Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Trung Quốc”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Reverted to revision 63799266 by Tayaga334 NAUTTP (talk): Hủy sửa đổi nhỏ nhiều thành viên để xóa hết nội dung của 4 tk bị cấm, trong đó có MIG và Kayani
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(Reverted to revision 63799266 by Tayaga334 NAUTTP (talk): Hủy sửa đổi nhỏ nhiều thành viên để xóa hết nội dung của 4 tk bị cấm, trong đó có MIG và Kayani)
Thẻ: Lùi sửa Twinkle
{{Lịch sử Trung Quốc}}
{{Contains Chinese text}}
'''LịchNền sử[[Văn hóa Trung Quốc'''|văn minh đây đề cập đến [[Trung HoaQuốc]], đây là 1 trong 4 nền văn minh cổ nhất thế giới, bắt nguồn từtại lưucác khu vực phì[[thung nhiêulũng]] củadọc hai con sông:theo [[Hoàng Hà]] ([[bình nguyên Hoa Bắc]]) và [[Trường Giang]] ([[đồng bằng Trường Giang]]) trong [[Thời đại đồ đá mới]], nhưng cái nôi của nền văn minh dân tộc của quốc gia [[Trung Hoa]] đầu tiên được cho là tại trung và hạ lưu của sông Hoàng Hà trước tiên ([[Đồng bằng Hoa Bắc]]) mà dần mở rộng và phát triển và duy trì như ngày nay. Với hàng ngàn năm [[lịch sử]] tồn tại và phát triển, đây là một trong những nền văn minh lâu đời, vĩ đại nhất thế giới này và tiếp tục được gìn giữ mà luôn luôn phát triển mạnh.<ref>{{chú thích báo|url=http://www.bbc.com/news/world-asia-pacific-13017882 |title=China profile - Timeline |publisher=BBC News |date=2017-11-08 |accessdate=2018-02-22 | archiveurl = https://web.archive.org/web/20091004174043/http://news.bbc.co.uk/2/hi/africa/country_profiles/1287798.stm| archivedate = 2009-10-04}}</ref> Các văn bản ghi chép lịch sử của Trung Quốc được tìm thấy có niên đại cổ nhất là từ đời [[nhà Thương]] (khoảng 1700-1046 TCN), mặc dù một vài văn bản khác như ''[[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]]'' (khoảng 100 TCN) và ''[[Trúc thư kỉ niên|Trúc thư kỷ niên]]'' khẳng định rằng triều đại [[nhà Hạ]] đã tồn tại trước nhà Thương.<ref name="state1">{{chú thích web|url=http://exchanges.state.gov/culprop/cn04sum.html|archiveurl=http://web.archive.org/web/20071215094418/http://exchanges.state.gov/culprop/cn04sum.html|archivedate=ngày 15 tháng 12 năm 2007|title=Public Summary Request Of The People's Republic Of China To The Government Of The United States Of America Under Article 9 Of The 1970 Unesco Convention|publisher=Bureau of Educational and Cultural Affairs, U.S. State Department|accessdate=ngày 12 tháng 1 năm 2008}}{{Dead link|url=http://exchanges.state.gov/culprop/cn04sum.html|date=December 2008}}</ref><ref name="The Ancient Dynasties">{{chú thích web|url=http://www.chaos.umd.edu/history/ancient1.html|title=The Ancient Dynasties|publisher=University of Maryland|accessdate=ngày 12 tháng 1 năm 2008}}</ref> Một số phong tục văn hóa, văn họ, chính trị và cả triết học được phát triển cực kỳ mạnh trong suốt thời kỳ [[nhà Chu]].
 
Năm [[221 TCN]], được coi là năm Trung Quốc bắt đầu thống nhất đi trở thành một đế chế lớn mạnh, với 1 vị Hoàng đế-[[Tần Thủy Hoàng]] cai trị, đánh dấu '''sự khởi đầu của đế quốc Trung Hoa'''. Vào thời kỳ này, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng [[Vạn Lý Trường Thành|Vạn lý trường thành]] để bảo vệ đất nước khỏi các tộc người phương Bắc. Ông cho thống nhất chữ viết, các đơn vị đo lường và [[tiền tệ]].
Người tiền sử đã bắt đầu cư trú tại Trung Quốc từ ít nhất là gần 1 triệu năm trước, với một số ước tính cho rằng mốc này có thể lên tới 2,24 triệu năm trước.<ref>[http://www.archaeology.org/0001/newsbriefs/china.html "Early Homo erectus Tools in China"]. Viện Khảo cổ học Hoa Kỳ. 2000. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012.</ref>. Các nền văn minh [[nông nghiệp]] đầu tiên bắt đầu xuất hiện ở [[Trung Quốc]] từ khoảng 10.000 - 13.000 năm trước, đến khoảng hơn 5.000 năm trước thì các nền văn minh nông nghiệp này phát triển hoàn thiện, đã bắt đầu xuất hiện [[đồ đồng]] và các cơ cấu Nhà nước đầu tiên như quý tộc, đô thị với các cung điện, công trình tôn giáo... [[Dân tộc Trung Hoa]] hình thành từ vùng [[Trung Nguyên]] của lưu vực sông Hoàng Hà ở [[Đồng bằng Hoa Bắc]], [[Văn hóa Hồng Sơn]] góp phần định hình văn minh cùng đất nước Trung Hoa.
 
Trải qua gần 4000 năm năm đế chế (khoảng 2000 TCN – 1912 CN), văn minh Trung Hoa phát triển rực rỡ, với những thành tựu đáng nể, gồm các phát minh vĩ đại như [[giấy]], nghề [[In ấn|in]], [[la bàn]].... Trong thời gian này, có hai nền đế chế trên toàn Trung Quốc phụ thuộc vào các tộc người ngoại tộc thiểu số, là người [[Mông Cổ]] (Nay đã độc lập và tự do khỏi Trung Quốc)lập nên [[nhà Nguyên]] và người [[Mãn Châu]] (thuộc Trung Quốc) lập nên [[nhà Thanh]].
Trải qua hơn 5.000 năm, [[Văn hóa Trung Quốc|văn minh Trung Hoa]] đã phát triển trở thành một trong số nền văn minh rực rỡ nhất thế giới trong [[thời cổ đại]] và trung cổ, đặc trưng bởi hệ thống [[triết học]] thâm sâu (trong đó có [[Nho giáo]], [[Đạo giáo]] và thuyết [[Âm dương]] [[ngũ hành]]), các thành tựu [[khoa học kỹ thuật]] (phát minh ra [[giấy]], [[la bàn]], [[thuốc súng]], [[địa chấn kế]], kỹ thuật in ấn...), hoạt động giao thương xuyên châu Á ([[Con đường tơ lụa]]) và những đô thị có quy mô dân số và trình độ kiến trúc hàng đầu thế giới vào thời trung cổ. Trung Quốc là 1 trong 4 nền văn minh cổ đại lớn của thế giới (cùng với [[Ai Cập cổ đại]], [[văn minh Lưỡng Hà]] và [[văn minh lưu vực sông Ấn]]), và là nền văn minh duy nhất trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay<ref name="china.org.cn">http://www.china.org.cn/e-gudai/index-1.htm</ref><ref name="china.org.cn"/><ref>https://books.google.com.vn/books?id=KaAWAgAAQBAJ&pg=PA158&lpg=PA158&dq=china+only+civilization+today&source=bl&ots=_6TJ4SPaQK&sig=ACfU3U2lcUqjbtvNQL-OXEGYX10dXmGHDg</ref>. Bề dày lịch sử và văn hoá do các thế hệ nối nhau giữ gìn suốt 5.000 năm là điều mà không nước nào khác có được và là niềm tự hào lớn nhất của quốc gia này.<ref>[https://www.historians.org/about-aha-and-membership/aha-history-and-archives/gi-roundtable-series/pamphlets/em-42-our-chinese-ally-(1944)/the-oldest-living-civilization The Oldest Living Civilization], American Historical Association</ref><ref>[http://www.globaltimes.cn/content/1104557.shtml 5,000-year-long Chinese civilization verified], Global Times, 2018/5/29</ref>
 
