Khác biệt giữa các bản “USS Yorktown (CV-5)”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
ct
(ct)
!style="color: white; height: 30px; background: navy;"| {{flagicon|United States|1912}} <font color=white>[[Hải quân Hoa Kỳ]]</font>
|-
|HạngLớp tàu:
|[[Hạnglớp tàu sân bay Yorktown]]
|-
|Xưởng đóng tàu:
|}
 
Chiếc '''USS ''Yorktown'' (CV-5)''', là một [[tàu sân bay]] của [[Hải quân Hoa Kỳ]]. Tên nó được dùng để đặt cho [[HạngLớp tàu sân bay Yorktown]], và là một trong những tàu sân bay chủ lực của Mỹ trong giai đoạn đầu của [[Thế Chiến II]] tại [[Mặt trận Thái Bình Dương]], và đã bị máy bay Nhật đánh chìm ngày [[7 tháng 6]] năm [[1942]] trong [[trận Midway]].
 
== Mô tả ==
 
== Các vai trò ban đầu ==
''Yorktown'' khởi hành hướng về [[biển Caribbe]] vào ngày [[8 tháng 1]] năm [[1938]] và đến [[Culebra]], [[Puerto Rico]], vào ngày [[13 tháng 1]]. Trong tháng tiếp theo, chiếc tàu sân bay tiến hành chạy thử ngang qua [[Charlotte Amalie, Virgin Islands|Charlotte Amalie]], [[Saint Thomas, Virgin Islands|St Thomas]], [[Virginquần Islandsđảo Virgin]]; [[Gonaïves]], [[Haiti]]; [[vịnh Guantánamo, Cuba|vịnh Guantanamo]], [[Cuba]], và [[Cristóbal, Colón|Cristóbal]], thuộc khu vực [[Panamakênh Canalđào ZonePanama]]. Rời [[Colonvịnh BayColon]], Cristobal ngày [[1 tháng 3]], ''Yorktown'' hướng về Hampton Roads, đến nơi ngày [[6 tháng 3]], và chuyển về [[xưởng hải quân Norfolk]] ngày hôm sau để được hiệu chỉnh sau chạy thử.
 
Sau khi được sửa chữa suốt đầu mùa Thu năm [[1938]], ''Yorktown'' được chuyển đến Norfolk vào ngày [[17 tháng 10]], và không lâu sau hướng đến các khu vực thực hành để tiến hành huấn luyện.
Vấn đề Hạm đội XXI, một cuộc tập trận chia làm hai phần, bao gồm một số hoạt động tiêu biểu cho một cuộc chiến tranh trong tương lai tại Thái Bình Dương. Phần thứ nhất của cuộc tập trận dành cho việc huấn luyện lập kế hoạch và ước lượng; việc che chắn bảo vệ và trinh sát; việc phối hợp cùng các đơn vị chiến đấu; và trong việc sử dụng hạm đội và bố trí chuẩn. Phần thứ hai bao gồm việc huấn luyện bảo vệ đoàn tàu vận tải, việc chiếm giữ các căn cứ tiền phương, và cuối cùng là trận giao chiến quyết định giữa hai hạm đội đối địch. Là cuộc tập trận cuối cùng thuộc loại này trước chiến tranh, Vấn đề Hạm đội XXI cũng bao gồm hai cuộc thực hành (tương đối nhỏ vào thời đó) nơi mà các hoạt động không lực đóng một vai trò then chốt. Bài tập Hạm đội liên hợp Không lực 114A đã đoán trước được nhu cầu cần phối hợp các kế hoạch phòng thủ của Lục quân và Hải quân để bảo vệ [[quần đảo Hawaii]]; và Bài tập Hạm đội 114 chứng minh rằng có thể sử dụng những chiếc máy bay để theo dõi từ độ cao các lực lượng trên mặt biển, một vai trò đáng kể dành cho máy bay sẽ được vận dụng tối đa trong cuộc chiến tranh sắp tới.
 
