Khác biệt giữa các bản “Giải phẫu học”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chèn wiki link
(Chèn wiki link)
{{Đang viết}}[[File:Vesalius-copy.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Vesalius-copy.jpg|thế=|nhỏ|280x280px|Một bức vẽ giải phẫu chi tiết trong cuốn ''[[De humani corporis fabrica]]'' của [[Andreas Vesalius]], vào thế kỷ XVI. Cuốn sách đã đánh dấu sự ra đời của bộ môn giải phẫu học.]]
'''Giải phẫu học''' (Tiếng Anh: ''anatomy'', lấy từ chữ Hy Lạp là ''anatomē'', nghĩa là "mổ xẻ") là một trong các phân ngành của [[sinh học]], liên quan đến nghiên cứu hình thái và cấu tạp của cơ thể sinh vật.<ref>Merriam Webster Dictionary</ref> Giải phẫu học cũng là một nhánh trong khoa học tự nhiên mà đi sâu vào tổ chức cấu trúc trong các sinh vật sống. Đây là một bộ môn khoa học lâu đời, với nguồn gốc có từ tận thời Tiền sử.<ref>{{cite web|url=http://www.booktionary.com.ng/index_files/Page1935.htm|title=Anatomy|last=Rotimi|first=Booktionary|date=|website=|archive-url=|archive-date=|dead-url=|access-date=}}</ref> Phân ngành này vốn gắn liền với các ngành khác như [[Sinh học phát triển|sinh học phát triển]], [[Phôi học|phôi học]], [[Giải phẫu so sánh|giải phẫu so sánh]], [[Sinh học tiến hóa|sinh học tiến hóa]] và [[Phát sinh chủng loại học|phát sinh chủng loại học]],<ref name="intro HGray">{{cite web|url=http://www.bartleby.com/107/1.html|title=Introduction page, "Anatomy of the Human Body". Henry Gray. 20th edition. 1918|accessdate=19 March 2007|archiveurl=https://web.archive.org/web/20070316005206/http://www.bartleby.com/107/1.html|archivedate=16 March 2007}}</ref> vì thông qua giải phẫu, ta có thể quan sát những biến đổi về cấu trúc trong một khoảng thời gian ngắn (như sự phát triển của phôi) hoặc rất dài (như trong tiến hóa). Trong khi giải phẫu học nghiên cứu về cấu trúc thì [[Sinh lý học|sinh lý học]] nghiên cứu về chức năng của sinh vật cũng như các cơ quan, vì vậy, hai bộ môn này tạo thành một cặp liên ngành trong khoa học tự nhiên và thường được nghiên cứu cùng nhau. [[Giải phẫu người]] là một trong những ngành khoa học cơ bản thiết yếu được [[Khoa học ứng dụng|áp dụng]] trong [[Y học|y học]].<ref>Arráez-Aybar et al. (2010). Relevance of human anatomy in daily clinical practice. Annals of Anatomy-Anatomischer Anzeiger, 192(6), 341–348.</ref>
 
Các ngành của giải phẫu có thể được chia thành [[Giải phẫu vĩ mô|giải phẫu vĩ mô]] và [[Giải phẫu vi mô|giải phẫu vi mô]]. Giải phẫu vĩ mô, hay [[Giải phẫu thô|giải phẫu thô]], là nghiên cứu các bộ phận cơ thể của động vật chỉ với mắt thường. Giải phẫu vĩ mô cũng bao gồm các nhánh của giải phẫu bề ngoài. Giải phẫu vi mô, hay giải phẫu hiển vi, lại sử dụng các [[Dụng cụ quang học|dụng cụ quang học]] hỗ trợ để nghiên cứu các mô từ các cấu trúc khác nhau, được gọi là [[Mô học|mô học]], và cả trong nghiên cứu [[tế bào]].
 
[[Lịch sử giải phẫu học|Lịch sử của giải phẫu học]] được đặc trưng bởi sự hiểu biết ngày càng tiến bộ về cấu trúc và chức năng của các [[Cơ quan (sinh học)|cơ quan]] trên [[Cơ thể người|cơ thể con người]]. Các phương pháp sử dụng để giải phẫu cũng có những bước tiến đáng kể: từ chỉ mổphẫu xẻtích thô xác động vật, ngày nay, ta sử dụng các kỹ thuật hình ảnh y học tiên tiến như [[Tia X|X-quang]], [[Siêu âm|siêu âm]] và [[Chụp cộng hưởng từ|chụp cộng hưởng từ]] để nghiên cứu.
 
