Khác biệt giữa các bản “Mai Hắc Đế”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
không có tóm lược sửa đổi
| tước vị = [[Vua Việt Nam]]
| thêm = vietnam
| hình = Mai_Hac_De_temple_gate_in_2014.jpg
| ghi chú hình = Đền thờ Mai Hắc Đế ở Phổ Mai Hắc Đế, [[Hà Nội]]
| chức vị = [[Vua Việt Nam]] [[Bắc thuộc|thời Bắc thuộc]]
| tại vị = [[713]] – [[722]]
 
== Thời thơ ấu ==
 
{{Lịch sử Việt Nam}}
Mai Thúc Loan sinh vào khoảng cuối [[thế kỷ 7|thế kỷ thứ 7]], tại thôn Ngọc Trừng, [[Xứ Nghệ|Hoan Châu]], nay thuộc huyện Nam Đàn, [[Nghệ An]]. Theo ''[[Việt điện u linh]]'', cha của Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Thạch Hà, [[Hà Tĩnh]], lưu lạc sang vùng Nam Đàn, [[Nghệ An]].<ref>Theo một truyền thuyết, mẹ ông vốn là người làng ven biển [[Mai Phụ]], thuộc [[Xứ Nghệ|Hoan Châu]], nay là xã Mai Phụ, huyện [[Lộc Hà]], [[Hà Tĩnh]] không chồng mà tự nhiên có mang. Bị dân làng cười chê, bà xấu hổ nuốt nước mắt bỏ làng trốn đi và phiêu bạt tới thôn Ngọc Trừng, [[Nam Đàn]]. Ông mang họ mẹ.</ref>
 
 
Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi lấy củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất<!--Bố nuôi?-->. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi [[đô vật]], học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông."
{{Lịch sử Việt Nam}}
 
Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân...
 
 
== Tưởng nhớ ==
[[Tập tin:Mai Hac De temple gate in 2014.jpg|nhỏ|Cổng đền thờ Mai Hắc Đế.]]
Đời sau nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông ở trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Ngày nay tại địa phận xã [[Vân Diên]], huyện [[Nam Đàn]] có [[khu di tích]] tưởng niệm ông. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong ''Tiên chân báo huấn tân kinh'' để ở đền thờ, ca tụng công đức ông như sau (bản dịch):
 

Trình đơn chuyển hướng