Với việc giữ lại Hạm đội tại vùng biển Hawaii sau khi kết thúc cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XXI, ''Yorktown'' hoạt động trên vùng biển Thái Bình Dương ngoài khơi bờ tây nước Mỹ và tại vùng biển Hawaii cho đến mùa Xuân năm sau, khi lực lượng [[tàu ngầm]] [[U-boat]] của [[Đức]] thành công trong việc săn đuổi các tàu bè Anh Quốc tại Đại Tây Dương đòi hỏi phải dịch chuyển một phần lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Do đó, để củng cố [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ]], Hải quân đã chuyển một lực lượng đáng kể từ Thái Bình Dương bao gồm chiếc ''Yorktown'', HạmHải đội Thiết giáp hạm 3 (gồm những chiếc thiết giáp hạm thuộc [[hạngNew Mexico (lớp thiết giáp hạm New Mexico)|hạnglớp New Mexico]]), ba tàu tuần dương hạng nhẹ, và 12 tàu khu trục phối thuộc.
 
== Tuần tra Trung lập ==
''Yorktown'' rời [[Trân Châu Cảng]] ngày [[20 tháng 4]] năm [[1941]] cùng với các [[tàu khu trục]] [[USS Warrington (DD-383)|''Warrington'']], [[USS Somers (DD-381)|''Somers'']] và [[USS Jouett (DD-396)|''Jouett'']]; hướng về phía Đông Nam, đi qua kênh đào Panama trong đêm [[6 tháng 5|6]] – [[7 tháng 5]], và đến [[Bermuda]] vào ngày [[12 tháng 5]]. Từ lúc đó cho đến khi Hoa Kỳ tham gia chiến tranh, ''Yorktown'' thực hiện bốn chuyến tuần tra tại Đại Tây Dương, kéo dài từ [[Newfoundland]] đến Bermuda dài tổng cộng 28.392 km (17.642 dặm) để thực thi vai trò trung lập của Hoa Kỳ.
 
Cho dù [[Adolf Hitler]] đã ngăn cấm các [[tàu ngầm]] của ông tấn công tàu bè của Mỹ, những người chỉ huy trên các tàu chiến Mỹ đã không biết được chính sách này và đã hoạt động như thể đang trong thời chiến tại Đại Tây Dương.
Từng ngày trôi qua và khả năng chiến tranh ngày càng trở nên hiện thực. Tại một nơi khác cũng trong ngày [[30 tháng 10]], hơn một tháng trước khi máy bay Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, chiếc ''U-562'' đã phóng ngư lôi đánh chìm tàu khu trục [[USS Reuben James (DD-245)|''Reuben James'']] và gây thiệt hại nhân lực nặng nề – là tổn thất tàu chiến Mỹ đầu tiên trong Thế Chiến II.
 
Sau một chuyến Tuần tra Trung lập khác vào [[tháng 11]], ''Yorktown'' trở về Norfolk vào ngày [[2 tháng 12]] và nó ở đấy khi năm ngày sau khi Mỹ bị lôi kéo vào Thế Chiến II.
 
== Thế Chiến II ==
{{seealso|Thế Chiến II}}
[[Tập tin:CV-5 Yorktown.jpg|thumb|left|''Yorktown'' đang chuẩn bị làm nhiệm vụ, [[tháng 6]] năm [[1940]].]]
Những tin tức ban đầu từ Thái Bình Dương thật ảm đạm, Hạm đội Thái Bình Dương phải chịu tổn thất đáng kể. Vì những chiếc thiết giáp hạm bị phá hỏng, tầm quan trọng của những chiếc tàu sân bay Hoa Kỳ không bị hư hỏng trở nên lớn lao. Tính đến ngày [[7 tháng 12]], chỉ có ba chiếc trên vùng biển Thái Bình Dương: [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']], [[USS Lexington (CV-2)|''Lexington'']] và [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']]. Trong khi những chiếc [[USS Ranger (CV-4)|''Ranger'']], [[USS Wasp (CV-7)|''Wasp'']] và chiếc [[USS Hornet (CV-8)|''Hornet'']] vừa mới đưa vào sử dụng được giữ lại chiến trường Đại tây Dương, ''Yorktown'' được điều động rời khỏi Norfolk ngày [[16 tháng 12]] năm [[1941]] để tăng cường cho chiến trường Thái Bình Dương. Hàng hỏa lực pháo thứ cấp được bổ sung các khẩu pháo [[pháo Oerlikon 20 mm|Oerlikon 20 mm]]. Nó đến San Diego ngày [[30 tháng 12]] năm [[1941]] và không lâu sau trở thành kỳ hạm của Chuẩn đôĐô đốc [[Frank Jack Fletcher]], tư lệnh [[Lực lượng Đặc nhiệm TF 17]] mới được thành lập.
 