== Định nghĩa ==
Giải phẫu học được chia thành một số phân ngành nhỏ hơn như giải phẫu vĩ mô (giải phẫu thô) và giải phẫu vi mô (giải phẫu hiển vi).<ref>{{cite web|url=http://medical-dictionary.thefreedictionary.com/microscopic+anatomy|title=Anatomy|year=2007|work=The Free Dictionary|publisher=Farlex|accessdate=8 July 2013}}</ref> Giải phẫu vĩ mô nghiên cứu về các cấu trúc đủ lớn để có thể thấy bằng mắt thường. [[Giải phẫu bề mặt]] cũng được xếp vào giải phẫu vĩ mô, phân ngành này chuyên nghiên cứu các đặc điểm cơ thể có thể nhìn thấy ở bên ngoài mà không mổ vào bên trong. Giải phẫu vi mô (bộ môn mô - phôi) là nghiên cứu về các cấu trúc ở cấp độ hiển vi. [[Mô học]] (nghiên cứu về mô) và [[Phôi thai học|phôi học]] (nghiên cứu về [[phôi]]) cũng được xếp vào nhóm ngành này.<ref name="intro HGray" />
 
Giải phẫu có thể được nghiên cứu bằng cả phương pháp xâm lấn và không xâm lấn với mục đích là thu được thông tin về cấu trúc và tổ chức của các cơ quan và hệ thống.<ref name="intro HGray" /> Phương pháp được sử dụng có thể kể đến như [[Giải phẫu|giải phẫutích]] (hay mổ xẻ), tức là ta sẽ "mở" cơ thể sinh vật và nghiên cứu các cơ quan. Một phương pháp khác là [[Nội soi|nội soi]], sử dụng một dụng cụ có gắn máy quay và đưa vào cơ thể qua một vết mổ nhỏ, những hình ảnh thu được sẽ cho ta thông tin về các cơ quan nội tạng cũng như các cấu trúc khác. [[Chụp động mạch]] bằng tia X hoặc [[Chụp mạch cộng hưởng từ|chụp mạch cộng hưởng từ]] là phương pháp để thu được hình ảnh cho các [[Mạch máu|mạch máu]].<ref>{{cite journal|title=Use of Angiography to Outline the Cardiovascular Anatomy of the Sand Crab Portunus pelagicus Linnaeus|vauthors=Gribble N, Reynolds K|journal=Journal of Crustacean Biology|year=1993|volume=13|issue=4|pages=627–637|doi=10.1163/193724093x00192|jstor=1549093}}</ref><ref>{{cite journal|title=Characterization of the Renal Portal System of the Common Green Iguana (Iguana iguana) by Digital Subtraction Imaging|vauthors=Benson KG, Forrest L|journal=Journal of Zoo and Wildlife Medicine|year=1999|volume=30|issue=2|pages=235–241|pmid=10484138}}</ref><ref>{{cite web|url=http://www.hopkinsmedicine.org/healthlibrary/test_procedures/cardiovascular/magnetic_resonance_angiography_mra_135,14/|title=Magnetic Resonance Angiography (MRA)|publisher=Johns Hopkins Medicine}}</ref><ref>{{cite web|url=http://www.nhs.uk/conditions/angiography/Pages/Introduction.aspx|title=Angiography|publisher=National Health Service|accessdate=29 April 2014}}</ref>
 
Thuật ngữ "giải phẫu" thường được dùng để chỉ giải phẫu người. Tuy nhiên, về cơ bản thì các loài khác trong [[Giới động vật|giới Động vật]] cũng có các cấu trúc và mô tương tự như chúng ta, vì vậy, "giải phẫu" còn có thể muốn đề cập đến giải phẫu các loài động vật nói chung. Thuật ngữ "giải phẫu động vật" (''zootomy'') đôi khi cũng được sử dụng để chỉ riêng việc giải phẫu các động vật không phải người. Cấu trúc và mô của thực vật có bản chất không giống như động vật và chúng được nghiên cứu trong bộ môn khác là [[Giải phẫu thực vật|giải phẫu thực vật]].<ref name="Everyman" />
==Mô động vật==
[[File:Anima_cell_notext.svg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Anima_cell_notext.svg|phải|nhỏ|Thiết đồ cắt của một tế bào động vật (chứa lông roi)|200x200px]]
[[Giới (sinh học)|Giới]] [[Động vật]] gồm các [[sinh vật đa bào]], sống [[Sinh vật dị dưỡng|dị dưỡng]] và có thể vận động (dù trong tiến hóa, một số loài đã không còn khả năng này, chẳng hạn như san hô). Hầu hết các động vật có cơ thể được biệt hóa thành các mô riêng biệt, những động vật này còn được gọi là [[eumetazoa]]. Chúng có một khoang [[tiêu hóa]] nằm trong cơ thể, với một hoặc hai lỗ mở ra ngoài; [[giao tử]] được tạo ra tại cơ quan sinh dục đa bào và có giai đoạn phôi nang trong quá trình phát triển từ hợp tử của mình. Lưu ý, [[Động vật thân lỗ|ngành Thân lỗ]] (chẳng hạn như bọt biển) không được xếp vào động[[giới Động vật]], do chúng có các tế bào khôngchưa được biệt hóa.<ref name="Dorit549">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|pages=547–549}}</ref>
 