Ngày nay [[Trung Hoa]] bị chia cắt thành 2 quốc gia ở tại 2 miền: [[Trung Hoa Dân Quốc]] và [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]].
Các di tích cung điện của Trung Quốc có niên đại sớm nhất là từ đời [[nhà Thương]] (khoảng 1.600-1.046 TCN), mặc dù một vài bộ sách sử như ''[[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]]'' (khoảng 100 TCN) và ''[[Trúc thư kỉ niên|Trúc thư kỷ niên]]'' khẳng định rằng triều đại [[nhà Hạ]] (khoảng 2.070 - 1.600 TCN) đã tồn tại trước nhà Thương.<ref name="state1">{{chú thích web|url=http://exchanges.state.gov/culprop/cn04sum.html|archiveurl=https://web.archive.org/web/20071215094418/http://exchanges.state.gov/culprop/cn04sum.html|archivedate=2007-12-15|title=Public Summary Request Of The People's Republic Of China To The Government Of The United States Of America Under Article 9 Of The 1970 Unesco Convention|publisher=Bureau of Educational and Cultural Affairs, U.S. State Department|accessdate=ngày 12 tháng 1 năm 2008|dead-url=yes}}</ref><ref name="The Ancient Dynasties">{{chú thích web|url=http://www.chaos.umd.edu/history/ancient1.html|title=The Ancient Dynasties|publisher=University of Maryland|accessdate=ngày 12 tháng 1 năm 2008}}</ref> Một số phong tục văn hóa, văn họ, chính trị và cả triết học được phát triển cực kỳ mạnh trong suốt thời kỳ [[nhà Chu]]. Năm [[221 TCN]], được coi là năm Trung Quốc bắt đầu trở thành một đế chế lớn mạnh, với 1 vị Hoàng đế-[[Tần Thủy Hoàng]] cai trị, đánh dấu '''sự khởi đầu của đế quốc Trung Hoa'''. Vào thời kỳ này, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng [[Vạn Lý Trường Thành|Vạn lý trường thành]] để bảo vệ đất nước khỏi các tộc người phương Bắc. Ông cho thống nhất chữ viết, các đơn vị đo lường và [[tiền tệ]]. Trong hơn 2000 năm phong kiến sau đó, có hai nền đế chế trên toàn Trung Quốc phụ thuộc vào các tộc người dân tộc thiểu số (không phải người Hán) là người [[Mông Cổ]] (Nay đã thành lập quốc gia độc lập và dân chủ riêng) lập nên [[nhà Nguyên]] và người [[Mãn Châu]] (nay thuộc Trung Quốc) lập nên [[nhà Thanh]]. Năm 1911, [[Cách mạng Tân Hợi]] nổ ra lật đổ nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng và mở ra giai đoạn lịch sử hiện đại ở Trung Quốc.
 
Hiện nay [[Trung Hoa]] vẫn chưa hoàn toàn thống nhất lãnh thổ vì đang xảy ra chia cắt giữa 2 chính phủ giống như 2 quốc gia riêng: [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] tại [[Trung Quốc đại lục]] (Đi theo [[chủ nghĩa xã hội]] và [[chủ nghĩa cộng sản]]) và [[Trung Hoa Dân Quốc]] tại [[đảo Đài Loan]] (Đi theo [[chủ nghĩa tư bản]] và [[chủ nghĩa tự do]]). Sự chia cắt này xảy ra từ năm 1949 và hiện nay 2 bên vẫn ở trong tình trạng thù địch, trong đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa luôn khẳng định sẽ không chấp nhận bất kỳ tuyên bố ly khai nào từ Đài Loan. Cả hai bên đang xúc tiến xây dựng nền hòa bình xuyên eo biển để tái thống nhất đất nước Trung Hoa trong tương lai.
 
== Thời đồ đá ==
Có lẽ hơn một triệu năm trước, người ''[[Người đứng thẳng|Homo erectus]]'' đã cư ngụ ở [[Trung Quốc]]. Những cuộc khai quật tại [[Nguyên Mưu]] và sau đó tại [[Lam Điền, Tây An|Lam Điền]] đã hé lộ những dấu tích cư trú đầu tiên. Có lẽ [[mẫu vật]] nổi tiếng nhất của ''Homo erectus'' được tìm thấy tại Trung Quốc là [[người vượn Bắc Kinh]] (北京人) được phát hiện năm [[1923]]. ''[[Loài người|Homo sapiens]]'' hay [[người hiện đại]] có thể đã tới Trung Quốc từ khoảng 65.000 trước từ [[Châu Phi]]. Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy [[kê]] tại Trung Quốc được [[xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ]] vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới [[Văn hóa Bùi Lý Cương]] (裴李崗文化) ở huyện [[Tân Trịnh, Trịnh Châu|Tân Trịnh]], tỉnh [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]]. Cùng với [[nông nghiệp]], [[dân cư]] ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối [[thực phẩm|lương thực]] và đủ cung cấp cho những người [[thợ thủ công]] cũng như [[quan lại]]. Cuối [[thời đại đồ đá|thời kỳ đồ đá mới]], vùng châu thổ [[Hoàng Hà]] bắt đầu trở thành một [[trung tâm văn hóa]], nơi những [[làng xã]] đầu tiên được thành lập; những [[di chỉ khảo cổ ở Trung Quốc|di tích khảo cổ]] đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại [[di chỉ Bán Pha]] (半坡遗址), [[Tây An]].
 
== Những nguồn gốc đầu tiên của Trung Quốc ==
Trong thời gian từ năm 1927 đến năm 1937, tại [[Chu Khẩu Điếm]] phía tây nam [[Bắc Kinh]], các [[nhà khảo cổ]] Trung Quốc đã phát hiện được di tích người vượn Trung Quốc, còn gọi là [[người vượn Bắc Kinh]], với hài cốt đã hóa thạch và các di tích văn hóa còn tồn tại. Người vượn Trung Quốc là giống người nguyên thủy Trung Quốc sinh sống hàng 50 đến 60 vạn năm trước đây. Họ có thể chế tạo và sử dụng đồ đá đơn giản như [[rìu]], [[búa]], cũng biết dùng đồ xương của người xưa. Những nơi có người vượn Bắc Kinh sinh sống đã phát hiện được nhiều xương hóa thạch cùng các dụng cụ bằng đá, các nồi chảo đã có lửa đốt đun, chứng minh họ đã biết dùng lửa. Trong 2 năm 1922 và 1923 đã phát hiện được người [[Hà Sáo]] (河套) ở [[Nội Mông]], giống người này gần [[người hiện đại]] hơn, cách đây khoảng 20 vạn năm. Trong 2 năm 1933 và 1934 đã phát hiện được [[người Sơn Đỉnh Động]] (山顶洞人) ở Chu Khẩu Điếm. Giống người này đã dùng nhiều đồ đạc chế tạo bằng xương, đồ đá ít. [[Xã hội nguyên thủy]] thành lập các công xã không có bóc lột, không có [[giai cấp]], cuộc sống lạc hậu, mông muội.
[[Tập tin:Territories of Dynasties in China.gif|330px|nhỏ|Bản đồ vùng lãnh thổ Trungchiếm Quốcđóng qua các triều đại khác nhau.]]
 