Nhiệm vụ đầu tiên của chiếc tàu sân bay trên chiến trường này là hộ tống một đoàn tàu vận tải chuyên chở các lực lượng [[Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ|Thủy quân Lục chiến]] đến tăng cường cho [[đảo Samoa]]. Rời San Diego ngày [[6 tháng 1]] năm [[1942]], ''Yorktown'' cùng các tàu phối thuộc bảo vệ cho cuộc chuyển quân của Thủy quân Lục chiến đến [[Tutuila]] và [[Pago Pago]] bổ sung cho các lực lượng hiện có tại đây.
''Yorktown'' sau đó quay về Trân Châu Cảng để được tiếp liệu trước khi trở ra khơi vào ngày [[14 tháng 2]], hướng về phía [[biển Coral]]. Vào ngày [[6 tháng 3]], nó gặp gỡ Lực lượng đặc nhiệm TF 11 - được hình thành chung quanh chiếc ''Lexington'' và dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc [[Wilson Brown]] - và hướng về phía [[Rabaul]] và [[Gasmata]] để tấn công các tàu Nhật ở đây trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn sự xâm lấn của Nhật cũng như yểm trợ việc đổ bộ quân Đồng Minh xuống [[Nouméa]], [[Tân Caledonia]]. Tuy nhiên, khi hai chiếc tàu sân bay - được bao bọc bởi một lực lượng hùng hậu gồm tám tàu tuần dương hạng nặng kể cả chiếc tàu Australia [[HMAS Australia (D84)|HMAS ''Australia'']] và 14 tàu khu trục - di chuyển về hướng [[New Guinea]], quân Nhật tiếp tục hướng về phía Australia bằng một cuộc đổ bộ vào ngày [[7 tháng 3]] tại [[vịnh Huon]], trong khu vực [[Salamaua]]-[[Lae]] tận cùng phía Đông New Guinea.
 
Tin tức về chiến dịch của quân Nhật đã buộc Đô đốc Brown phải thay đổi mục tiêu của Lực lượng Đặc nhiệm TF 11 từ Rabaul sang khu vực Salamaua-Lae. Sáng ngày [[10 tháng 3]] năm [[1942]], các tàu sân bay Mỹ đã tung những chiếc máy bay của nó từ [[vịnh Papua]]. Các phi đội của chiếc ''Lexington'' cất cánh lúc 07 giờ 49 phút, và 21 phút sau đó ''Yorktown'' nối tiếp theo sau. Trong khi việc lựa chọn vịnh này làm điểm xuất phát cuộc tấn công có nghĩa là những chiếc máy bay phải bay một quãng đường 200 km (125 midặm) vượt qua [[dãy núi Owen Stanley]] - một tầm bay vượt quá các điều kiện bay tốt nhất, cách tiếp cận này đem đến sự an toàn cho lực lượng đặc nhiệm và đảm bảo sự bất ngờ.
 
Trong cuộc tấn công sau đó, những chiếc SBD của ''Lexington'' thuộc Phi đội Tuần tiểu 2 (VS-2) thực hiện ném bom bổ nhào các tàu Nhật tại Lae lúc 09 giờ 22 phút. Các phi đội máy bay phóng ngư lôi và máy bay ném bom (VT-2 và VB-2) tấn công các tàu bè tại Salamaua vào lúc 09 giờ 38 phúyphút. Các máy bay tiêm kích của nó (VF-2) chia làm hai tốp tấn công bốn máy bay: một nhóm bắn phá Lae còn nhóm kia nhắm vào Salamaua. Những chiếc máy bay của ''Yorktown'' tiếp nối theo sau những chiếc thuộc "Lady Lex" (tên lóng của ''Lexington''). Các phi đội VB-5 và VT-5 tấn công các tàu Nhật trong khu vực Salamaua vào lúc 09 giờ 50 phút, trong khi phi đội VS-5 nhắm vào các lực lượng phối thuộc thả neo gần bờ ở Lae. Những chiếc máy bay tiêm kích của phi đội VF-42 bay tuần tra chiến đấu trên không bên trên Salamaua cho đến khi họ xác định không có lực lượng đối đầu trên không, rồi bắn phá các mục tiêu trên mặt đất và các thuyền nhỏ trong cảng.
 
