Đập Thủy Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đập Thủy Phong
SupongDamOct2010-2.jpg
Quốc gia Trung Quốc/Triều Tiên
Tình trạng Vận hành
Khởi công 1937
Đập và đập tràn
Loại đập tràn Đập chính: 26 x cửa xả
Đập phụ: 16 x cửa xả
Dung tích đập tràn Đập chính: 37.650 m3/s (1.329.597 cu ft/s)
Đập phụ: 17.046 m3/s (601.974 cu ft/s)
Trạm năng lượng
Nhà điều hành Công ty Thủy điện Trung-Triều
Ngày chạy thử 1941

Đập Thủy Phong Trung văn giản thể: 水丰水库; bính âm: Shuǐfēng shuǐkù; tiếng Triều Tiên: 수풍댐, Sup'ung Taem, đều có âm Hán Việt là Thủy Phong), là một đập trên sông Áp Lục trải trên biên giới giữa tỉnh Liêu Ninh thuộc Trung Quốc và tỉnh Pyongan Bắc tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Đập được người Nhật xây dựng từ năm 1937 đến năm 1943 để phát điện và từng được sửa chữa và nâng cấp vài lần trong những năm sau đó, chủ yếu hư hỏng đập tràn vì lũ lụt. Trong chiến tranh Triều Tiên, đập đã bị liên quân Liên Hiệp Quốc ném bom ba lần riêng biệt để triệt tiêu khả năng phát điện. Tại thời điểm hoàn thành, Thủy Phong là đập lớn nhất châu Á và nay vẫn là nhà máy thủy điện lớn nhất trên sông Áp Lục. Lượng điện sản xuất tại trạm 63 MW được phân chia đều cho Trung Quốc và Triều Tiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]