Khác biệt giữa các bản “Huân chương Kháng chiến”

Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
không có tóm lược sửa đổi
n
"Huân chương kháng chiến" là một loại [[Huân chương Việt Nam|huân chương]]của Nhà nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (nay là Nhà nước [[Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam]], đặt ra lần đầu theo Sắc lệnh 216/SL ngày 20 tháng 8 năm 1948 của [[Chủ tịch nước Việt Nam|Chủ tịch nước]] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Luật Thi đua - Khen thưởng (ban hành ngày 26-11-2003) thì Huân chương Kháng chiến không còn nằm trong thang bậc khen thưởng của Nhà nước Việt Nam.
{{wikify}}
"Huân chương kháng chiến" để thưởng những người Việt Nam bất cứ là nhân viên giúp việc trong các cơ quan Chính phủ hay là dân chúng hoặc những đoàn thể có công với Quân đội hoặc các tổ chức Quốc phòng và Kháng chiến.
Đặt ra lần đầu theo sắc lệnh 216/SL ngày 20 tháng 8 năm 1948 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
 
Huân chương kháng chiến để tặng cho tập thể, tặng hoặc truy tặng cá nhân (kể cả tập thể và cá nhân nước ngoài) có công lao trong [[Kháng chiến chống Pháp]] (1946-1954) và [[Kháng chiến chống Mỹ]] (1954-1975).
Huân chương kháng chiến có ba hạng: Nhất, Nhì, Ba.
 
Huân chương Kháng chiến có 3 hạng được phân biệt bằng số sao đính trên dải và cuống huân chương: hạng nhất có 3 sao, hạng nhì có 2 sao, hạng ba có 1 sao. Thẩm quyền tặng, truy tặng Huân chương Kháng chiến do Chủ tịch nước quyết định.
 
{{Sơ khai}}

Trình đơn chuyển hướng

Không gian tên

Biến thể