Không giống như [[tế bào thực vật]], [[tế bào động vật]] không có thành tế bào hay [[lục lạp]]. Nếu tế bào động vật có không bào thì có số lượng bào quan này nhiều hơn nhưng có kích thước nhỏ hơn so với ở thực vật. Các mô cơ thể gồm có nhiều loại tế bào, tính cả những loại tế bào được tìm thấy ở [[Cơ (sinh học)|]], [[dây thần kinh]][[da]]. Mỗi loại tế bào thường có màng tế bào cấu tạo từ [[phospholipid]], [[tế bào chất]][[Nhân tế bào|nhân]]. Tất cả các tế bào khác nhau của động vật đều có nguồn gốc từ các [[lá phôi]]. Những động vật không xương sống với cấu trúc đơn giản hơn được phát triển từ [[phôi hai lá]] (gồm lá phôi ngoài và lá phôi trong). Những động vật phức tạp hơn lại có cấu trúc và cơ quan được hình thành từ [[phôi ba lá]]. Tất cả các mô và cơ quan của những động vật này đều có nguồn gốc từ ba lá phôi gồm [[lá phôi ngoài]], [[lá phôi giữa]][[lá phôi trong]].<ref name="Ruppert60">{{cite book|title=Invertebrate Zoology, 7th edition|last1=Ruppert|first1=Edward E.|last2=Fox|first2=Richard, S.|last3=Barnes|first3=Robert D.|year=2004|publisher=Cengage Learning|isbn=978-81-315-0104-7|pages=59–60}}</ref>
 
Mô động vật có thể được nhóm thành bốn loại cơ bản: [[mô liên kết]], [[biểu mô]], [[mô cơ]] và [[mô thần kinh]].
=== Mô liên kết ===
[[File:Cartilage_polarised.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Cartilage_polarised.jpg|nhỏ|Hình ảnh phóng đại cao sụn trong mờ (nhuộm bằng [[phương pháp H.E]])|200x200px]]
[[Mô liên kết]] có dạng sợi và được tạo thành từ các tế bào nằm rải rác trên phần vô cơ gọi là [[chất nền ngoại bào]]. Mô liên kết tạo hình cho các cơ quan và giữ chúng đúng vị trí. Các loại mô liên kết chính gồm có mô liên kết lỏng, [[mô mỡ]], mô liên kết sợi, sụn và xương. Chất nền ngoại bào chứa các [[protein]], loại protein chủ yếu và phong phú nhất là [[collagen]]. Collagen đóng vai trò chính trong việc tổ chức và duy trì các mô. Chất nền ngoại bào có thể được biến đổi để tạo thành [[xương]] giúp nâng đỡ và bảo vệ cơ thể. [[Bộ xương ngoài]] là lớp bảo vệ dày và cứng bên ngoài cơ thể động vật. Lớp bảo vệ này có thể được làm cứng bằng cách [[khoáng hóa]] chất nền, như ở [[động vật giáp xác]] hoặc bằng cách liênđan kếtchéo chéo các protein, như ở [[côn trùng]]. [[Bộ xương trong]], ngược lại, lại ở bên trong cơ thể và có mặt ở tất cả các loài động vật phátbậc triển,cao cũng nhưmột trongsố nhiều loàiđộng kém phátvật triểnbậc hơnthấp.<ref name="Ruppert60" />
 
