Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai”

''Vai trò yếu tố địa hình kế thừa.'' Đầm phá và hệ cồn đụn chắn không thể hình thành ở vùng biển ven bờ sâu và dốc. Chính bề mặt đồng bằng aluvi cổ Pleistocen thoải và rộng ở ven bờ Huế là tiền đề quan trọng để hình thành các đầm phá cổ và phá Tam Giang đang tồn tại. Với điều kiện như vậy, hầu như không còn khả năng xuất hiện đầm phá mới phía ngoài đầm phá hiện nay. Ngoài ra, dường như là đầm Thủy Tú phát triển kế thừa trên nền lòng sông cổ (Pleistocen) còn đầm Cầu Hai thì phát triển trên nền một vịnh biển nhỏ bị đê cát phía ngoài khép kín.v.v.
 
''Nguồn bồi tích cát tạo thành hệ cồn đụn chắn ngoài''. Đầm phá thường hình thành ở các vùng động lực sóng mạnh và giàu bồi tích cát [7,9]. Để có đầm phá, phải có cồn đụn chắn ngoài tạo nên từ bồi tích cát. Không kể đến các cồn cát đồ sộ phía bắc cửa sông Ô Lâu và đồng bằng cát rộng lớn phía tây phá, diện tích các cồn đụn chắn ngoài rộng 190km2. Nếu tính trung bình bề dày cát 20m, ta có khối lượng cát khổng lồ là 3,8 tỷ m3. Trong khi đó, tổng lưu lượng cát ở các con sông đổ vào đầm phá chỉ 120 nghìn tấn/năm, tương đương 80 nghìn m3. Có nghĩa là, nếu cát từ vùng núi tây Huế do sông mang ra ven biển để tạo nên cồn cát này thì phải cần có 47.500 năm. Trong khi đó, tuổi các cồn cát nguồn gốc biển - gió này mới chỉ 3000 năm (Holocen muộn) và các giai đoạn biển tiến Holocen hình thành nên đồng bằng Huế chỉ 11 nghìn năm [1,11,14]. Nguồn cát khổng lồ này được Zenkovich [1718] giải thích là có nguồn gốc sông Hồng cổ bồi đắp nên đồng bằng đáy Vịnh Bắc Bộ vào Pleistocen, khi mực nước thấp hơn hiện nay trên dưới 100m. Trong quá trình biển tiến, sóng đã di chuyển ngang bồi tích cát vào ven bờ Bình Trị Thiên.
 
''Vai trò của biển tiến Flandrian đối với hình thành phá Tam Giang.'' Phleger [9] cho rằng, hầu hết đầm phá trên thế giới được hình thành trong vòng 6-8 nghìn năm qua. Biển tiến sau băng hà lần cuối cùng (Flandrian) bắt đầu từ 17 - 18 nghìn năm trước từ độ sâu 100 - 120m trên thềm lục địa. Theo Shepard [10], trong quá trình biển tiến, mực nước dâng cao dần đến mức hiện nay, đến 11 nghìn năm trước, tốc độ dâng 9mm/năm và đến 6 nghìn năm trước, chỉ còn 4mm/năm và sau 4 nghìn năm chỉ 1mm/năm. Vào Holocen giữa, khoảng 6 nghìn năm trước, biển tiến mở rộng nhất về phía lục địa, tốc độ dâng mực nước chậm hẳn lại và có sự bồi tụ tích cực để tạo đến đồng bằng Huế, trong đó có các cồn cát cổ, đầm phá cổ đã tàn ở Quảng Điền, Phú Vang, nay còn sót lại di tích và vô số các trầm, bầu nước ngọt. Mực nước chân tĩnh dâng chậm, lại bị triệt tiêu trên đới nâng yếu, địa hình ven bờ cổ nông, thoải, lại giầu nguồn bổi tích do di chuyển ngang từ đáy đã tạo điều kiện thuận lợi hình thành rồi lấp đầy nhanh chóng các đầm phá cổ. Sang đến Holocen muộn đường bờ lùi do bồi tụ đến vị trí đầm phá hiện nay và với các điều kiện thuận lợi còn duy trì (đáy nông thoải, mực biển dâng chậm chạp, giầu bồi tích cát) đã hình thành nên hệ cồn cát và phá Tam Giang. Về quy mô, phá Tam Giang lớn hơn nhiều các đầm phá cổ, có lẽ cũng tồn tại lâu dài hơn do không có khả năng thành tạo phá mới phía ngoài biển do đáy sâu, dốc.
''Giai đoạn trưởng thành''. Thực ra đây là giai đoạn suy tàn của hệ đầm phá, gắn liền với việc mở cửa mới Thuận An và sự phân dị vực nước thành ba phần Tam Giang (tây bắc) Thủy Tú (ở giữa) và Cầu Hai (đông nam), khác nhau về hình dạng, hoàn lưu nước, quá trình trầm tích và đặc điểm sinh thái vực nước. Từ đầu thế kỷ XV đến nay, cửa Thuận An trở thành cửa chính và lối thoát nước chủ yếu của sông Hương, Tư Hiền thành cửa phụ và bị lấp, mở với nhịp điệu mau dần. Trong giai đoạn này có những sự kiện quan trọng như sông Phú Cam gần như tàn hẳn phải khơi đào, sông Bồ nhập hẳn vào sông Hương, sông Ô Lâu uốn dòng vuông góc chảy thuận hướng vào đỉnh phá Tam Giang, cửa Thuận An dịch vị trí 4 lần trên cung bờ dài 7km với chu kỳ 100 - 200 năm, vùng Tô Đà ở cửa Đại Giang bị bồi lấp tàn hẳn. Phá đã bị nông và hẹp đáng kể, ước tính bồi nông 2,4mm/năm, tổng cộng 1,5m trong giai đoạn này. Nghĩa là, độ sâu trung bình của phá trong khoảng gần 600 năm qua bị giảm đi một nửa. Riêng Cầu Hai bị bồi nông 1-1,4mm/năm,tương ứng 0,6-0,8m kể từ khi Tư Hiền là cửa phụ. ở giai đoạn trưởng thành, tác động nhân sinh đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiến hóa tự nhiên của phá. Ví dụ: đô thị hóa ven sông Hương, đào kênh Vinh Tế (đời Lê) nối Ô Lâu - Cửa Việt, vét sông Phú Cam, lập cảng Thanh Hà (cảng cổ gần Bao Vinh), cảng Tân Mỹ (hiện nay), đắp đê đập ngăn mặn, hồ chứa thượng nguồn, tàn phá rừng.
 
