Khác biệt giữa các bản “Chi Lăng, Hưng Hà”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
n
clean up, replaced: → (6) using AWB
n (Đã lùi lại sửa đổi của 27.76.198.139 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của TuanminhBot)
n (clean up, replaced: → (6) using AWB)
Thời thuộc Pháp, là xã Đốn Ngoại, thuộc tổng Ỷ Đốn, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Xã Đốn Ngoại bao gồm cả thôn Đồng Gòi, xã Minh Tân, và thôn Minh Đức, xã Lô Giang, huyện Đông Hưng ngày nay.
 
Sau Cách mạng, năm 1955, đổi tên là xã Chi Lăng, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Cắt thôn Đồng Gòi về xã Minh Tân và thôn Minh Đức về xã Lô Giang, huyện Tiên Hưng. Xã chia thành 12 xóm, từ xóm 1 còn gọi là xóm Chùa; đến xóm 12 cuối làng, còn gọi là xóm Bến Đò.
 
Năm 1969 cắt 5 xã của huyện Tiên Hưng cũ, trong đó có xã Chi Lăng về huyện Hưng Hà. Sau năm 1975 hợp nhất hai xã là Chi Lăng và Hoà Bình thành xã Bình Lăng. Đến năm 2005, xã Bình Lăng được chia tách lại thành hai xã như cũ, là xã Chi Lăng và xã Hòa Bình.
Chùa Đún, tên chữ là Phúc Lâm Tự, xưa chùa to đẹp, có giếng chùa, ao chùa, giặc Pháp càn về đóng quân rồi đốt trụi, dân làng nhặt tro tàn tượng Phật xây vào tháp và xây dựng lại chùa. Lễ hội vào ngày 01/3 âm lịch, các nơi về dự Lễ hội rất đông vui.
Chợ Đún xưa ở trước cửa chùa, là chợ hàng tổng, các quán chợ dựng bằng cột đá, lợp ngói mũi hài. Thời kháng chiến chống Pháp, Quân khu 3 đã triển lãm chiến thắng giặc Pháp tại chợ.
Đình làng thờ Thành hoàng là Vua [[Lê Đại Hành]], đình to đẹp bề thế nhất vùng, dựng ở giữa làng, xây gạch Bát Tràng, cột lim to hơn người ôm, xà kèo trạm trổ tinh. Đình và chợ Đún cũ bị rỡ đi trong phong trào tiêu thổ kháng chiến thời chống Pháp.
Từ đường họ Đinh dựng năm 1727 thờ ba anh em Quốc Công Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt, là Bình Ngô Khai quốc Công thần. Và Tả Đô đốc Đông Quân, Tán trị Công thần, Dương Quận Công Đinh Phúc Diên, thời Hậu Lê, hiện còn 4 đạo sắc vua phong là Trung đẳng Phúc thần làng Ỷ Đốn, lễ Tổ vào ngày 20/11 âm lịch, sau ngày lễ hội của làng. Từ đường họ Đinh được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.
 
Xã Chi Lăng giàu truyền thống yêu nước. Buổi đầu chống Pháp, nhiều người con của làng đi theo cuộc khởi nghĩa Cần vương của ông Đốc Nhưỡng ở Đô Kỳ, như ông Đinh Danh Giảng. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lớp lớp thanh niên đã lên đường chiến đấu, nhiều người đã hy sinh tại các chiến trường.
Xã có bề dày văn hoá, như Chiếu chèo, Hội Sinh vật cảnh, Hội tế, trò chơi pháo đất, cờ người, chọi gà... diễn ra trong các dịp lễ hội của làng. Quà quê đặc sản như bánh đa gấc, cốm, bánh bột lọc.
 
Xã có Bệnh xá, trường Mần non, trường Tiểu học và trường Trung học Cơ sở, khang trang. Trường tiểu học có bề dày lịch sử trên 80 năm (năm 1931), dậy chữ Quốc ngữ cho con em trong vùng. Sự nghiệp giáo dục được chính quyền và nhân dân trong xã ngày càng quan tâm, tỷ lệ con em đỗ vào học Trung học phổ thông của huyện và các trường Cao đẳng, Đại học vào loại cao của huyện. Nhiều người thành đạt trong học tập, như Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Hoài.

Trình đơn chuyển hướng