=== Những nền vănVăn minh đầucổ tiênđạiTrungBình nguyên Hoa QuốcBắc ===
Vào khoảng năm 5.0005000 TCN, các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần lãnh thổ phía đông Trung Quốc hiện nay, và đã có những làng nông nghiệpcày từ đồng bằng [[Vị Hà|sông Vị]] chạy về phía đông, song song với sông [[Hoàng Hà]], bắt nguồn từ [[dãy núi Côn Lôn]] chảy về hướng vùng hoàng thổ nơi có cánh rừng trụi lá ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Ở đó con người có rừng và có nước để trồng [[kê]], khoảng năm 5500 TCN họ săn [[Họ Hươu nai|hươu]], [[nai]] và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn. Họ thuần hóa chó, lợn và gà. Họ đào đất để xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng đất sét hay rạ, nhiều ngôi nhà ngầm như vậy tạo thành một làng. Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi. Họ cũng biết chế tạo đồ gốm có trang trí. Một số học giả còn khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy đã xuất hiện ở Trung Quốc ngay từ năm 3.000 TCN.<ref>{{chú thích báo|url=http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-china-23257700|title=China axes 'show ancient writing'|publisher=BBC|date=ngày 11 tháng 7 năm 2013|accessdate=ngày 11 tháng 7 năm 2013}}</ref>
::''Xem thêm: [[Danh sách các nền văn hóa thời đại đồ đá mới Trung Quốc]]''
[[Tập tin:Territories of Dynasties in China.gif|330px|nhỏ|Bản đồ vùng lãnh thổ Trung Quốc qua các triều đại khác nhau.]]
[[Hình:PeiligangCulture-RedPotWithTwoEars-ShanghaiMuseum-May27-08.jpg|nhỏ|phải|Một chiếc bình gốm đỏ với hai cán hình "tai", thuộc [[Văn hóa Bùi Lý Cương]], 6.000 - 5.200 TCN]]
[[Tập tin:CMOC Treasures of Ancient China exhibit - black pottery cauldron.jpg|nhỏ|Đồ gốm đen thuộc văn hóa Hà Mỗ Độ]]
Những mảnh đồ gốm có niên đại sớm nhất trên thế giới đã được tìm thấy tại Di chỉ [[Tiên Nhân Động]], cho thấy người Trung Quốc đã biết làm [[đồ gốm]] từ ít nhất là khoảng 20.000 đến 19.000 năm trước, vào cuối [[Thời kỳ băng hà cuối cùng]], chúng được dùng để đựng thực phẩm và nấu ăn<ref>{{cite news|url=http://content.usatoday.com/communities/ondeadline/post/2012/06/pottery-found-in-from-china-cave-confirmed-as-worlds-oldest/1#.UDiyGtZlRv0|title=Pottery found in China cave confirmed as world's oldest|author=Stanglin, Douglas|newspaper=[[USA Today]]|date=2012-06-29}}</ref><ref name=Xianrendong>{{cite journal|title=Early Pottery at 20,000 Years Ago in Xianrendong Cave, China|journal=[[Science (journal)|Science]]|date=June 29, 2012|volume=336|issue=6089|pages=1696–1700|doi=10.1126/science.1218643|bibcode = 2012Sci...336.1696W|pmid=22745428|last1=Wu|first1=X|last2=Zhang|first2=C|last3=Goldberg|first3=P|last4=Cohen|first4=D|last5=Pan|first5=Y|last6=Arpin|first6=T|last7=Bar-Yosef|first7=O}}</ref> Các phát hiện tại [[Di chỉ Nam Trang Đầu]] cho thấy người Trung Quốc đã biết thuần hóa [[chó]] từ khoảng 12.000 năm trước.
 
Tình trạng lụt lội của [[Hoàng Hà]] tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vực dọc [[Trường Giang]] về hướng nam. Dọc theo Trường Giang, qua lòng chảo [[Hồ Bắc]] và ở đồng bằng ven biển về hướng [[vịnh Hàng Châu]], việc trồng trọt cũng đã phát triển, nhưng người dân sống gần Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tắm mùa màng, và có lẽ điều này đã kích thích một nỗ lực tổ chức tốt hơn. Ở bất kỳ mức độ nào, đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã trở thành vùng phát triển nền văn minh sớmlớn nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất.
Các nghiên cứu gần đây đã xác định quê hương của [[văn minh lúa nước]] là vùng đồng bằng sông [[Dương Tử]] (Trung Quốc), nơi [[lúa nước]] được thuần hóa lần đầu tiên trên thế giới<ref name="Normile">{{cite journal|last=Normile|first=Dennis|year=1997|title=Yangtze seen as earliest rice site|journal=Science|volume=275|issue=5298|pages=309–310|doi=10.1126/science.275.5298.309|s2cid=140691699}}</ref><ref name="Vaughanetal2008">{{cite journal|last1=Vaughan|first1=DA|last2=Lu|first2=B|last3=Tomooka|first3=N|year=2008|url=https://www.researchgate.net/publication/222526251|title=The evolving story of rice evolution|journal=Plant Science|volume=174|issue=4|pages=394–408|doi=10.1016/j.plantsci.2008.01.016}}</ref><ref name=harris>{{cite book|author=Harris, David R.|title=The Origins and Spread of Agriculture and Pastoralism in Eurasia|publisher=Psychology Press|year=1996|isbn=978-1-85728-538-3|page=565}}</ref><ref name="Zhang2012">{{cite journal |last1=Zhang |first1=Jianping |last2=Lu |first2=Houyuan |last3=Gu |first3=Wanfa |last4=Wu |first4=Naiqin |last5=Zhou |first5=Kunshu |last6=Hu |first6=Yayi |last7=Xin |first7=Yingjun |last8=Wang |first8=Can |last9=Kashkush |first9=Khalil |title=Early Mixed Farming of Millet and Rice 7800 Years Ago in the Middle Yellow River Region, China |journal=PLOS ONE |date=December 17, 2012 |volume=7 |issue=12 |pages=e52146 |doi=10.1371/journal.pone.0052146|pmid=23284907 |pmc=3524165 |bibcode=2012PLoSO...752146Z }}</ref> Nghiên cứu di truyền vào năm 2011 cho thấy rằng tất cả các dạng lúa nước châu Á, gồm cả indica (lúa Ấn Độ) và japonica (lúa Nhật Bản), đều phát sinh từ một sự kiện thuần hóa duy nhất đã xảy ra cách đây khoảng 13.500 đến 8.200 năm ở miền Nam Trung Quốc, từ giống lúa hoang [[Oryza rufipogon]]<ref name=pnas1>{{Cite journal|last1=Molina|first1=J.|last2=Sikora|first2=M.|last3=Garud|first3=N.|last4=Flowers|first4=J. M.|last5=Rubinstein|first5=S.|last6=Reynolds|first6=A.|last7=Huang|first7=P.|last8=Jackson|first8=S.|last9=Schaal|first9=B. A.|last10=Bustamante|doi=10.1073/pnas.1104686108|first10=C. D.|last11=Boyko|first11=A. R.|last12=Purugganan|first12=M. D.|title=Molecular evidence for a single evolutionary origin of domesticated rice|journal=Proceedings of the National Academy of Sciences|volume=108|issue=20|pages=8351–6|year=2011|pmid=21536870|pmc=3101000|bibcode=2011PNAS..108.8351M}}</ref>. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông [[Trường Giang|Dương Tử]] (bắc tỉnh [[Giang Tây]]).
 
