Khác biệt giữa các bản “Đinh Cơ”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Khoảng 10 ngày sau khi đăng cơ, Hán Ai Đế đón tổ mẫu cùng thân mẫu đến [[Vị Ương cung]]. Cao Xương hầu [[Đổng Hoành]] (董宏) tấu lên, lấy ''"Mẫu dĩ Tử quý"'' (母以子贵) làm lý lẽ, cẩn tôn Đinh Cơ làm Đế Thái hậu. Dưới áp lực của Đại tư mã [[Vương Mãng]], cùng [[Khổng Quang]] và [[Sử Đan]], Đổng Hoành bị cắt chức lưu đày, nhưng Hán Ai Đế sau đó liền đến Trường Tín cung, xin dâng thụy hiệu cho Lưu Khang làm '''Cung Hoàng'''. Rồi cuối cùng, vào ngày [[19 tháng 5]] (âm lịch) cùng năm đó, Hán Ai Đế Lưu Hân dựa vào đó mà ra chỉ phong cho Phó Thái hậu tước hiệu '''Cung hoàng thái hậu''' (恭皇太后), còn Đinh Cơ mẹ của Ai Đế được phong làm '''Cung hoàng hậu''' (恭皇后), đều lấy thụy hiệu của Định Đào Cung vương Lưu Khang làm hiệu, để tỏ rõ phân biệt. Trong chiếu có viết:''"[[Kinh Xuân Thu]] nói 'Mẫu dĩ tử quý', ứng nên tôn kính Phó Thái hậu làm Cung Hoàng thái hậu, Đinh Cơ làm Cung Hoàng hậu, lấy tả hữu Chiêm sự, phong ấp và bày biện đều án theo Trường Tín cung cùng Trung cung đãi ngộ"''. Ngoài ra, Hán Ai Đế còn truy tôn cha của Phó Thái hậu làm ''Sùng Tổ hầu'' (崇祖侯), cha của Đinh Cơ làm ''Bao Đức hầu'' (褒德侯)<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:成帝崩,哀帝即位。王太后诏令傅太后、丁姬十日一至未央宫。高昌侯董宏希指,上书言宜立丁姬为帝太后。师丹劾奏:“宏怀邪误朝,不道。”上初即位,谦让,从师丹言止。后乃白令王太后下诏,尊定陶恭王为恭皇。哀帝因是曰:“《春秋》‘母以子贵’,尊傅太后为恭皇太后,丁姬为恭皇后,各置左右詹事,食邑如长信宫、中宫。追尊恭皇太后父为崇祖侯,恭皇后父为褒德侯。”</ref>.
 
Năm Thái Sơ Nguyên Tương ([[5 TCN]]), Phó Thái hậu được tôn làm [[Hoàng thái thái hậu]], còn Đinh Cơ được cải hiệu thành '''Đế Thái hậu''' (帝太后), chỗ ở tôn gọi là [[Trung An cung]] (中安宮). Hai người anh trai; [[Đinh Trung]] (丁忠) mất sớm nên truy tặng làm ''Bình Chu Hoài hầu'' (平周怀侯), lấy con trai là [[Đinh Mãn]] (丁满) tập tước; [[Đinh Minh]] (丁明) phong tước ''Dương An hầu'' (阳安侯), làm quan đến [[Đại tư mã]] kiêm ''Phiêu Kị tướng quân'' (票骑将军). Hai người chú của bà là [[Đinh Vọng]] (丁望) làm đến ''Tả tướng quân'' (左将军), [[Đinh Hiến]] (丁宪) nhậm ''Thái bộc'' (太仆)<ref>《汉书·卷十一·哀帝纪第十一》:五月丙戌,立皇后傅氏。诏曰:“《春秋》‘母以子贵’,奠定陶太后曰恭皇太后,丁姬曰恭皇后,各置左右詹事,食邑如长信宫、中宫。”追尊傅父为崇祖侯、丁父为褒德侯。封舅丁明为阳安侯,舅丁满为平周侯。追谥满父忠为平周怀侯,皇后父晏为孔乡侯,皇太后弟侍中光禄大夫赵钦为新成侯。</ref>.<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:丁姬为帝太后,两兄忠、明。明以帝舅封阳安侯。忠蚤死,封忠子满为平周侯。太后叔父宪、望,望为左将军,宪为太仆。明为大司马票骑将军,辅政。丁氏侯者凡二人,大司马一人,将军、九卿、二千石六人,侍中、诸曹亦十余人。丁、傅以一二年间暴兴尤盛。然哀帝不甚假以权势,权势不如王氏在成帝世也。</ref>.
 
Năm Kiến Bình thứ 2 ([[5 TCN]]), ngày [[5 tháng 6]], Đế Thái hậu Đinh thị qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Hán Ai Đế ra chỉ:''"Trẫm nghe phu thê là một thể. [[Kinh Thi]] viết:"Cốc tắc dị thất, Tử tắc đồng huyệt". [[Quý tôn Túc|Quý Vũ tử]] [[nước Lỗ]] ngày xưa táng ở tẩm lăng, nhưng mộ của chính thê Đỗ thị lại ở bậc dưới, nên con cháu cẩn xin hợp táng. Lễ phụ táng, từ thời Chu triều đã có. [[Khổng Tử]] nói:"Chu triều điển nghi đã rất hoàn bị! Ta chỉ cần nên tuân theo". Là con có hiếu, thì đối đãi người chết và người khi sống là như nhau. Nay Đế Thái hậu nên cùng một lăng với Cung Hoàng."''<ref>《汉书·卷九十七下·外戚传第六十七下》:建平二年,丁太后崩。上曰:“《诗》云‘谷则异室,死则同穴’。昔季武子成寝,杜氏之墓在西阶下,请合葬而许之。附葬之礼,自周兴焉。孝子事亡如事存,帝太后宜起陵恭皇之园。”遣大司马票骑将军明,东送葬于定陶,贵震山东。</ref>. Do đó, Ai Đế làm lễ hợp táng rất long trọng cho Đinh Thái hậu, phái cữu cữ Đinh Minh lo liệu tất cả.

Trình đơn chuyển hướng