Khác biệt giữa các bản “USS Indiana (BB-58)”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 7 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q2895096 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
|Ship honors=9 [[Ngôi sao Chiến đấu]]
|Ship captured=
|Ship fate= Bị bán để tháo dỡ [[tháng mười|tháng 10]] năm [[1963]]
|Ship status=
}}
|Ship armament=9 × pháo [[pháo 406 mm (16 inch)/45 caliber Mark 6|406 mm (16 inch)/45 caliber Mark 6]] <br/>20 × pháo [[pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber|127 mm (5 inch)/38 caliber]]<br/>68 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]]<br/>76 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]
|Ship armor= Tối đa 310 mm (12,2 inch)
|Ship aircraft=2 × thủy phi cơ [[Vought OS2U Kingfisher|OS2U Kingfisher]]
|Ship aircraft facilities=
|Ship notes=
|}
 
'''USS ''Indiana'' (BB-58)''' là một [[thiết giáp hạm]] thuộc [[South Dakota (lớp thiết giáp hạm) (1939)|lớp ''South Dakota'']] được [[Hải quân Hoa Kỳ]] đưa vào hoạt động trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới lần thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ được đặt [[USS Indiana|cái tên này]] nhằm tôn vinh [[Indiana|tiểu bang thứ 19]] của Hoa Kỳ. Trong Thế chiến II, chiếc thiết giáp hạm chỉ hoạt động tại [[Chiến tranh Thái Bình Dương|Mặt trận Thái Bình Dương]], từng tham gia nhiều chiến dịch chủ yếu, và sau khi chiến tranh chấm dứt, nó được cho ngừng hoạt động vào năm [[1947]] và được bán để tháo dỡ vào năm [[1963]].
 
== Thiết kế và chế tạo ==
== Lịch sử hoạt động ==
[[Tập tin:USS Indiana (BB-58) 1942.jpg|nhỏ|trái|USS Indiana, ngày 8 tháng 9 năm 1942]]
Sau chuyến đi thử máy tại [[vịnh Casco]], [[Maine]], chiếc thiết giáp hạm mới đi ngang qua [[kênh đào Panama]] để củng cố các đơn vị Hạm đội Mỹ tại Thái Bình Dương trong những tháng đầu tiên đầy khó khăn của [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế Chiến II]]. Nó gia nhập lực lượng của Chuẩn Đô đốc Lee hộ tống cho các [[tàu sân bay]] vào ngày [[28 tháng 11]] năm [[1942]]. Trong 11 tháng tiếp theo sau, ''Indiana'' giúp bảo vệ các tàu sân bay [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']] và [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']], sau đó hỗ trợ cho lực lượng Mỹ tiến quân tại [[quần đảo Solomon]].
 