Nền văn hóa tiền sử hình thành nên Trung Quốc là [[Văn hóa Hồng Sơn]] ở tại Hoa Bắc.
Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy [[kê]] tại Trung Quốc được [[xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ]] vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới [[Văn hóa Bùi Lý Cương]] (裴李崗文化) ở huyện [[Tân Trịnh, Trịnh Châu|Tân Trịnh]], tỉnh [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]]. Cùng với [[nông nghiệp]], [[dân cư]] ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối [[thực phẩm|lương thực]] và đủ cung cấp cho những người [[thợ thủ công]] cũng như [[quan lại]]. Cuối [[thời đại đồ đá|thời kỳ đồ đá mới]], vùng châu thổ [[Hoàng Hà]] bắt đầu trở thành một [[trung tâm văn hóa]], nơi những [[làng xã]] đầu tiên được thành lập; những [[di chỉ khảo cổ ở Trung Quốc|di tích khảo cổ]] đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại [[di chỉ Bán Pha]] (半坡遗址), [[Tây An]].
 
Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục. Và các vị vua chinh phục đã bắt đầu nổi lên ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng như tình trạng ở phía tây [[châu Á]].Xã hội có [[giai cấp]] đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã được miêu tả là thuộc về [[nhà Hạ]] – giai đoạn cai trị của họ được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 2200 TCN.
Tình trạng lụt lội của [[Hoàng Hà]] tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vực dọc [[Trường Giang]] về hướng nam. Dọc theo Trường Giang, qua lòng chảo [[Hồ Bắc]] và ở đồng bằng ven biển về hướng [[vịnh Hàng Châu]], việc trồng trọt cũng đã phát triển, nhưng người dân sống gần Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tắm mùa màng, và có lẽ điều này đã kích thích một nỗ lực tổ chức tốt hơn. Ở bất kỳ mức độ nào, đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã trở thành vùng phát triển nền văn minh sớm nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất.
 
=== Xã hội nguyên thủy ===
Vào khoảng năm 5.000 TCN, các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần lãnh thổ phía đông Trung Quốc hiện nay, và đã có những làng nông nghiệp từ đồng bằng [[Vị Hà|sông Vị]] chạy về phía đông, song song với sông [[Hoàng Hà]], bắt nguồn từ [[dãy núi Côn Lôn]] chảy về hướng vùng hoàng thổ nơi có cánh rừng trụi lá ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Ở đó con người có rừng và có nước để trồng [[kê]], họ săn [[Họ Hươu nai|hươu]], [[nai]] và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn. Họ thuần hóa chó, lợn và gà. Họ đào đất để xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng đất sét hay rạ, nhiều ngôi nhà ngầm như vậy tạo thành một làng. Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi. Họ cũng biết chế tạo đồ gốm có trang trí. Một số học giả còn khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy đã xuất hiện ở Trung Quốc ngay từ năm 3.000 TCN.<ref>{{chú thích báo|url=http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-china-23257700|title=China axes 'show ancient writing'|publisher=BBC|date=ngày 11 tháng 7 năm 2013|accessdate=ngày 11 tháng 7 năm 2013}}</ref>
Trong thời gian từ năm 1927 đến năm 1937, tại [[Chu Khẩu Điếm]] phía tây nam [[Bắc Kinh]], các [[nhà khảo cổ]] Trung Quốc đã phát hiện được di tích người vượn Trung Quốc, còn gọi là [[người vượn Bắc Kinh]], với hài cốt đã hóa thạch và các di tích văn hóa còn tồn tại. Người vượn Trung Quốc là giống người nguyên thủy Trung Quốc sinh sống hàng 50 đến 60 vạn năm trước đây. Họ có thể chế tạo và sử dụng đồ đá đơn giản như [[rìu]], [[búa]], cũng biết dùng đồ xương của người xưa. Những nơi có người vượn Bắc Kinh sinh sống đã phát hiện được nhiều xương hóa thạch cùng các dụng cụ bằng đá, các nồi chảo đã có lửa đốt đun, chứng minh họ đã biết dùng lửa. Trong 2 năm 1922 và 1923 đã phát hiện được người [[Hà Sáo]] (河套) ở [[Nội Mông]], giống người này gần [[người hiện đại]] hơn, cách đây khoảng 20 vạn năm. Trong 2 năm 1933 và 1934 đã phát hiện được [[người Sơn Đỉnh Động]] (山顶洞人) ở Chu Khẩu Điếm. Giống người này đã dùng nhiều đồ đạc chế tạo bằng xương, đồ đá ít. [[Xã hội nguyên thủy]] thành lập các công xã không có bóc lột, không có [[giai cấp]], cuộc sống lạc hậu, mông muội. Sau đó tới thời kỳ đồ đá, Trung Quốc được khai sáng bởi [[văn hoá Ngưỡng Thiều]].
Trên cơ sở văn minh nông nghiệp, các nền văn hóa dần phát sinh ở các địa phương khác nhau dọc theo 2 dòng sông lớn là [[Hoàng Hà]] và [[Trường Giang]], các nền văn hóa này có ảnh hưởng qua lại hoặc tiếp nối nhau:
*Lưu vực sông Hoàng Hà: [[Văn hóa Từ Sơn]] (~8.000 - 5.500 TCN), [[Văn hóa Bùi Lý Cương]] (~7.000 - 5.000 TCN), [[Văn hóa Lão Quan Đài]] (~5.800 - 5.000 TCN), [[Văn hóa Hậu Lý]] (~6.500 - 5.500 TCN), [[Văn hóa Hưng Long Oa]] (6.200-5.400 TCN), [[Văn hóa Triệu Bảo Câu]] (~5.400 - 4.500 TCN), [[Văn hóa Bắc Tân]] (~5.300 - 4.100 TCN), [[Văn hóa Ngưỡng Thiều]] (~5.000 - 3.000 TCN), [[Văn hóa Hồng Sơn]] (~4.700 - 2.900 TCN), [[Văn hóa Đại Vấn Khẩu]] (~4.100 - 2.600 TCN), [[Văn hóa Mã Gia Diêu]] (~3.300 - 2.100 TCN), [[Văn hóa Long Sơn]] (~2.600 - 2.000 TCN), [[Văn hóa Nhị Lý Đầu]] (~2.000 - 1.600 TCN).
*Lưu vực sông Trường Giang: [[Văn hóa Bành Đầu Sơn]] (7.500 - 6.100 TCN), [[Văn hóa Hà Mỗ Độ]] (~5.000 - 4.500 TCN), [[Văn hóa Mã Gia Banh]] (~5.000 - 3.000 TCN), [[Văn hóa Đại Khê]] (~4.500 - 3.000 TCN), [[Văn hóa Lương Chử]] (~3.400 - 2.250 TCN), [[Văn hóa Khuất Gia Lĩnh]] (~3.000 - 2.600 TCN), [[Văn hóa Thạch Gia Hà]] (2.500-2.000 TCN), [[Văn hóa Bảo Đôn]] (~2.500 - 1.750 TCN).
 
Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục. Và các vị vua chinh phục đã bắt đầu nổi lên ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng như tình trạng ở phía tây [[châu Á]].
 
Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải cho đời sau bằng [[truyền thuyết]]. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kỳ [[Tam Hoàng Ngũ Đế]], cách đây khoảng 5.000 - 4.200 năm. Theo các nhà nghiên cứu, các truyền thuyết này phản ánh thời kỳ [[công xã nguyên thuỷ]] đang sắp tan rã, liên minh các bộ lạc đang dần trở thành triều đình nắm quyền lực cai trị dân chúng. Vào khoảng 3.000 TCN, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã hoàn toàn, xã hội chiếm hữu nô lệ với các giai cấp, triều đại bắt đầu hình thành.
 
Trong dự án ''"Nghiên cứu tổng hợp về nguồn gốc và sự phát triển trong thời kỳ đầu của nền văn minh Trung Hoa"'' (dự án khảo cổ khổng lồ cấp quốc gia, huy động gần 70 cơ quan nghiên cứu, đại học và cơ quan khảo cổ địa phương của Trung Quốc, triển khai từ năm 2001), các nhà khảo cổ đã điều tra và khai quật quy mô lớn ở 4 di chỉ mang tính đô thị có lịch sử 3.500 - 5.500 năm gồm: [[Văn hóa Lương Chử|Di chỉ Lương Chử]] ở Dư Hàng - Chiết Giang, [[Văn hóa Long Sơn|Di chỉ Đào Tự]] ở Tương Phần - Sơn Tây, [[Văn hóa Long Sơn|Di chỉ Thạch Mão]] ở Thần Mộc - Thiểm Tây, [[Văn hóa Nhị Lý Đầu|Di chỉ Nhị Lý Đầu]] ở Yển Sư - Hà Nam, cũng như hơn chục thôn làng trên toàn quốc. Dự án đã phát hiện các chứng cứ cụ thể về nền văn minh Trung Hoa có lịch sử 5.000 năm, bao gồm phát hiện di tích hệ thống [[đập nước]] cổ nhất thế giới (niên đại 5.100 năm), kiến trúc cung đình cổ nhất Trung Quốc ở hạ du sông Trường Giang (niên đại 5.000 năm), phát hiện chữ viết xuất hiện sớm nhất Trung Quốc, những đồ dùng [[Văn hóa Mã Gia Diêu|làm bằng đồng đỏ sớm nhất Trung Quốc]] (niên đại 4.900 năm), đài quan sát thiên văn sớm nhất thế giới (niên đại 4.100 năm) ở khu vực trung du sông Hoàng Hà. Dự án chứng thực đặc trưng tổng thể của nền văn minh Trung Hoa là ''"đa nguyên, nhất thể, thu gom tất cả trong giao lưu, tương tác lâu dài, cuối cùng hội nhập, ngưng tụ hình thành cốt lõi văn minh với [[Văn hóa Nhị Lý Đầu]] là đại diện, mở ra [[Tam Đại (lịch sử Trung Quốc)|văn minh ba triều đại Hạ, Thương và Chu]]"''
 
Trên thế giới, ra đời cùng thời với [[văn minh Trung Hoa]] còn có 3 nền văn minh khác là văn minh [[Ai Cập cổ đại]], [[văn minh Lưỡng Hà]] và [[Văn minh lưu vực sông Ấn]]. Tuy nhiên, cả ba nền văn minh đó đều đã bị diệt vong; các phong tục, tôn giáo và chữ viết cũng theo đó mà thất truyền từ lâu (Văn minh lưu vực sông Ấn sụp đổ vào khoảng năm 1.800 TCN, văn minh Ai Cập và Lưỡng Hà bị diệt vong vào khoảng thế kỷ 1 TCN). Chỉ có văn minh Trung Hoa là vẫn tồn tại, phát triển và được kế tục cho tới ngày nay. Sau này, nhiều học giả phương Tây thời cận đại khi tìm hiểu về văn minh Trung Hoa đã phải kinh ngạc về sự tồn tại lâu dài của nó. [[Voltaire]] cho rằng: ''“Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên 4.000 năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu..."'' Học giả Keyserling thì kết luận: ''“Chính ở Trung Hoa thời thượng cổ người ta đã tạo ra được những mẫu mực nhân loại thông thường hoàn bị nhất… Trung Quốc đã tạo dựng được một nền văn hóa cao nhất từ trước đến nay.”''<ref>[https://sachsuthattphcm.com.vn/sach/van-minh-trung-hoa/ Văn minh Trung Hoa]</ref> Khởi điểm văn hóa là nền [[Văn hóa Hồng Sơn]] ở phương Bắc đã manh nha cho cả Trung Hoa và Triều Tiên phát triển...
 
== Vương quốc ==
=== Nhà Hạ ===
[[Tập tin:Region of xia.svg|nhỏ|Trung Quốc thời nhà Hạ]]
{{Bài chi tiếtchính|Nhà Hạ}}
 
Xã hội có [[giai cấp]] đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã được miêu tả là thuộc về [[nhà Hạ]] – giai đoạn cai trị của họ được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 2.200 TCN.
 
Theo [[truyền thuyết]], trong thời gian [[Hạ Vũ]] trị vì, Vũ đã phát minh ra lối tát nước vào ruộng, lại bắt sống được một số người dân tộc [[Man]] về làm [[nô lệ]]. Vũ bắt đầu xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người trong dòng họ. Của cải của Vũ, để lại cho con là [[Hạ Khải]] thừa hưởng. Khải lên ngôi, tình thế chưa ổn định, phải lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh [[Sơn Tây (Trung Quốc)|Sơn Tây]] ngày nay) để đóng đô. Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh phá lẫn nhau, luôn gây ra các cuộc chiến tranh chinh phạt nhỏ. Kinh tế xã hội lúc bấy giờ đã phát triển khá tiến bộ. Phương pháp làm lịch cũng bắt đầu xuất hiện. Từ khi lên ngôi, Khải cho đặt tên triều đại là Hạ. Theo [[truyền thuyết]], đời Hạ đã có chín cái vạc đồng do Khải cho đúc. Như vậy, có thể thời kỳ này đã có đồng và nghề đúc đồng.
Những ghi chép của [[Tư Mã Thiên]] về thời gian thành lập [[Nhà Hạ]] là từ khoảng 4.000 năm trước, nhưng điều này không thể được chứng thực. Một số [[Khảo cổ học|nhà khảo cổ học]] cho rằng nhà Hạ có liên quan tới di vật khai quật được tại [[văn hóa Nhị Lý Đầu|Nhị Lý Đầu]] (二里头) ở trung tâm tỉnh [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]], một bức tượng đồng niên đại từ khoảng năm [[2000 TCN]]. Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được tìm thấy trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường nét đầu tiên của [[chữ Hán|chữ Trung Quốc]] hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không chấp nhận ý kiến này. Bằng chứng về sự tồn tại của [[Nhà Hạ]] vẫn cần phải được hỗ trợ thêm nữa qua các cuộc khảo cổ. Vì không có những văn bản ghi chép rõ ràng như các văn bản trên các loại xương hay mai rùa dùng để bói của nhà Thương hay những ghi chép trên vại đồng của [[nhà Chu]] nên thời đại [[nhà Hạ]] vẫn còn chưa được biết đến kỹ lưỡng.
 