Con người luôn muốn chỉnh trị hai cửa nhưng đều thất bại. Hai lần đắp đập lấp cửa Thuận An vào nửa sau thế kỷ XV và nửa đầu thế kỷ XX nhưng đập đều bị vỡ. Nhiều lần khơi thông cửa Tư Hiền khi cửa bị lấp đều không thành công. Lần cuối lấp kín và kè kiên cố cửa Tư Hiền vào năm 1995, nhưng cửa vẫn bị vỡ vào tháng 11 năm 1999 [16].
 
 
<big>'''Biến động của các cửa'''</big>
 
Kể từ khi ra đời cửa Thuận An, cửa Tư Hiền trở thành cửa phụ và và cả hai cửa đều không ổn định. Tính không ổn định cửa biểu hiện qua các trạng thái chuyển đổi vị trí cửa, dịch cửa, mở cửa, lấp cửa, thu hẹp mặt cắt ướt hoặc biến dạng luồng cửa nhiều lần trong lịch sử. Diễn biến của qúa trình chuyến lấp cửa đầm phá được theo dõi qua các thư mục cổ “Ô châu cận lục” của Dương Văn An(từ thế kỷ XVI), Đại việt sử ký toàn thư (từ thế kỷ XVII), “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (từ thế kỷ XVIII)[2] và các nghiên cứu sau này [3,6,12,15,16].
 
'''Cửa Tư Hiền'''
Ngay sau khi cửa Thuận An mở, cửa Tư Hiền bắt đầu có xu thế bị bồi lấp. Vì vậy, năm Quang Thuận thứ 8 (1467), tham nghị Châu Hóa là Đặng Chiêm có dâng sớ xin lấp cửa Eo (Thuận An), giữ cửa Tư Dung (Tư Hiền) và đề nghị đã được chấp nhận. Cho tới năm 1811 (năm Tân Mùi, Gia Long thứ 10), cửa Vinh Hiền mở và cửa Lộc Thủy bị lấp. Như vậy trong khoảng thời gian 1404 - 1811, cửa Vinh Hiền có lẽ đã từng nhiều lần bị đóng và cửa Lộc Thủy đã từng tồn tại. Năm 1823, cửa Vinh Hiền bị lấp và năm 1844 thì cửa Vinh Hiền lại mở. Có lẽ trong khoảng 1931-1952 là thời gian cửa Thuận An bị đập đá đắp chặn, cửa Tư Hiền khá ổn định ở vị trí Lộc Thuỷ. Cho tới năm 1953, cả hai cửa bị lấp, trong đó cửa Vinh Hiền bị lấp cho tới năm 1959 thì mở. Cũng vào năm 1979, cửa Vinh Hiền bị lấp và cửa Lộc Thuỷ được mở do khai đào. Năm 1984, cửa Lộc Thủy bị lấp. Cửa Vinh Hiền mở lại năm 1990 rồi lại bị lấp lại năm 1994 và được gia cố thêm bằng kè đá granit. Đồng thời, cửa Lộc Thuỷ lại được khai đào.
 
Mỗi lần biến động cửa đều gây khó khăn cho đời sống cộng đồng dân cư trong khu vực. Khi cửa bị lấp, ngoài việc làm ách tắc giao thông và nghề khai thác biển khơi, còn làm thay đổi cơ cấu tài nguyên và giá trị tài nguyên sinh vật trong đầm Cầu Hai do bị ngọt hóa. Sau gần 5 năm kể từ ngày bị lấp (12/1994 - 11/1999) mặc dù đã được kè khá kiên cố cửa Tư Hiền đã bị phá mở vào ngày 2/11/1999 trong cơn ngập lụt thế kỷ khủng khiếp với mực nước dâng cao 5,94m tại Huế [4,1617].
 
'''Cửa Thuận An'''
Người dùng vô danh