Sau khi thực hiện các nhiệm vụ, các máy bay Mỹ quay trở lại tàu sân bay, và 103 máy bay trong tổng số 104 chiếc được tung ra đã quay về an toàn vào trưa hôm đó. Một chiếc SBD-2 bị bắn rơi bởi hỏa lực pháo phòng không Nhật Bản. Cuộc không kích vào Salamaua và Lae là cuộc tấn công đầu tiên của nhiều phi công trên cả hai chiếc tàu sân bay; và trong khi kết quả về độ chính xác của những trái ngư lôi và bom còn thấp so với mức đạt được trong các hoạt động sau này, chiến dịch này cung cấp cho các phi công các kinh nghiệm vô giá, cho phép họ hoạt động rất tốt trong các trận [[trận chiến biển Coral|biển Coral]] và [[trận Midway|Midway]] sau này.
[[Tập tin:Brazos AO-4 refueling Yorktown CV-5.jpg|thumb|right|''Yorktown'' được tiếp nhiên liệu từ chiếc [[USS Brazos (AO-4)|''Brazos'']] tại trung Thái Bình Dương vào [[tháng 7]] năm [[1940]].]]
Lực lượng Đặc Nhiệm TF 11 rút lui với vận tốc 20 knot (23 mph, 37km/h) hướng về phía Đông Nam cho đến khi trời tối, khi các chiếc tàu chuyển hướng sang phía Đông với vận tốc 15 knot (17 mph, 28 km/h) và gặp gỡ NhómĐội Đặc nhiệm TG 11.7, bốn [[tàu tuần dương hạng nặng]] và bốn tàu khu trục dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Australia [[John Crace]], nhằm hộ tống các tàu sân bay trên đường đến New Guinea.
 
''Yorktown'' tiếp tục tuần tra trên khu vực biển Coral, ở ngoài khơi cho đến tận [[tháng 4]], bên ngoài tầm của những chiếc máy bay Nhật đặt căn cứ trên đất liền và sẵn sàng thực hiện các hoạt động tấn công mỗi khi có cơ hội. Sau trận không kích Lae-Salamaua, tình hình tại khu vực Nam Thái Bình Dương xem ra tạm thời ổn định, và ''Yorktown'' cùng những tàu phối thuộc của Lực lượng Đặc Nhiệm TF17TF 17 quay về cảng [[Tongatapu]] trong [[quần đảo Tonga]] vốn còn đang xây dựng để thực hiện các bảo trì cần thiết, vì nó đã ở ngoài khơi liên tục sau khi rời khỏi Trân Châu Cảng vào ngày [[14 tháng 2]].
 
Tuy nhiên, đối phương không lâu sau lại bắt đầu hành động. Theo Đô đốc Nimitz, dường như đã có "những dấu hiệu rõ ràng cho thấy quân Nhật dự định tấn công bằng đường biển vào [[cảng Moresby]] trong tuần lễ thứ nhất của tháng 5". Do vậy ''Yorktown'' được lệnh rời khỏi Tongatapu vào ngày [[27 tháng 4]] năm [[1942]], một lần nữa hướng về biển Coral. Lực lượng Đặc nhiệm TF 11, giờ đây dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc [[Aubrey W. Fitch]], người thay thế Brown trên chiếc ''Lexington'', rời Trân Châu Cảng để gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 17 của Đô đốc Fletcher và tiến đến gần vị trí của nhóm ''Yorktown'', phía Tây Nam [[quần đảo New Hebrides]] vào ngày [[1 tháng 5]].
=== Trận chiến biển Coral ===
{{main|Trận chiến biển Coral}}
Lúc 15 giờ 17 phút ngày hôm sau, hai chiếc Dauntless thuộc phi đội VS-5 nhìn thấy một tàu ngầm Nhật chạy trên mặt nước. Ba chiếc Devastator cất cánh từ ''Yorktown'' nhanh chóng bay đến nơi và thực hiện cuộc tấn công nhưng chỉ đuổi được chiếc tàu ngậm lặn sâu xuống.
 
