Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Đình Khoa”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
không có tóm lược sửa đổi
'''Nguyễn Đình Khoa''' sinh năm 1940 tại làng Vân Tụ, huyện Quỳnh Lưu, nay là phường [[Quỳnh Xuân]],[[Hoàng Mai]],[[Nghệ An]] trong 1 gia đình nông dân. Về thế thứ, Ông là hậu duệ đời thứ 19 của Cương Quốc Công Nguyễn Xí, thuộc Đại chi 13 của nhị thế tổ Nguyễn Đồng Dần,Ông đảm nhận nhiều chức vụ như Tư lệnh Sân bay Hoà Lạc, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không không quân, Phó giám đốc Tổng công ty bay Miền Bắc, sau đó nghỉ hưu vào năm 2000.
 
{{Tiểu sử quân nhân
|tên = Nguyễn Đình Khoa|ngày sinh = 1940
|ngày sinh = 1940
|ngày mất = |hình =|chú thích hình = Nguyễn Đình khoa Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp |quốc tịch = [[Tập tin:Flag of Vietnam.svg|22px]] [[Việt Nam]]|nơi sinh = [[Quỳnh Xuân ]], [[Hoàng Mai]], [[Nghệ An]], [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]
|ngày mất =
|nơi mất = |biệt danh = |phục vụ = |thuộc = [[Tập tin:Flag of Vietnam.svg|22px]] [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]|năm phục vụ = 1957–2000|cấp bậc = Tư lệnh Sân Bay Hòa Lạc |Tư lệnh Sân Bay Hòa Lạc.
|hình =
|đơn vị = |chỉ huy = |tham chiến = |khen thưởng = }}
|chú thích hình =
|quốc tịch = [[Tập tin:Flag of Vietnam.svg|22px]] [[Việt Nam]]
|nơi sinh = [[Quỳnh Xuân ]], [[Hoàng Mai]], [[Nghệ An]]
|nơi mất =
|biệt danh =
|phục vụ =
|thuộc = [[Tập tin:Flag of Vietnam.svg|22px]] [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]
|năm phục vụ = 1957–2000
|cấp bậc = Đại tá Không quân
|đơn vị =
|chỉ huy =
|tham chiến =
|khen thưởng =
}}
'''Nguyễn Đình Khoa''' (sinh 1940) là một phi công [[Không quân Nhân dân Việt Nam]], [[Anh hùng lực ựong vũ trang nhân dân]].
 
 
==Tiểu sử ==
Nguyễn Đình KhoaÔng sinh năm 1940 tại làng Vân Tụ, huyện Quỳnh Lưu, (nay là phường [[Quỳnh Xuân]], thị xã [[Hoàng Mai]]), [[Nghệ An]], trong 1 gia đình nông dân. Về thế thứ, Ông là hậu duệ đời thứ 19 của Cương Quốc Công Nguyễn Xí, thuộc Đại chi 13 của nhị thế tổ Nguyễn Đồng Dần..{{fact}}
 
Năm 1957, ông nhập ngũ và được tuyển vào đào tạo lái máy bay trực thăng ở Quân chủng Không quân, làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, phục vụ lái chuyên cơ. Cuối thập niên 1950 đầu 1960, ông được giao lái loại máy bay thực thăng [[Mil Mi-4|Mi-4]] chuyên cơ, nhiều lần chở các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông được được tuyển lựa và gửi sang Liên Xô đào tạo phi công chiến đấu lái [[Mikoyan-Gurevich MiG-21|MiG-21]]. Sau khi tốt nghiệp về nước, ông được phân công công tác tại Bộ chỉ huy Phòng không - Không quân, dưới quyền Tư lệnh [[Phùng Thế Tài]].
==Sự nghiệp ==
Do nhà nghèo nên Ông chưa học xong cấp tiểu học, nhập ngũ vào năm 1957. Sau 6 năm học tập và chiến đấu trong nước, Ông được tuyển lựa và gửi sang Liên Xô học khoá đào tạo phi công chiến đấu đầu tiên của Việt Nam từ năm 1963.
 
