Khác biệt giữa các bản “Tenzin Gyatso”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
không có tóm lược sửa đổi
 
== Tiểu sử ==
Sư chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc [[Tây Tạng]] vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 trong một gia đình nông dân.<ref name=li-bell>Vào lúc Tenzin Gyatso sinh, Taktser là một thành phố thuộc tỉnh Thanh Hải và do [[Mã Lân (quân phiệt)|Mã Lân]], một quân phiệt liên minh với [[Tưởng Giới Thạch]] và được [[Trung Quốc Dân Đảng (định hướng)|Quốc dân đảngĐảng]] bổ nhiệm là người lánh đạo Thanh Hải. Xem Thomas Laird, ''The Story of Tibet. Conversations with the Dalai Lama'', Grove Press: New York, 2006 ; Li, T.T. "''Historical Status of Tibet''", Columbia University Press, p. 179; Bell, Charles, "''Portrait of the Dalai Lama''", p. 399; Goldstein, Melvyn C. Goldstein, ''A history of modern Tibet'', pp. 315–317</ref> Tên trước khi được thừa nhận trở thành vị Đạt-Lại Lạt ma thứ 14 là "Lhamo Dhondup". Sư được thừa nhận là Đạt-lại Lạt-ma vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là [[Hóa thân (Phật giáo)|Hóa thân]] của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13, cũng là hiện thân của [[Bồ Tát]] [[Quán Thế Âm]], hiện thân của lòng từ bi.
 
Theo truyền thống của người Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân lòng từ của chư Phật và Bồ Tát, người chọn con đường tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh. Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma cũng được hiểu là '''Hộ Tín''', "Người bảo vệ đức tin", '''Huệ Hải''', "Biển lớn của trí tuệ", '''Pháp vương''', "Vua của Chánh Pháp", '''Như ý châu''', "Viên bảo châu như ý"...

Trình đơn chuyển hướng