Sáng ngày [[3 tháng 5]], các lực lượng đặc nhiệm TF 11 và TF 17 ở cách nhau 160 km (100 dặm) thực hiện việc tiếp nhiên liệu. Lúc nữa đêm, Đô đốc Fletcher nhận được tin từ các máy bay đặt căn cứ tại Australia rằng các tàu vận tải Nhật đã đổ quân và thiết bị lên [[Tulagi]] thuộc [[quần đảo Solomon]]. Đến nơi không lâu sau khi người Australia rút lui khỏi nơi này, quân Nhật khởi sự xây dựng một căn cứ [[thủy phi cơ]] để hỗ trợ các đòn tấn công về phía Nam.
Cùng ngày hôm đó, Lực lượng Đặc nhiệm TF 44, một nhóm tàu tuần dương và tàu khu trục dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Anh Crace, gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF11 của chiếc ''Lexington'', hoàn tất việc sáp nhập một lực lượng Đồng Minh hỗn hợp trước Trận chiến biển Coral quyết định.
 
Ở một nơi nào đó về phía Bắc, mười một tàu vận tải đổ bộ được hộ tống bởi các tàu khu trục và được yểm trở bởi chiếc tàu sân bay hạng nhẹ [[Shōhō (tàu sân bay Nhật)|''Shōhō'']], bốn tàu tuần dương hạng nặng và một tàu khu trục, đang hướng tới cảng Moresby. Thêm vào đó, một lực lượng đặc nhiệm Nhật Bản khác - xây dựng chung quangquanh hai cựu binh của trận Trân Châu Cảng là các tàu sân bay [[Shōkaku (tàu sân bay Nhật)|''Shōkaku'']] và [[Zuikaku (tàu sân bay Nhật)|''Zuikaku'']], và được hộ tống bởi hai tàu tuần dương hạng nặng và sáu tàu khu trục cung cấp sự hỗ trợ từ trên không.
 
Sáng ngày [[6 tháng 5]], Đô đốc Fletcher tập hợp mọi lực lượng Đồng Minh dưới quyền chỉ huy chiến thuật của ông thành Lực lượng Đặc nhiệm TF17TF 17. Sáng sớm ngày [[7 tháng 5|7]], ông tách Đô đốc Crace cùng các tàu tuần dương và tàu khu trục dưới quyền hướng đến quần đảo [[Louisiade]] để đánh chặn mọi lực lượng đối phương dự định hướng đến cảng Moresby.
 
Trong khi Fletcher di chuyển lực lượng của ông với hai tàu sân bay lên phía Bắc và tung lực lượng tìm kiếm đối phương, các máy bay trinh sát Nhật đã phát hiện chiếc tàu chở dầu [[USS Neosho (AO-23)|''Neosho'']] và chiếc tàu khu trục theo hộ tống [[USS Sims (DD-409)|''Sims'']], và nhận nhầm chiếc đầu là một tàu sân bay. Hai đợt máy bay Nhật, trước tiên là những chiếc máy bay ném bom bay cao rồi đến các máy bay ném bom bổ nhào, đã tấn công hai chiếc tàu này. Chiếc ''Sims'', do hệ thống pháo phòng không bị hỏng, bị đánh trúng ba quả và chìm nhanh chóng với tổn thất nhân mạng nặng nề. Chiếc ''Neosho'' may mắn hơn, cho dù bị đánh trúng trực tiếp bảy quả cùng tám quả gần trúng đích, vẫn còn nổi được đến tận ngày [[11 tháng 5|11]], khi những người còn sống sót được tàu khu trục [[USS Henley (DD-391)|''Henley'']] cứu thoát và xác tàu được chiếc tàu khu trục cho đánh chìm.
 
''Neosho'' và ''Sims'' đã thực hiện một nghĩa vụ đáng giá là thu hút các máy bay có thể đã đánh trúng các tàu sân bay của Fletcher. Trong khi đó, máy bay của ''Yorktown'' và ''Lexington'' đã tìm thấy ''Shōhō'' và đánh chìm nó. Một phi công của ''Lexington'' đã báo cáo chiến thắng này bằng một thông điệp radio nỗinổi tiếng "Xóa sổ một tàu sân bay" (Scratch one flattop).
 
