Đậu đỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đậu đỏ
Azuki Beans.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Fabales
Họ (familia)Fabaceae
Chi (genus)Vigna
Loài (species)V. angularis
Danh pháp hai phần
Vigna angularis
(Willd.) Ohwi & H. Ohashi

Đậu đỏ (danh pháp hai phần: Vigna angularis, tên tiếng Anh: Azuki bean, có khi gọi tắt là Azuki) là cây dây leo hàng năm thuộc phân họ Đậu, được trồng nhiều từ Đông Á đến Himalaya. Hạt đậu đỏ dài khoảng 5 mm, có màu đỏ nhưng đôi khi có màu trắng, đen, xám... Các nhà khoa học cho rằng Vigna angularis var. nipponensis là loài gốc, và các giống khác phát sinh từ đó.

Các bằng cứ về gen chứng minh rằng đậu đỏ được thuần hóa trước tiên ở vùng núi Himalaya. Nó được trồng ở bán đảo Triều Tiên và đông bắc Trung Quốc từ trước năm 1000 trước công nguyên[1]. Sau đó đậu đỏ được di thực đến Nhật Bản, nơi mà đến nay đậu đỏ trở thành loại đậu phổ biến thứ 2 sau đậu tương[2].

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Đậu đỏ được sử dụng trong ẩm thực của Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ...

Dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt đậu đỏ chứa hàm lượng đáng kể chất xơ và xơ hòa tan, protein, carbohydrat và sắt.[3]

Những nhầm lẫn xung quanh đậu đỏ và "hồng đậu"[sửa | sửa mã nguồn]

Loại đậu đỏ dùng để nấu chè có danh pháp khoa học là vigna angularis, và loại đậu đỏ này không có truyền thuyết nào liên quan đến tương tư hay tình cảm đôi lứa, cũng như không liên quan gì đến ngày lễ Thất tịch.

Còn loại đậu đỏ - hồng đậu (từ đây gọi là hồng đậu để phân biệt) được người Trung Quốc gọi là "hạt tương tư" có danh pháp khoa học là abrus precatorius, thường được gọi là tương tư, cườm thảo đỏ, chi chi, cườm cườm, cảm sảo (tiếng Tày), hương tư tử hoặc tương tư tử (相思子). Loại hồng đậu này có độc, cụ thể là abrin - một loại toxalbumin với liều gây chết trung bình đối ở con người khoảng từ 10 đến 1000 microgram trên mỗi kilogram thể trọng khi ăn vào bụng và 3.3 microgram trên mỗi kilogram thể trọng khi hít vào phổi. Vì vậy, loại đậu này không thể dùng để nấu chè.

Sở dĩ hồng đậu được coi là "hạt tương tư" vì có truyền thuyết kể rằng, "tương truyền, thời cổ có một người đàn ông phải ra trận, người vợ ngày ngày tựa vào gốc cây lớn trên núi cao ngóng trông mong mỏi, bởi vì nhớ người chồng ở biên cương mà khóc dưới tán cây. Sau khi nước mắt cạn khô, nàng khóc ra từng giọt máu thắm đỏ. Máu của nàng hoá thành hạt hồng đậu, hồng đậu bén rễ đâm chồi, phát triển thành cây lớn, kết hạt đỏ rực tán cây, người đời thường gọi là đậu tương tư". Dựa trên truyền thuyết này, Tào Tuyết Cần viết "tương tư huyết lệ phao hồng đậu", Vương Duy viết "thử vật (hồng đậu) tối tương tư", Ôn Đình Quân viết "linh lung đầu tử an hồng đậu, nhập cốt tương tư tri bất tri".

Vậy nên mới có chuyện trong dân gian, nam nữ thường tặng nhau một chuỗi hạt hồng đậu làm tín vật định tình; đến khi kết hôn, tân nương đeo một chuỗi hồng đậu ở cổ tay hoặc trên cổ, thể hiện đôi bên thấu hiểu lẫn nhau, bạch đầu giai lão.

Tóm lại, hoàn toàn không có truyền thuyết ăn chè đậu đỏ thì có người yêu trong ngày Thất tịch. Sai lầm này bắt nguồn từ lỗi dịch thuật của một hot blogger trong quá khứ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://infomag.eucck.org/storage/contentsfiles/0_99/48/infomag110.pdf
  2. ^ “NICS Online Crop Information Center”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011.
  3. ^ Mixed Bean Salad (information and recipe) from The Mayo Clinic Healthy Recipes. Truy cập February 2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]