''Indiana'' đi đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[21 tháng 10]] năm [[1943]], rồi lại khởi hành vào ngày [[11 tháng 11]] cùng với các lực lượng hỗ trợ cho cuộc tấn công đổ bộ lên [[quần đảo Gilbert]]. Chiếc thiết giáp hạm tham gia bảo vệ các tàu sân bay đang hỗ trợ lực lượng [[Thủy quân Lụclục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] trong trận đánh đẫm máu tại [[trận Tarawa|Tarawa]]. Sau đó vào cuối [[tháng một|tháng 1]] năm [[1944]] nó bắn phá [[Kwajalein]] trong tám ngày trước các cuộc đổ bộ xuống [[quần đảo Marshall]] vào ngày [[1 tháng 2]]. Trong đêm đó, khi đang cơ động để tiếp nhiên liệu cho các [[tàu khu trục]] hộ tống, ''Indiana'' đã va chạm với chiếc thiết giáp hạm [[USS Washington (BB-56)|''Washington'']], làm thiệt mạng nhiều người. Những sửa chữa tạm thời bên mạn phải con tàu được thực hiện tại đảo san hô [[Majuro]] trước khi con tàu quay về Trân Châu Cảng vào ngày [[13 tháng 2]] để sửa chữa lớn. Thuyền trưởng của ''Indiana'' thừa nhận rằng con tàu của ông đã tách khỏi đội hình, và ông nhận hoàn toàn trách nhiệm về vụ va chạm. Ông bị Đô đốc [[Chester Nimitz|Nimitz]] cách chức và được thay thế.
[[Tập tin:USS Indiana (BB-58) In a South Pacific harbor.jpg|nhỏ|trái|USS ''Indiana'' tại Nam [[Thái Bình Dương]].]]
''Indiana'' gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 58 trong cuộc không kích lớn nhắm vào đảo san hô [[Truk]] trong các ngày [[29 tháng 4|29]] và [[30 tháng 4]], rồi sau đó nó nả pháo xuống đảo [[Ponape]] trong ngày [[1 tháng 5]]. Vào [[tháng sáu|tháng 6]] ''Indiana'' hướng đến [[quần đảo Marianas]] cùng hạm đội Mỹ đông đảo nhằm tấn công và chiếm đóng chuỗi quần đảo chiến lược này. Nó nả pháo xuống đảo [[Saipan]] trong các ngày [[13 tháng 6|13]] và [[14 tháng 6]] và bắn rơi nhiều máy bay đối phương bằng hỏa lực phòng không khi chống trả lại các đợt không kích trong ngày [[15 tháng 6]]. Khi hạm đội tàu sân bay Nhật Bản tiến đến Marianas nhằm đẩy lui lực lượng Mỹ, ''Indiana'' đã đối đầu với họ trong thành phần “hàng thiết giáp hạm” của Phó Đô đốc [[Willis A. Lee]]. Hai hạm đội khổng lồ đã đối đầu nhau trong ngày [[19 tháng 6]] năm [[1944]] trong trận chiến lớn nhất giữa các tàu sân bay trong Thế Chiến II, [[Trận chiến biển Philippines|Trận chiến biển Philippine]], khi bốn đợt không kích được phía Nhật tung ra nhắm vào hạm đội Mỹ. Những chiếc máy bay tiêm kích [[Grumman F6F Hellcat|F6F Hellcat]] của hạm đội, cùng với sự trợ giúp ít ỏi của các tàu hộ tống, đã bắn rơi gần 400 máy bay tấn công Nhật. Trận không chiến này vì vậy được mang cái tên lóng “Cuộc săn vịt trời Marianas vĩ đại”. Với sự trợ giúp lớn từ các [[tàu ngầm]], lực lượng của Phó Đô đốc [[Marc A. Mitscher]] đã đánh chìm ba tàu sân bay Nhật, trong đó có chiếc tàu sân bay kỳ cựu [[Shōkaku (tàu sân bay Nhật)|Shōkaku]] và chiếc tàu sân bay mới nguyên [[Taihō (tàu sân bay Nhật)|Taihō]]. ''Indiana'' đã bắn rơi nhiều máy bay đối phương, và né tránh được hai quả ngư lôi suýt trúng đích. Sau khi trận chiến kết thúc với ưu thế rõ rệt cho phía Mỹ, ''Indiana'' tiếp tục vai trò yểm trợ chung quanh các tàu sân bay, và đã ở liên tục ngoài biển khơi trong 64 ngày đêm liên tục để hỗ trợ cho cuộc chiếm đóng Marianas.
 
Vào [[tháng tám|tháng 8]], ''Indiana'' bắt đầu hoạt động trong thành phần của Đội Đặc nhiệm 38.3, tiến hành bắn phá [[quần đảo Palau]], và sau đó là Philippines. Nó hộ tống cho các cuộc không kích vào các căn cứ trên bờ của đối phương từ ngày [[12 tháng 9|12]] đến ngày [[30 tháng 9]] năm [[1944]], giúp chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên [[leyte (đảo)|đảo Leyte]] sắp tới tại khu vực Trung quần đảo Philippine. Sau đó ''Indiana'' rời Philippines quay về xưởng hải quân tại [[Bremerton, Washington]], và đến nơi vào ngày [[23 tháng 10]], để thực hiện việc đại tu cần thiết đồng thời cũng được trang bị thêm các vũ khí phòng không. Vì vậy, chiếc thiết giáp hạm đã có dịp tham dự [[Trận chiến vịnh Leyte]] mang tính quyết định ngoài khơi Philippines. Sau khi hoàn tất việc đại tu, ''Indiana'' khởi hành hướng đến [[Trân Châu Cảng]].
 
