Khác biệt giữa các bản “Hoàng Đan”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tuy nhiên, tháng 7 năm 1974, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 thất bại trong đợt tiến công đầu tiên vào cứ điểm Thượng Đức. Hàng loạt lý do dẫn tới thất bại này: khinh địch, sai sót trong quá trình chuẩn bị của công binh, hỏa lực thiếu tập trung...v.v... Đứng trước tình thế trên, dưới sự chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu, mà Lê Trọng Tấn vào thời điểm đó là Phó Tổng Tham Mưu Trưởng, Bộ Tư Lệnh quân đoàn 2 nhanh chóng điều động, tăng cường Đại Tá Hoàng Đan vào làm tư lệnh tiền phương chiến dịch. Sau khi nhanh chóng họp bàn, kiểm điểm các sai sót của cán bộ sư đoàn, ông chỉ huy đợt tiến công thứ 2 vào cứ điểm Thượng Đức. Địch nhanh chóng tan rã trước hỏa lực tập trung, mạnh mẽ của sư đoàn 304. Sau đó, ông trở lại miền Bắc, tiếp tục làm công tác xây dựng quân đoàn.
 
Không để [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] uy hiếp Đà Nẵng, [[Quân lực Việt Nam Cộng Hòa]] điều động gấp sư đoàn bộ binh số 3 và sư đoàn dù, đơn vị dự bị chiến lược đặc biệt tinh nhuệ, ra tái chiếm Thượng Đức. Lực lượng này nhanh chóng chiếm được các cao điểm quan trọng của Thượng Đức, đẩy quân đội ta vào thế bị động trên chiến trường, uy hiếp mạnh mẽ thành quả có được thời gian trước đó. Hoàng Đan buộc phải lần thứ 3 vào Thượng Đức chỉ huy. Cùng vào với ông có thêm một Trung đoàn bộ binh (Sư đoàn 304 vốn chỉ có 2 Trung đoàn), các tiểu đoàn công binh, hỏa tiễn, đạn pháo...v.v... Lần Saunày, Hoàng ĐanSau 3 tháng hao tổn mà không hạ được cứ điểm, sư đoàn dù nhanh chóng rút khỏi Thượng Đức. Cùng với chiến thắng của [[Hoàng Cầm]] ở [[Chiến dịch Đường 14 - Phước Long|Phước Long]] ngay sau đó, Thượng Đức tạo nên tiền đề cho các chiến dịch góp phần thống nhất Việt Nam trong mùa xuân năm 1975.
 
==== Thống nhất đất nước ====
== Đánh giá ==
 
Trong năm mươi năm hoạt động cách mạng và chiến đấu, Thiếu tướng Hoàng Đan đã từng kinh qua nhiều cấp độ chỉ huy khác nhau trên chiến trường. Từ cấp trung đội trưởng lên tới tư lệnh tiền phương quân khu, chỉ huy trực tiếp từ vài chục lính tới chục vạn lính, không ở cấp nào là ông không phải thể nghiệm bản thân trực tiếp với máu lửa. Điều này giúp ông hiểu rõ quá trình chiến đấu ở các cấp chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, góp phần tạo nên một vị tướng tài của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
 
Đặc biệt, ông là một trong những vị tướng hiếm hoi của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam am hiểm về chiến tranh phòng ngự kết hợp phản công. Phải hiểu rằng bản chất của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là một đội quân cách mạng, lấy tấn công làm sở trường, nên có ít tình huống thực chiến liên quan tới phòng ngự. Tuy nhiên, trải nghiệm chiến trường của Hoàng Đan hơi khác so với phàn lớn tướng lĩnh quân đội ta. Ông từng tham gia, chỉ huy những trận đánh phòng ngự nổi tiếng như trận Thành Cổ Quảng Trị, trận Thượng Đức, trận Bình Độ 400, trận Vị Xuyên...v.v... Có thể nói ông là vị tướng am tường hàng đầu về chiến tranh phòng ngự, phản công của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Như ở đầu giai đoạn 2 trận Thượng Đức, các sĩ quan cao cấp quân đội ta lúng túng khi đối mặt với sự tiến công của 2 sư đoàn tinh nhuệ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì ít được trải nghiệm hay được huấn luyện về chiến tranh phòng ngự. Chỉ tới khi ông đích thân vào tăng viện cùng với một Trung đoàn bộ binh và một lượng lớn đạn pháo thì tình huống mới được giải quyết. Sau này, khi công tác tại Học Viện Quân Sự Cấp Cao và Cục khoa học công nghệ, trong quá trình biên soạn giáo án, ông tích cực đẩy mạnh việc giảng dạy về chiến tranh phòng ngự, góp phần vào thắng lợi của Chiến tranh Biên giới Phía Bắc.
 
Theo các đồng nghiệp của Hoàng Đan, ông là một vị tướng của trận mạc, không ngại gian khó tới tận chiến trường thực địa để trinh sát, chỉ đạo trực tiếp các đơn vị chiến đấu. Đặc biệt, ngay cả khi ông đã trở thành sĩ quan cao cấp, ông không màng nguy hiểm, cốt sao có thể nắm bắt được rõ nhất tình hình chiến trận. Khi có sự cố hay diễn biến bất ngờ, ông xuống trực tiếp đơn vị cơ sở, chỉ huy trực tiếp tại thực địa, tạo nên thần thoại về một vị tướng chiến trận xuất sắc, đặc biệt ở cấp chiến thuật. Đồng thời, ông cũng là một "văn tướng", với trình độ lý luận quân sự cao, tham gia tích cực vào công tác huấn luyện, giảng dạy, biên soạn tài liệu quân sự. Cuộc đời binh nghiệp của ông xen kẽ giữa những giai đoạn khác nhau, lúc làm chỉ huy chiến đấu, lúc làm nghiên cứu, giảng dạy quân sự. Với ông, quá trình chiến đấu bao gồm ra trận, sau đó tổng hợp kết quả chiến đấu, rồi rút ra lý luận quân sự có thể áp dụng được vào thực tiễn về sau; và tiếp tục chiến đấu để thể nghiệm, và lập lại.
241

lần sửa đổi

Trình đơn chuyển hướng