=== Biểu mô ===
[[File:Normal_gastric_mucosa_low_mag.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Normal_gastric_mucosa_low_mag.jpg|phải|nhỏ|Hình ảnh phóng đại thấp [[màng nhầy dạ dày]] (nhuộm bằng [[phương pháp H.E]])|200x200px]]
[[Biểu mô]] hay mô biểu bì gồm các tế bào được xếp ken chặt với nhau, liên kết với nhau bởi các [[phân tử kết dính tế bào]]. Khoảng không gian giữa các tế bào với nhau là rất nhỏ. Các tế bào của biểu mô có thể có dạng [[Biểu mô dẹt|dẹt]] (giống gạch lát sàn nhà), dạng khối (giống viên xúc xắc) hoặc dạng cột (giống hình viên gạch). Các tế bào này được xếp trên [[Lá đáy|phiến nền]] (basal lamina). Phiến nền là lớp phía trên của lớp màng nền, còn lớp phía dưới của màng nền là phiến lưới.<ref>{{cite book|last=Dorland's|title=Illustrated Medical Dictionary|date=2012|publisher=Elsevier Saunders|isbn=978-1-4160-6257-8|page=203}}</ref> Phiến lưới nằm cạnh mô liên kết trong chất nền ngoại bào được tiết ra bởi tế bào biểu mô.<ref>{{cite book|last=Dorland's|title=Illustrated Medical Dictionary|date=2012|publisher=Elsevier Saunders|isbn=978-1-4160-6257-8|page=1002}}</ref> Có nhiều loại biểu mô khác nhau, mỗi loại được biến đổi để phù hợp với chức năng cụ thể. Chẳng hạn, [[đường hô hấp]] được lót bởi một loại biểu mô có các lông rung; các tế bào biểu mô với các lông siêu nhỏ (còn gọi là [[riềm bàn chải]]) lót ở [[ruột non]] và biểu mô lót trong [[ruột già]] có các [[lông ruột]]. [[Da]], lớp phủ bên ngoài cơ thể ở [[động vật có xương sống]], được cấu tạo nhiều lớp biểu mô dẹt với phần bên ngoài được [[sừng hóa]]. [[Tế bào sừng]] chiếm tới 95% trên tổng số tế bào trong da.<ref>McGrath, J.A.; Eady, R.A.; Pope, F.M. (2004). Rook's Textbook of Dermatology (7th ed.). Blackwell Publishing. pp. 3.1–3.6. {{ISBN|978-0-632-06429-8}}.</ref> Các tế bào biểu mô ở phía mặt bên ngoài của cơ thể thường tiết ra [[chất nền ngoại bào]]. Ở các động vật đơn giản, đâychất có thểnền chỉ là một lớp [[glycoprotein]].<ref name="Ruppert60" /> Ở những động vật tiến hóa hơn, nhiều [[tuyến]] được hình thành từ các tế bào biểu mô.<ref>{{cite web|url=http://www.bio.davidson.edu/people/kabernd/BerndCV/Lab/EpithelialInfoWeb/Glandular%20Epithelium.html|title=Glandular epithelium|author=Bernt, Karen|year=2010|work=Epithelial Cells|publisher=Davidson College|accessdate=25 June 2013}}</ref>
 
=== Mô cơ ===
'''[[Rắn]]''' có họ hàng gần gũi với thằn lằn, hai nhánh này đã tách ra từ cùng dòng tổ tiên chung từ kỷ Phấn trắng, và vì vậy nên chúng có chung nhiều đặc điểm giống nhau. Bộ xương chúng được cấu thành từ một hộp sọ, xương móng, cột sống và xương sườn, một số loài còn giữ lại vết tích của xương chậu và các chi phía sau dưới "móng" xương chậu. Thanh xương bên dưới cửa sổ thứ hai cũng đã bị tiêu biến, điều này làm cho hàm rắn có độ linh hoạt cực cao và cho phép chúng nuốt trọn con mồi. Rắn không có mí mắt cử động được, thay vào đó, mắt của chúng được phủ bởi lớp vảy trong suốt, như một chiếc "kính mắt" vậy. Chúng không có màng nhĩ nhưng có thể phát hiện những rung động mặt đất qua xương sọ. Khá đặc biệt, lưỡi của rắn được sử dụng với vai trò cơ quan để "nếm" và "đánh hơi" (và chính vì vậy mà rắn thường thè lưỡi vào không khí). Một số loài còn có các lỗ cảm quan trên đầu cho phép chúng định vị nhiệt phát ra từ những con mồi máu nóng.<ref name="Dorit870">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|page=870}}</ref>
 
'''[[Cá sấu]]''' là một loài bò sát lớlớn, sống ở dưới nước trũng, có mõm dài và một số lượng lớn răng. Đầu và thân của chúng khá dẹt theo mặt lưng-bụng và đuôi được nén ngang. Chúng sẽ quẫy đuôi từ bên này sang bên kia để tạo lực đẩy khi bơi. Các vảy cứng, được sừng hóa tạo thành một lớp áo giáp bảo vệ cơ thể, một số vảy cũng được hợp nhất với hộp sọ. Lỗ mũi, mắt và tai được nâng lên phía trên cái đầu dẹt của chúng, cho phép những cơ quan này ở trên mặt nước khi cá sấu nổi. Các van sẽ bít kín lỗ mũi và tai khi chúng lặn xuống nước. Không giống như các loài bò sát khác, cá sấu có tim với bốn ngăn, khiến cho máu giàu oxy và máu nghèo oxy được tách biệt và không bị trộn lẫn.<ref name="Dorit874">{{cite book|title=Zoology|last1=Dorit|first1=R. L.|last2=Walker|first2=W. F.|last3=Barnes|first3=R. D.|year=1991|publisher=Saunders College Publishing|isbn=978-0-03-030504-7|page=874}}</ref>
 
=== Giải phẫu chim ===

Trình đơn chuyển hướng