Đi đến Trân Châu Cảng ngày [[12 tháng 12]], ''Indiana'' ngay lập tức bắt đầu tiến hành huấn luyện chuẩn bị cho các cuộc chiến mới. Nó lại lên đường vào ngày [[10 tháng 1]] năm [[1945]], và cùng với một lực lượng các thiết giáp hạm và tàu tuần dương, chiếc thiết giáp hạm tiến hành bắn phá [[Đảo Iō|Iwo Jima]] trong ngày [[24 tháng 1]]. Sau đó ''Indiana'' hợp cùng Lực lượng Đặc nhiệm 58 quay về đảo san hô [[Ulithi]], rồi lại khởi hành vào ngày [[10 tháng 2]] tham gia [[Trận Iwo Jima|tấn công chiếm đóng Iwo Jima]], bước tiếp theo của cuộc chinh phục Nhật Bản. Chiếc thiết giáp hạm đã hộ tống các tàu sân bay trong đợt không kích khu vực Tokyo vào ngày [[17 tháng 2]], và một đợt khác vào ngày [[25 tháng 2]], cùng với nhiệm vụ bảo vệ các cuộc không kích xuống Iwo Jima xen kẻ giữa hai lần đó. Sau đó, ''Indiana'' hỗ trợ cho cuộc không kích xuống [[Okinawa]] trước khi lên đường quay trở về căn cứ. Nó về đến Ulithi vào ngày [[5 tháng 3]] năm [[1945]] để được bổ sung tiếp liệu và nghỉ ngơi.
 
''Indiana'' nhổ neo rời Ulithi vào ngày [[14 tháng 3]] năm tham gia trận chiến nhằm [[Trận Okinawa|chiếm đóng Okinawa]], và cho đến [[tháng sáu|tháng 6]] năm [[1945]], nó hỗ trợ cho hoạt động không kích của các tàu sân bay xuống chính quốc Nhật Bản và Okinawa. Các cuộc không kích này được thực hiện nhằm hỗ trợ tối đa cho chiến dịch trên đất liền, cũng như phá hủy nền công nghiệp chiến tranh Nhật Bản. Trong giai đoạn này, chiếc thiết giáp hạm phải thường xuyên chống trả các cuộc tấn công tự sát của đối phương, khi quân Nhật nỗ lực liều mạng một cách tuyệt vọng mong thay đổi được tình thế. Đầu [[tháng sáu|tháng 6]], ''Indiana'' thoát khỏi một cơn [[bão]] hung hãn, rồi sau đó hướng đến [[vịnh San Pedro (Philippines)|vịnh San Pedro]] thuộc [[Philippines]], và đến nơi vào ngày [[13 tháng 6]].
 
Trong thành phần của Đội Đặc nhiệm 38.1, ''Indiana'' hoạt động tại vùng biển ngoài khơi các đảo chính quốc Nhật Bản từ ngày [[1 tháng 7]] đến ngày [[15 tháng 8]], hỗ trợ các cuộc không kích xuống Nhật Bản cũng như bắn pháo vào các mục tiêu duyên hải bằng các khẩu pháo chính 406&nbsp;mm (16 inch). Chiếc thiết giáp hạm kỳ cự tiến vào [[vịnh Tokyo]] ngày [[5 tháng 9]] năm [[1945]]; và chín ngày sau, nó khởi hành quay về [[San Francisco]], [[California]], và đến nơi vào ngày [[29 tháng 9]] năm [[1945]].
 
Quay trở về Hoa Kỳ không lâu sau khi Nhật Bản đầu hàng, ''Indiana'' được đưa về lực lượng dự bị vào [[tháng chín|tháng 9]] năm [[1946]] và chính thức ngừng hoạt động một năm sau đó. Nó không còn tham gia hoạt động nào khác và bị bán để tháo dỡ vào [[tháng mười|tháng 10]] năm [[1963]].
 
Cột buồm chính của ''Indiana'' được dựng tại Sân vận động Memorial của [[Trường Đại học Indiana Bloomington]]; một mỏ neo của nó đặt tại [[Đài tưởng niệm chiến tranh Allen County]] tại [[Fort Wayne, Indiana]]; trong khi chiếc chuông của nó hiện đang đặt tại [[Heslar Naval Armory]] ở [[Indianapolis|Indianapolis, Indiana]] và nhiều hiện vật khác được trưng bày tại nhiều bảo tàng và trường học khác nhau khắp [[Indiana]]. Mũi tàu ''Indiana'' hiện đang đặt tại [[Berkeley, California]].
 
''Indiana'' được tặng thưởng chín [[Ngôi sao Chiến đấu]] do thành tích hoạt động trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế Chiến II]].
 
==Tham khảo==
986.568

lần sửa đổi

Trình đơn chuyển hướng