Chiều hôm đó, [[Shōkaku (tàu sân bay Nhật)|''Shōkaku'']] và [[Zuikaku (tàu sân bay Nhật)|''Zuikaku'']], vốn chưa được lực lượng của Đô đốc Fletcher tìm thấy, đã tung ra 27 chiếc máy bay ném bom và máy bay phóng ngư lôi để tìm kiếm các tàu Mỹ. Những chuyến bay này tỏ ra êm ả cho đến khi chúng chạm trán cùng các máy bay tiêm kích của ''Yorktown'' và ''Lexington'', và bị bắn rơi chín chiếc trong cuộc không chiến diễn ra sau đó.
Các đội cứu hộ trên chiếc ''Lexington'' đã kiểm soát được các đám cháy, và chiếc tàu có thể tiếp tục các hoạt động không lực cho dù bị hư hại. Bản thân trận chiến trên không kết thúc vào giữa trưa ngày [[8 tháng 5|5]]; trong vòng một giờ, chiếc tàu sân bay đã lấy lại được thăng bằng, cho dù hơi bị thấp về phía mũi. Tuy nhiên, một vụ nổ gây ra do hơi xăng đã làm phát sinh thêm một đám cháy và phá hỏng mọi thứ bên trong tàu. ''Lexington'' bị bỏ lại lúc 17 giờ 07 phút, và sau đó bị đánh chìm bởi chiếc tàu khu trục [[USS Phelps (DD-361)|''Phelps'']].
 
Quân Nhật đã giành được một thắng lợi về phương diện chiến thuật, gây ra những thiệt hại tương đối lớn cho lực lượng Đồng Minh, nhưng với việc chặn đứng được đà xâm chiếm của quân Nhật ở khu vực Nam và Tây Nam Thái Bình Dương, phe Đồng Minh đã có được một chiến thắng về mặt chiến lược. ''Yorktown'' phải gánh chịu những hư hỏng đáng kể khiến các chuyên gia ước tính rằng phải mất ít nhất là ba tháng trong ụ tàu để có thể đưa nó trở lại tình trạng hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, không có đủ thời gian để sửa chữa nó, bởi vì theo tin tức tình báo Đồng Minh - chủ yếu là đơn vị giải mã tại Trân Châu Cảng - đã thu thập đủ thông tin từ các bức điện giải mã được của Hải quân Nhật để dự đoán rằng Nhật đang tích cực chuẩn bị cho một chiến dịch quan trọng nhắm vào đỉnh cực Tây Bắc của chuỗi quần đảo Hawaii - hai hòn đảo nhỏ trong một vũng biển san hô được biết đến dưới tên gọi là [[đảo Midway|Midway]].
 
=== Trận Midway ===
''Yorktown'' cũng nhận được lệnh quay về Hawaii; và nó về đến Trân Châu Cảng ngày [[27 tháng 5]]. Thực hiện một công việc gần như là kỳ diệu, công nhân của xưởng tàu đã làm việc suốt ngày đêm để thực hiện các sửa chữa đủ cho phép chiếc tàu có thể tiếp tục ra khơi. Lực lượng không quân của nó, đa số là có kinh nghiệm nhưng đã bị kiệt sức, được bổ sung bằng máy bay và phi công của chiếc ''Saratoga'' (CV-3) lúc đó còn đang hướng về vùng biển Hawaii sau khi được hiện đại hóa ở vùng bờ Tây. Sẵn sàng để tham chiến, chiếc ''Yorktown'' khởi hành như là hạt nhân của Lực lượng đặc nhiệm TF 17 vào ngày [[30 tháng 5]].
 
Về phía Đông Bắc Midway, ''Yorktown'', treo cờ hiệu của Chuẩn Đô đốc Fletcher, gặp gỡ Lực lượng đặc nhiệm TF16TF 16 dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc [[Raymond A. Spruance]] và duy trì một khoảng cách 16 km (10 dặm) về phía Bắc. Các chuyến bay tuần tra xuất phát từ cả Midway lẫn các tàu sân bay được thực hiện đều đặn trong những ngày đầu [[tháng 6]]. Sáng sớm ngày [[4 tháng 6]] khi hừng đông vừa ló dạng, ''Yorktown'' tung ra một nhóm mười chiếc [[SBD Dauntless|Dauntless]] thuộc phi đội VB-5 tìm kiếm trong một vùng bán kính 160 km (100 dặm) về phía Bắc nhưng không tìm thấy được gì.
 