[[Nhà Hạ]] truyền được 17 đời [[vua]], từ [[Hạ Vũ]] đến [[Hạ Kiệt]] được hơn 400 năm thì bị diệt về tay Thành Thang [[nhà Thương]].
<ref>{{Chú thích web
| url = http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter14/chapter140101.htm
 
=== Nhà Thương ===
{{Bài chi tiếtchính|Nhà Thương}}
[[Tập tin:Liu Ding.jpg|phải|nhỏ|150px|Một chiếc vại bằng [[đồng]] cuối thời Thương.]]
 
Từ thời [[Nhà Thương]] có lẽ ở [[thế kỷ 13 TCN]], và chúng là những đoạn văn khắc dùng để bói toán trên xương thú hoặc mai rùa—được gọi là ''[[giáp cốt văn]]'' (甲骨文). Nhờ có giáp cốt văn mà ngày nay các nhà khảo cổ có thể kiểm chứng được các sự kiện chính trị, tôn giáo diễn ra vào thời nhà Thương. Những hiện vật khảo cổ cho thấy bằng chứng xác thực về sự tồn tại của [[nhà Thương]], [[1600 TCN]]–[[1046 TCN]] và nhà Thương được chia làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất, từ đầu thời nhà Thương (1600–[[1300 TCN]]) với các bằng chứng tại [[Nhị Lý Cương]] (二里崗), [[Trịnh Châu]] và [[Thương Thành]]. Khuynh hướng thứ hai từ cuối thời nhà Thương hay giai đoạn Ân (殷), gồm rất nhiều văn bản giáp cốt. [[An Dương (địa cấp thị)|An Dương]].
 
Các nhà sử học Trung Quốc sống ở cuối những giai đoạn này đã làm quen với khái niệm về những triều đại nối tiếp nhau, nhưng tình hình thực tế chính trị ở giai đoạn đầu trong lịch sử Trung Quốc thì phức tạp và rắc rối hơn nhiều. Vì thế, như một số nhà sử học Trung Quốc đề xuất, nhà Hạ và nhà Thương có lẽ chỉ các thực thể tồn tại đồng thời, giống như nhà Chu ở giai đoạn sớm (triều đại kế tiếp nhà Thương), đã được chứng minh là đã cùng tồn tại đồng thời với nhà Thương.
| accessdate = 2018-02-22
}}</ref>
 
Thời nhà Thương, đồ đồng đã được dùng phổ biến, đạt trình độ chế tác cao. Nhà Thương thường phái quân đội đi chiến đấu chống lại những bộ tộc lân cận. Những lăng mộ vua nhà Thương được khai quật cho thấy họ có những đội quân từ 3.000 đến 5.000 binh lính. Trong cuộc chiến chống [[Khương Phương]], vua [[Vũ Đinh]] (cai trị vào khoảng 1.200 TCN) đã huy động 13.000 quân, vào thời bấy giờ thì đó là một đội quân đại quy mô. Các đồ vật chôn theo nhà vua được tìm thấy là các đồ trang sức cá nhân, những chiếc giáo mũi đồng và những phần còn lại của những chiếc [[Cung (vũ khí)|cung]] và mũi [[tên (vũ khí)|tên]]. [[Ngựa]] và xe ngựa để chở lính ra trận cũng được [[chôn cất|chôn]] cùng với vua. Và khi vị vua chết, người đánh xe, chó, người hầu và những nhóm mười người cũng bị [[chôn cất|tuẫn táng]] cùng với vua.
 
Nhà Thương truyền được 30 đời vua, kéo dài khoảng 600 năm thì bị diệt về tay [[Chu Vũ Vương]] của [[nhà Chu]].
 
=== Nhà Chu ===
[[Tập tin:ZhouVase.JPG|nhỏ|phải|180px|Bình gốm Tây Chu với các mảnh khảm thủy tinh, thế kỷ thứ 4-3 TCN.]]
 
Tới cuối thế kỷ thứ 1112 trước Công nguyên, [[nhà Chu]] bắt đầu nổi lên ở châu thổ [[Hoàng Hà]], tiêu diệt nhà Thương. Có lẽ ban đầu nhà Chu đã bắt đầu thời kỳ cai trị của mình theo một hệ thống nửa phong kiến. Vị vua nhà Chu là [[Chu Vũ vương|Vũ Vương]], với sự hỗ trợ của người em là [[Chu Công Đán|Chu Công]] trong vai trò nhiếp chính đã đánh bại nhà Thương tại [[trận Mục Dã]]. Lúc ấy vị vua nhà Chu đã viện dẫn khái niệm [[Thiên mệnh]] để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một khái niệm về sau này sẽ có ảnh hưởng trên mọi triều đại kế tiếp. Ban đầu nhà Chu đóng đô ở vùng [[Tây An]] ngày nay, gần sông Hoàng Hà, nhưng họ đã thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở rộng vào châu thổ [[trường Giang|sông Dương Tử]]. Đây là lần đầu tiên trong số nhiều lần di dân từ phía bắc xuống phía nam trong lịch sử Trung Quốc.
 
==== Thời Xuân Thu ====
Nhà Chu đã hoàn thiện các nền tảng chính của [[Văn hóa Trung Quốc]] thông qua các chính sách Tỉnh Điền Chế, Tông pháp chế, Quốc dã chế và Lễ nhạc. Để tăng tính chính đáng của quyền lực triều đình, nhà Chu lập ra một hệ thống quan niệm mới gọi là "[[Thiên mệnh]]", còn nhà vua chính là [[Thiên tử]], đây là quan niệm sẽ được duy trì suốt 3.000 năm phong kiến Trung Hoa. Việc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc vào đầu nhà Chu. Nhà Chu có 37 vua kéo dài khoảng 800 năm, là triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.
{{Bài chi tiếtchính|Xuân Thu}}
 
