền Sư Thái Dương Cảnh Huyền. Sư có đệ tử nối pháp là Phù Dung Đạo Khải.

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Đầu Tử Nghĩa Thanh họ Lý, người Thanh Xã, thuở nhỏ thí kinh được chọn làm tăng. Sau sư nghe giảng kinh Hoa Nghiêm , đến câu” Tức tâm tự tánh”, sư hoát nhiên đại ngộ, liền đến núi Phù Sơn thưa hỏi các thiền sư. Lúc ấy,Thiền Sư Pháp Viễn nằm mộng thấy một con chim ưng rất đẹp nên cho sư lại đó tu học. Pháp Viễn bảo sư tham câu thoại đầu: “ Ngoại đạo hỏi Phật:” Không hỏi có nói, không hỏi không nói”.

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

Trải qua ba năm, một hôm sư hoát nhiên liễu ngộ được Phù Sơn ấn chứng truyền pháp.

Sư được Phù Sơn dạy tông chỉ của tào động tông và trao cho sư  giày, y của Thiền Sư Thái Dương Cảnh Huyền và dặn dò sư thay Phù Sơn nối pháp Tào Động.

Sau sư đến gặp Thiền Sư Viên Thông Tú. Rồi sư ban đầu trụ trì tại núi Bạch Vân, sau đó dời đến núi đầu tử, rồi Hải Hội.

Sư sống đạm bạc mặc y cũ rách, khổ hạnh, dùng vỏ cây làm chăn, không chứa vật dư.

Đến tháng 5, năm Quý Hợi(1083), niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 đời Tống Thần Tông, sư thăng toà viết kệ, rồi an nhiên thị tịch, trụ thế 52 năm. Trà tì, xá lợi có năm màu, tháp xá lợi an trí tại am Tam Phong. Trước khi tịch sư viết bài kệ:

"Trụ trì hai nơi

  Không thể giúp đạo

  Trân trọng các người

  Chẳng cần tìm thảo."

Nói xong sư ném bút thị tịch.

Pháp ngữ:[sửa | sửa mã nguồn]

"Sư thượng đường gọi đại chúng bảo: Nếu luận việc này như loan phụng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương mọc sừng ai tìm được dấu chân, rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng cóc. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Oai Âm lay đầu, hỏi đáp nói bày vẫn là bên lề huyền lộ đề xướng. Nếu hay như thế vẫn còn ở giữa đường. Nếu đứng tròng (nhìn sững) chẳng nhọc thấy nhau."

"Nếu đề xướng tông thừa thì phàm thánh bặt dấu. Lầu gác mở cửa nơi khác thấy nhau. Giả sử cuốn rèm được ngộ đâu khỏi bên cạnh, mùa xuân gặp hoa đào lại thêm bệnh mắt. Do đó, cổ nhân nói: một đường hướng thượng ngàn thánh chẳng truyền. Chư nhân giả! đã là chẳng truyền, tại sao con trâu sắt chạy qua nước Tân La (Triều Tiên)? Sư bèn hét! nói: đạt giả phải biết trong tiếng sợ."

"Có vị Tăng hỏi: Thầy xướng gia khúc tông phong ai? và nối pháp vị nào? Sư đáp:- Một mũi tên trước Oai Âm, bắn thấu hai lớp núi. Tăng hỏi: Thế nào là việc truyền nhau?Sư đáp: Toàn nhân trăng đất Hoài, chiếu soi xuân xứ Dĩnh. Tăng hỏi: Thế ấy là vào nước thấy người dài? Sư đáp: Chỉ biết kinh ngọc lạ, đâu biện tâm Sở vương. Tăng bèn lễ bái. "

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phật Tổ Đạo Ảnh, tập 1,2.
  • Thiền Sư Trung Hoa, tập 1,2,3- Thích Thanh Từ biên dịch.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)