Năm 1975, sau [[Chiến dịch Huế - Đà Nẵng]], ông được giao nhiệm vụ thu thập và tiếp quản loại máy bay [[Bell UH-1 Iroquois|UH-1A]] chiến lợi phẩm. Ông cùng các đồng đội nhanh chóng học hỏi chuyển loại để nắm vững và sử dụng loại trực thăng vũ trang này vào nhiệm vụ truy quét các nhóm thổ phỉ [[FULRO]] ở Lâm Đồng và Đak Lak. Khi [[chiến tranh biên giới Tây Nam]] nổ ra, ông lại cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu, góp phần đánh bại lực lượng [[Khmer Đỏ]], cứu Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng (1977-1979).
Sau khi tốt nghiệp khoá học 4 năm liên tục tại Liên Xô, ông được điều động về nước phục vụ, trong biên chế Quân chủng Phòng không - Không quân của từ lệnh Phùng Thế Tài, cùng các huyền thoại không quân Việt Nam như: [[Phạm Tuân]], [[Trần Sâm]], [[Lê Thanh Ngân]]...
 
TrongDo cuộcthành khángtích chiến chống Mỹ cứu nước và sau này là cuộctrong chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, chiến tranh Việt - Trung, ông lập chiến công đặc biệt xuất sắc. Ở tuổi 49đấu, ông được Chủ tịch Nướcnước [[Tôn Đức Thắng]] ký quyết định phong danh hiệu "Anh hùng quân đội nhân dân" vào và thăng vuợt cấp từ [[Thiếu tá]] lên [[Thượng tá]] năm 1979, rồi [[Đại tá]] năm 1982.
 
SauChiến chiếntranh tranhkết thúc, Ôngông đảmlần nhậnlượt nhiềugiữ các chức vụ nhưChỉ huy lệnhtrưởng Sân bay Hoà Lạc, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không không quân, được phong hàm [[Đại tá]] năm 1982. Sau đó, ông được chuyển sang ngạch dân sự, làm Phó giám đốc Tổng công ty bay Miền Bắc,. sau đóÔng nghỉ hưu vào năm 2000.
 
Có lần tôi hỏi ông: "Sao chú giữ chức đại tá đến 18 năm mà không chịu lên tướng?" Ông thực thà: " Thời chú xã mình chưa có trường học, học leo ngheo được ít năm rồi bỏ. Sau này đi chiến trường liên miên, chỉ học kỹ thuật, không được học văn hóa. Trình độ văn hoá như chú, không đủ tiêu chuẩn lên tướng".
 
Là anh hùng không quân oai phong trong thời chiến, nhưng tại quán trà đá vỉa hè phố Lê Trọng Tấn, ta bắt gặp hình ảnh 1 ông già tóc bạc, ánh mắt hiền từ với bao nỗi niềm ưu tư của một người lính cụ Hồ còn lại, khi mà những đồng đội của ông, người quên mình nơi chiến tuyến, kẻ lạc nẻo chốn phù hoa.
 
==Giải thưởng ==
* "Anh hùng quân đội nhân dân"
 
Ông được Nhà nước Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam tặng thưởng những danh hiệu sau:
Ở tuổi 49, ông được Chủ tịch Nước [[Tôn Đức Thắng]] ký quyết định phong là "Anh hùng quân đội nhân dân"
 
==Chú thích ==
3^ [http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/04_Sj9CPykssy0xPLMnMz0vMAfGjzOLdHP2CLJwMHQ38zT0sDDyNnZ1NjcOMDQ2cDIAKIoEKDHAARwNC-sP1o8BKnN0dPUzMfQwMLHzcTQ08HT1CgywDjY0NHI2hCvBY4eeRn5uqX5AbYZBl4qgIAMIPlg0!/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/|Cổng Thông tin điện tử Quân đội nhân dân Việt Nam], [[Quân đội nhân dân Việt Nam]] _ Tin Tức Quân đội Nhân Dân Việt Nam.
 
{{thời gian sống|1940}}
[[Thể loại:Người Nghệ An]]
[[Thể loại:Phi công Quân đội nhân dân Việt Nam]]
[[Thể loại:Lãnh đạo doanh nghiệp]]
[[Thể loại:Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam]]
[[Thể loại:Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân]]
[[Thể loại:Anh hùng Lao động]]
[[Thể loại:Huân chương Hồ Chí Minh]]
210.641

lần sửa đổi

Trình đơn chuyển hướng