Trong khi đó, những chiếc [[PBY]] cất cánh từ Midway đã nhìn thấy lực lượng Nhật Bản đang tiến đến gần và chuyển tiếp lệnh báo động đến các lực lượng Hoa Kỳ đang phòng thủ hòn đảo san hô chiến lược. Đô đốc Fletcher, người nắm quyền chỉ huy chiến thuật, ra lệnh cho Lực lượng Đặc nhiệm TF16TF 16 của Đô đốc Spruance truy tìm lực lượng tàu sân bay đối phương và tấn công chúng ngay khi tìm thấy.
Nhóm trinh sát của chiếc ''Yorktown'' quay trở về vào lúc 8 giờ 30 phút, hạ cánh không lâu sau khi một nhóm sáu (CAP) vừa cất cánh. Khi chiếc Dauntless cuối cùng được thu hồi, sàn đáp được gấp rút tái bố trí để chuẩn bị tung ra nhóm tấn công: 17 chiếc Dauntless thuộc Phi đội VB-3; 12 chiếc Devastator thuộc Phi đội VT-3, và sáu chiếc Wildcat thuộc Phi đội VF-3. Trong khi đó, ''Enterprise'' và ''Hornet'' cũng tung ra các nhóm tấn công của họ.
Tuy nhiên, việc mất mát những chiếc máy bay ném ngư lôi cũng mang lại một kết quả. Những chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không Nhật Bản đã rời bỏ vị trí bảo vệ các tàu sân bay trên tầm cao và tập trung vào những chiếc Devastator đang bay sát mặt biển. Bầu trời trên cao bị bỏ ngõ cho những chiếc Dauntless đến từ những chiếc ''Yorktown'' và ''Enterprise''.
Hầu như không bị ngăn trở, các máy bay ném bom bổ nhào của chiếc ''Yorktown'' nhắm vào [[Sōryū (tàu sân bay Nhật)|Sōryū]], đánh trúng ba phát chí mạng bằng bom 450 kg (1.000 lb), biến nó thành một địa ngục. <ref>{{cite web | title = Soryu (Aircraft Carrier, 1937-1942) | work = Online Library of Selected Images: Japanese Navy Ships | publisher = Department Of The Navy -- Naval Historical Center | date = 21 March 1999 | url = http://www.history.navy.mil/photos/sh-fornv/japan/japsh-s/soryu.htm | accessdate = 2006-12-06 }}</ref> Trong lúc đó, máy bay của ''Enterprise'' đã đánh trúng [[Akagi (tàu sân bay Nhật)|Akagi]] và [[Kaga (tàu sân bay Nhật)|Kaga]], biến chúng thành những xác tàu trong phút chốc. Bom ném ra từ những chiếc Dauntless trúng vào các tàu sân bay Nhật khi chúng đang trong quá trình tiếp nhiên liệu và tiếp bom đạn cho máy bay, và sự kết hợp của nổ bom và xăng là một thảm họa cho phía Nhật Bản.
Ba tàu sân bay Nhật đã bị mất. Tuy vậy, một chiếc thứ tư là [[Hiryū (tàu sân bay Nhật)|Hiryū]] vẫn còn đang tự do. Tách biệt khỏi những chiếc tàu sân bay kia, nó tung ra một lực lượng tấn công bao gồm 18 chiếc "Vals" và nhanh chóng tìm thấy ''Yorktown''.
[[Tập tin:Yorktown dive bombing.jpg|thumb|left|Khói tuôn ra từ chiếc ''Yorktown'' sau khi bị các máy bay ném bom bổ nhào Nhật đánh trúng nồi hơi trong [[trận Midway]].]]
Ngay khi những kẻ tấn công được nhận diện trên màn hình radar của chiếc ''Yorktown'' vào khoảng 13 giờ 29 phút, nó ngưng việc tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không trên sàn đáp và nhanh chóng chuẩn bị hành động. Những chiếc máy bay ném bom bổ nhào quay trở về được lệnh tránh xa tạo khoảng trống cho hỏa lực phòng không. Những chiếc Dauntless được lệnh bay trên tầm cao nhằm tạo ra một hàng rào tuần tra trên không. Một thùng xăng phụ trữ lượng 800 gallon cũng được đẩy bỏ qua đuôi tàu nhằm hạn chế nguy cơ cháy. Thủy thủ đoàn tháo rỗng các ống dẫn nhiên liệu, đóng chặt và cố định tất cả các ngăn.