=== Thời Xuân Thu ===
{{Bài chi tiết|Xuân Thu}}
 
Từ [[thế kỷ 8 TCN]], trước sức ép của các bộ tộc phía tây thường xuyên tấn công và cướp bóc, nhà Chu đã bỏ kinh đô phía tây để chuyển sang phía đông ở châu thổ [[Hoàng Hà]]. Nhà Chu đã nhờ cậy các vương hầu của mình bảo vệ trước sự tấn công của các bộ lạc, nhân cơ hội nhà Chu suy yếu các vương hầu đã lần lượt tiêu diệt các đối thủ nhỏ hơn. Cuối cùng, còn lại vài chục nước, trong đó các [[chư hầu nhà Chu|chư hầu]] mạnh nhất lần lượt nổi lên tranh ngôi bá chủ Trung Quốc là [[Tề (nước)|Tề]], [[Tấn (nước)|Tấn]], [[Sở (nước)|Sở]], [[Tần (nước)|Tần]], [[Tống (nước)|Tống]], [[Ngô (nước)|Ngô]], [[Việt (nước)|Việt]]. Trên danh nghĩa [[nhà Chu]] nắm thiên mệnh, nhưng thực sự quyền lực nằm trong tay các chư hầu.
}}</ref>
 
==== Thời Chiến quốc ====
Nhà tư tưởng, nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc – [[Khổng Tử]], cũng sinh ra trong thời đại này. Khổng Tử là người đầu tiên mở trường tư thục để dạy trẻ em và thanh niên bất kỳ thuộc giai cấp nào, nhằm đào tạo ra những thanh niên ưu tú thông hiểu [[văn hóa]] - [[đạo đức]] để trợ giúp nhân dân và triều đình. Nhờ có Khổng Tử mở đường, chế độ quý tộc huyết thống dần chuyển qua quý tộc trí thức, sớm hơn 2.000 năm trước phương Tây, khiến các học giả phương Tây rất ngạc nhiên và thán phục, khen [[văn hóa Trung Quốc|văn minh Trung Hoa]] là vô cùng độc sáng. Ngoài ra còn có [[Lão Tử]], [[Trang Tử]], [[Liệt Tử]] là tiểu biểu của Đạo Giáo; [[Hàn Phi]] là tiêu biểu của Pháp Gia; [[Mặc Tử]] là tiêu biểu của Mặc Gia. Họ là những người đề ra các trường phái tư tưởng ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa Trung Quốc sau này.
{{Bài chi tiếtchính|Chiến Quốc}}
 
=== Thời Chiến quốc ===
{{Bài chi tiết|Chiến Quốc}}
 
Thời đại này xảy ra vì sự cân bằng mong manh giữa các nước chư hầu biến thành hỗn loạn trong một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của [[nhà Chu]]. Các liên minh dễ thay đổi và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và sáp nhập các nước nhỏ hơn. Bắt đầu từ [[thế kỷ 4 TCN]], chỉ tám hay chín nước lớn còn sót lại. Dân số Trung Quốc đã tăng mạnh ở giai đoạn Xuân Thu; công cụ bằng sắt và ảnh hưởng của nó đến nông nghiệp đã làm tăng mạnh dân số (vào thế kỷ thứ 4 TCN, Trung Quốc là vùng đông dân nhất thế giới, không có thời điểm nào trong lịch sử mà điều này không chính xác). Chiến tranh đã trở thành một công việc lớn trong thời đại Xuân Thu, quân đội nhỏ và dưới sự chỉ đạo của tầng lớp quý tộc không còn nữa. Chúng đã thành những đội quân to lớn và gồm những người [[lính chuyên nghiệp]]. Một triều đình gồm tầng lớp chuyên nghiệp ngày càng phát triển, một tầng lớp quý tộc tự gọi mình bằng cái tên "quân tử" hay "những người bên trên". Cuối cùng, kẻ thống nhất Trung Quốc là [[nhà Tần]], một dân tộc ở miền tây bắc Trung Quốc ngày nay.<ref name="vietnamese.cri.cn"/>
== Đế quốc ==
=== Nhà Tần ===
{{Bài chi tiếtchính|Nhà Tần}}
[[Tập tin:Qinshihuang.jpg|nhỏ|phải|150px|Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế được coi là người đã thiết lập đế chế Trung Quốc.]]
Các nhà sử học thường coi thời kỳ từ khi bắt đầu [[nhà Tần]] tới khi kết thúc [[nhà Thanh]] là giai đoạn Đế quốc Trung Quốc. Dù thời gian thống nhất dưới sự cai trị của [[Tần Thủy Hoàng|Tần Thủy Hoàng Đế]] chỉ kéo dài mười lăm năm, ông đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn để tạo nên cơ sở cho [[nhà Hán]] sau này và thống nhất chúng dưới một chính phủ [[Pháp gia]] tập trung trung ương chặt chẽ, với thủ đô tại Hàm Dương (咸陽) ([[Tây An]] hiện nay). Học thuyết của Pháp gia đã khiến Tần đặt trọng tâm trên sự tôn trọng triệt để một hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Triết học này, trong khi rất hữu dụng để mở rộng đế chế bằng quân sự, thì lại cho thấy không thể hoạt động tốt ở thời bình. Nhà Tần dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên chống đối, thậm chí gồm cả việc [[Đốt sách chôn nho]]. Điều này khiến cho nhà Hán kế tục sau này phải đưa thêm vào hệ thống chính phủ đó những trường phái cai trị có tính ôn hòa hơn.
 
=== Nhà Hán ===
{{Bài chi tiếtchính|Nhà Hán}}
 
==== Tây Hán ====
Vũ Đế thay đổi luật [[thừa kế]]. Thay vì việc đất đai gia đình rơi vào tay người con trai cả, ông trao cho mọi người con trong gia đình phần chia bằng nhau đối với đất đai của ông cha, điều này phá vỡ các khoảnh đất lớn thành cách mảnh nhỏ. Và vào năm 138 TCN, Vũ Đế tiến hành cuộc thám hiểm được biết đến lần đầu tiên của Trung Quốc, [[Trương Khiên]] đến Tây Á, phía tây của [[Bactria|Đại Hạ]] để thiết lập quan hệ với [[đế quốc Quý Sương|Quý Sương]] (Kushan) ([[Nguyệt Chi]] Yuzhi).
 
===== Khổng giáo trở thành hệ tư tưởng chính thốngthức =====
Trong hai mươi năm cai trị, Vũ đế biến Khổng giáo thành triết lý chính trị chính thức của Trung Quốc. Khổng giáo trở thành thống trị trong giới quan lại dân sự trong khi các đối thủ Pháp gia vẫn giữ được vị trí của mình. Các cuộc thi cử được tổ chức để chọn ra 130.000 hoặc còn hơn thế nhân viên dân sự, họ phải trải qua cuộc thi về sự hiểu biết lý thuyết Khổng giáo, hiểu biết về chữ viết cổ và các nguyên tắc thứ bậc xã hội hơn là sự thành thạo [[công nghệ|kỹ thuật]].
Về mặt lý thuyết, các cuộc thi đó cho phép mọi người dân tham dự, nhưng trên thực tế chỉ những người có đủ sự tôn trọng, trong đó không bao gồm [[thợ thủ công]], [[nhà buôn]] và các tầng lớp bên dưới quý tộc nhỏ tham dự - không nghi ngờ rằng nhiều người trong số họ có khả năng để phụng sự Trung Quốc.
 
==== Đông Hán ====
{{Bài chi tiếtchính|Đông Hán}}
 
==== Nhà Hán phục hồi và thịnh vượng ====
[[Tập tin:HanHorse.jpg|nhỏ|trái|200px|Tượng đầu ngựa thời Đông Hán, thế kỷ 2.]]
 
