Khác biệt giữa các bản “Boeing B-17 Flying Fortress”

Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
n
→‎Phòng vệ những chiếc máy bay ném bom: chính tả, replaced: lẫn tránh → lẩn tránh using AWB
n (General Fixes)
n (→‎Phòng vệ những chiếc máy bay ném bom: chính tả, replaced: lẫn tránh → lẩn tránh using AWB)
| title = History:B-17 Flying Fortress | accessdate = 16 tháng 1 năm 2007| author = | date = | work = Boeing.com | quote = }}</ref> Số lượng súng máy phòng thủ tăng từ bốn khẩu súng máy 12,7&nbsp;mm (0,50 in) và một khẩu súng máy 7,62&nbsp;mm (0,30 in) trước mũi của phiên bản B-17C, lên đến 13 khẩu súng máy 12,7&nbsp;mm (0,50 in) trên phiên bản B-17G. Nhưng vì những chiếc máy bay ném bom không thể [[cơ động]] khi bị các máy bay tiêm kích tấn công, và trong những phút cuối cùng bay ném bom nó cần phải bay ngang và thẳng, những chiếc máy bay đơn lẻ phải nỗ lực để né tránh những cú tấn công trực tiếp.
 
Một cuộc điều tra của Không lực Mỹ tiến hành năm [[Hàng không năm 1943|1943]] tìm thấy rằng trên phân nửa các máy bay ném bom bị Đức bắn rơi đã rời bỏ sự bảo vệ của đội hình chính.<ref name="B-17.de 2">{{chú thích web | url = http://www.b17flyingfortress.de/english/index.php?id=htm/details/formation.htm | title = Formation | accessdate = 9 tháng 1 năm 2007| author = | date = | work = www.b17flyingfortress.de | quote = }}</ref> Để đối phó vấn đề này, Không lực Mỹ đã đề ra một nhóm đội hình máy bay ném bom, sẽ phát triển thành kiểu [[đội hình chiến đấu hình hộp]] so le, nơi mà tất cả những chiếc B-17 có thể an toàn che chở bất kỳ máy bay nào khác trong đội hình với những khẩu súng máy, làm cho đội hình những chiếc máy bay ném bom là một mục tiêu nguy hiểm cho máy bay tiêm kích địch đến tấn công.<ref name="Fortress over Europe"/><ref name="Manual 2">{{chú thích sách |title= B-17 Pilot Training Manual |origdate= |url= http://www.stelzriede.com/ms/html/mshwpmn1.htm#contents |accessdate= 16 tháng 1 năm 2007|edition= |date= |publisher= Headquarters, AAF, Office of Flying Safety |location= |isbn= |chapter= Formation |chapterurl= http://www.stelzriede.com/ms/html/mshwpmn2.htm#form |quote= }}</ref> Tuy nhiên, việc sử dụng một đội hình cứng nhắc như thế có nghĩa là từng máy bay riêng rẽ không thể thực hiện những cơ động lẫnlẩn tránh: Chúng phải luôn luôn bay thành một đường thẳng, làm cho chúng trở nên mong manh trước những khẩu [[pháo phòng không]] 88&nbsp;mm của Đức. Thêm vào đó, những chiếc máy bay tiêm kích Đức sau này áp dụng chiến thuật bắn phá lướt qua tốc độ cao thay vì nghênh chiến từng chiếc máy bay một, cho phép gây thiệt hại nhiều nhất với nguy cơ tối thiểu.
 
Kết quả là, tỉ lệ tổn thất của B-17 cao đến 25% trong một số phi vụ lúc đầu (60 trong tổng số 291 chiếc B-17 bị mất trong chiến đấu trong đợt không kích thứ hai nhắm vào [[Schweinfurt]]<ref name="Caidin">{{chú thích sách | last =Caidin | first =Martin | title =Black Thursday | publisher =E.P. Dutton & Co. Inc.| location =New York | date =1960 |pages =| url = | doi = | isbn =0-553-26729-9 | accessdate = }}</ref>), và phải cho đến khi có sự tham gia của việc hộ tống tầm xa bằng máy bay tiêm kích hiệu quả (đặc biệt là bởi những chiếc [[North American P-51 Mustang|P-51 Mustang]]), làm suy yếu lực lượng máy bay tiêm kích đánh chặn Đức giữa [[tháng hai|tháng 2]] và [[tháng sáu|tháng 6]] năm [[Hàng không năm 1944|1944]], mà những chiếc B-17 mới trở nên lực lượng chiến lược đầy uy lực.
5.152

lần sửa đổi

Trình đơn chuyển hướng