Tất cả những chiếc máy bay tiêm kích của ''Yorktown'' đều được tung ra để đánh chặn những chiếc máy bay Nhật Bản đang tiến đến gần, và đã chạm trán với nhau ở khoảng cách 24 đến 32 km (15 - 20 dặm). Những chiếc Wildcat đã tấn công một cách quyết liệt, phá vỡ một cuộc tấn công xem ra được tổ chức khá chặt chẻ với khoảng 18 chiếc [[máy bay ném bom bổ nhào]] "Val" và 18 chiếc [[máy bay tiêm kích]] "Zero". "Máy bay bay tán loạn ở khắp mọi hướng", thuyền trưởng Buckmaster sau này ghi lại "và nhiều chiếc bị bốc cháy". Người chỉ huy của tốp "Val", Trung úy Joichi Tomonaga, có thể đã bị bắn rơi bởi chỉ huy phi đội VF-3, Đại úy John S. Thach.[http://www.history.navy.mil/photos/ac-usn22/f-types/f4f.htm].
Cho dù đã có một hàng phòng thủ ngăn chặn mạnh mẽ và sự cơ động lẫn tránh, vẫn có ba chiếc "Val" ném bom trúng đích. Hai chiếc trong số đó bị bắn rơi không lâu sau khi cắt bom; còn chiếc thứ ba bị mất điều khiển ngay sau khi quả bom rời khỏi đế. Nó bay loạng choạng và đâm trúng ngay phía sau thang nâng số hai, nổ tung khi chạm tạo ra một lổ hổng khoảng ba mét vuông trên sàn đáp. Các mảnh bom nổ tung đã giết hại hai khẩu đội pháo 1,1 inch phía sau đảo cấu trúc thượng tầng và trên sàn đáp bên dưới. Các mảnh bom xuyên thủng sàn đáp trúng phải ba chiếc máy bay đang đậu trong sàn chứa, gây ra các đám cháy. Một trong những chiếc máy bay này, một chiếc Dauntless, đã nạp đầy xăng và mang một quả bom 450 kg (1.000 lb). Các phản ứng tức thời của Trung úy A. C. Emerson, sĩ quan chỉ huy sàn chứa, đã ngăn chặn được một đám cháy nghiêm trọng có thể xảy ra bằng cách kích hoạt hệ thống vòi phun chửachữa cháy và nhanh chóng dập tắt đám cháy.
Quả bom thứ hai ném trúng chiếc tàu từ mạn trái, xuyên thủng sàn đáp, và nổ tung ở phần bên dưới các [[ống khói (tàu)|ống khói]]. Nó phá vỡ ống lấy hơi của ba nồi hơi, làm ngưng hoạt động hai nồi hơi, và làm dập lửa năm nồi hơi. Khói và hơi gas bắt đầu tràn ngập các lò đốt của sáu nồi hơi. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn của nồi hơi số một vẫn tiếp tục ở lại vị trí của họ bất chấp sự nguy hiểm và sự khó chịu để tiếp tục đốt lò, giữ cho có đủ áp lực hơi nước để vận hành hệ thống hơi nước phụ trợ.
Nỗ lực thứ hai nhằm cứu con tàu không bao giờ thực hiện được. Suốt đêm [[6 tháng 6|6]] và rạng ngày [[7 tháng 6]], ''Yorktown'' vẫn còn ngoan cường nổi trên mặt nước. Tuy nhiên đến 05 giờ 30 phút ngày [[7 tháng 6]], người trên các con tàu lân cận thấy độ nghiêng của con tàu nhanh chóng gia tăng. Đến 07 giờ 01 phút, con tàu lật sang mạn trái và chìm ở độ sâu 5.500 m.
 
 
== Phần thưởng – Tái phát hiện ==

Trình đơn chuyển hướng