===== Sự thịnh vượng quay trở lại =====
[[Tập tin:Guangwu.jpg||nhỏ|phải|200px|Quang Vũ Đế.]]
Năm 57, Lưu Tú chết. Ông được tôn [[thụy hiệu]] là Quang Vũ đế, và con trai ông là [[Hán Minh Đế|Minh Đế]] lên nối ngôi, cai trị trong vòng 18 năm, trong khi kinh tế Trung Quốc tiếp tục hồi phục. Thời cai trị của Minh Đế được coi là tàn bạo.{{fact|date=ngày 7 tháng 1 năm 2013}} Ông tự đồng hóa mình với Đạo giáo và thần học Khổng giáo, ông tự cho mình là một nhà tiên tri.{{fact|date=ngày 7 tháng 1 năm 2013}} Ông ủng hộ sự phát triển của cái mà hồi bấy giờ cho là giáo dục, và ông thuyết giảng về lịch sử tại trường đại học mới của đế quốc ở Lạc Dương - một buổi thuyết giảng có hàng ngàn người tham gia. Chương Đế nối ngôi Minh Đế và cai trị từ năm 75 đến 88. Hòa Đế tiếp tục nối ngôi từ 88 đến 106. Dù [[Hán Hòa Đế|Hòa Đế]] là một người tầm thường, Trung Quốc vẫn tiếp tục được hưởng sự thịnh vượng ngày càng tăng. Đại học ở Lạc Dương có đến 240 căn nhà và 30.000 sinh viên. Thương mại của Trung Quốc đạt tới tầm cao mới. Tơ từ Trung Quốc đã trở nên quen thuộc với những người ở tận vùng [[Đế chế Roma]] – lúc ấy cũng đang ở thời vàng son. Và đổi lại, Trung Quốc có được kính, ngọc bích, ngựa, đá quý, mai rùa và vải vóc.
 
Việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng lại làm xuất hiện cố gắng mở rộng về phía tây. Một vị tướng quân đội Trung Quốc, [[Ban Siêu]], dẫn một đội quân sáu mươi nghìn người không hề bị ngăn cản đến tận bờ phía đông [[biển Caspi]]. Ông muốn gửi sứ thần đến tận Roma, nhưng người [[Đế quốc Parthia]] sợ sẽ có một liên minh giữa Trung Quốc và La Mã nên đã khuyên Ban Siêu từ bỏ ý định với những câu chuyện thêu dệt về sự nguy hiểm, và ông đã quay lại.
Tuy nhiên, dọc sông Dương Tử gần Tứ Xuyên, một nhánh thuộc Đạo giáo vẫn tồn tại với quân đội riêng đã lập nên một nhà nước thần quyền. Người sáng lập là [[Trương Lỗ]], hậu duệ của Trương Lăng. Giống như Trương Lăng, ông ta thực hiện những thứ mà ngày nay chúng ta gọi là chữa bệnh bằng cách thần bí, và ông ta thuyết giảng những thông điệp của Trương Lăng về cách có một tinh thần và thể chất khoẻ mạnh, tuyên bố rằng các bệnh tật là sự trừng phạt cho những hành vi xấu xa và rằng bệnh tật có thể được chữa trị bằng sự ăn năn và sự thú tội ở các buổi lễ. Cộng đồng của Trương Lỗ có những bữa ăn tập thể, "thân mật", và giống như Trương Lăng, ông ta có hệ thống phúc lợi cho cộng đồng của mình và tích trữ lương thực và thịt. Ông thúc đẩy sự công bằng. Cộng đồng của ông cho những kẻ lang thang không nhà một chỗ trú ngụ và bữa ăn, và họ tỏ ra khoan dung đối với những kẻ phạm tội.
 
Một người theo Đạo giáo khác, Trương Tu lập ra một nhà nước độc lập khác ở bên cạnh. Dù họ có chung sự sùng bái đối với Đạo giáo, nhưng hai cộng đồng [[Trương Lỗ]] và Trương Tu lại đánh lẫn nhau. Trương Lỗ, như kể lại, đã giết được Trương Tu. Ngay sau đó, Trương Lỗ có một đối thủ còn kinh khủng hơn, Tào Tháo. Với quân đội của mình, Tào Tháo chiếm đất đai của Trương Lỗ. Trương Lỗ đầu hàng Tào Tháo và được ban thưởng thái ấp. Lịch sử kể rằng Trương Lỗ chết một thời gian ngắn sau đó – năm 217. Và có truyền thuyết rằng 26 năm sau khi ông chết, nhiều người đã thấy ông bay lên trời. Truyền thuyết cũng nói rằng khi khai quật mộ ông vào năm 259, thân thể ông vẫn còn nguyên vẹn, có nghĩa là ông chỉ chết theo nghĩa ông đã tách khỏi thể xác và đã lên thiên đường.{{fact}}
 
=== Nhà Tấn ===
 
==== Loạn An - Sử (755 - 762) ====
Loạn an lộc sơn
 
==== '''Tạm trị lần 1 (762 - 820)''' ====
Từ sau loạn An - Sử, nhà Đường bắt đầu suy vi liên tục khi chứng kiến quyền lực của các tiết độ sứ địa phương ngày càng gia tăng, đồng thời quyền lực của thế lực hoạn quan nổi lên từ cuối thời Đường Huyền Tông bắt đầu thao túng triều đình và lấn át cả quyền quyết định của hoàng đế, khiến nhà vua phải tiến hành các chiến dịch để tiêu diệt các hoạn quan lộng quyền. Các vua Đường từ Túc Tông đến Hiến Tông hầu như đều là các hoàng đế có năng lực, tuy nhiên những căn bệnh của đế quốc đã bị loạn An - Sử làm cho trở nên trầm trọng khiến cho những nỗ lực của triều đình chỉ đủ sức duy trì được ngai vàng. Trong thời kỳ này, tiêu biểu là [[sự biến Phụng Thiên]] do các trấn nổi dậy làm loạn đã khiến [[Đường Đức Tông]] phải chạy khỏi kinh thành đến Phụng Thiên (783) và cuộc loạn chính của tập đoàn hoạn quan buộc [[Đường Thuận Tông]] phải thoái vị (806), cuộc Vĩnh Trinh duy tân do ông khởi xướng cũng bị dừng lại. Dù vậy những cố gắng của họ đã tạo ra một thời kỳ ổn định tương đối kéo dài 58 năm (762 - 820), mà đỉnh cao là Nguyên Hòa trung hưng dưới thời Đường Hiến Tông (805 - 820), đây là thời kỳ các tiết độ sứ quy thuận triều đình trước khi cát cứ trở lại sau khi Hiến Tông qua đời.
 
{{Toàn cảnh|Chinese_dynasties_timeline_vi.png|3000px|Thời gian biểu}}
 
== Một số khái niệm về giai đoạn lịch sử và các triều đại ==
== Thuật ngữ ==
Ngoài những giai đoạn loạn lạc được gọi tên chính thức trong và phân định rõ bằng niên biểu trong lịch sử như [[Xuân Thu]] - [[Chiến Quốc]], [[Ngũ Hồ thập lục quốc]], [[Ngũ Đại Thập Quốc|Ngũ đại Thập quốc]], trong lịch sử Trung Quốc còn có những cách gọi khái quát về các giai đoạn, các triều đại:
 

Trình đơn chuyển hướng